THỰC TRẠNG VIỆC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ VƯỜN CÂY CAO
SU ĐỂ CHUẨN BỊ ĐI VÀO CỔ PHẦN HÓA TẠI TỔNG CÔNG
TY CAO SU ĐỒNG NAI
2.1. Tổng quan về Tổng Công ty cao su Đồng Nai :
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển :
Tổng Công ty cao su (CTCS) Đồng Nai nguyên trước đây là Công ty cao su
Đồng Nai, là Công ty TNHH Một thành viên được thành lập theo Quyết định số
1279/QĐ – BNN – ĐMDN ngày 04/05/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn do Tập đoàn công nghiệp cao su làm chủ sở hữu, hoạt động theo mô hình Công ty
Mẹ - Công ty con kế thừa các ngành nghề kinh doanh của Công ty cao su Đồng Nai
trước đây theo hướng kinh doanh tổng hợp đa ngành nghề trong đó sản xuất kinh doanh
chính là trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến cao su thiên nhiên. Diện tích cao su hiện
đang quản lý hơn 37.000 ha, trong đó diện tích cao su đang khai thác 27.500 ha, sản
lượng khai thác hàng năm luôn ổn định ở mức 50.000 tấn.
Tổng CTCS Đồng Nai được thành lập vào ngày 02/06/1975, trên cơ sở tiếp quản
tài sản và lao động của 12 đồn điền cao su của Công ty tư bản Pháp bao gồm : Công ty
cao su Đông Dương (SIPH) : gồm 6 đồn điền : An Lộc, Dầu Giây, Ông Quế, Bình Ba,
Bình Lộc, Long Thành; Công ty cao su Đồng Nai (LCD) : gồm 3 đồn điền Trảng Bom,
Túc Trưng, Cây Gáo; Công ty cao su Xuân Lộc (SPHXL) : đồn điền Hàng Gòn; Công ty
cao su Đất Đỏ (Terre Rouge) : gồm 2 đồn điền Cẩm Mỹ và Bình Sơn. Diện tích cao su
12 đồn điền là 21.054 ha cao su, có 4 nhà máy chế biến cao su với công suất 10.500
tấn/năm.
Khi mới thành lập, về tổ chức Tổng công ty trực thuộc Tổng cục cao su Việt
Nam. Năm 1993 Tổng công ty đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế Tỉnh Đồng Nai
được cấp giấy phép số 101597 ngày 18/03/1993. Năm 1999 trở thành thành viên trực
thộc Tổng công ty cao su Việt Nam theo Quyết định số 149/NN – TCCB/QĐ ngày
04/03/1999 của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
Trong giai đoạn 1975 – 1985 Tổng công ty thực hiện công tác khai hoang trồng
mới phát triển vùng chuyên canh cao su rộng lớn : thành lập thêm các Nông trường gồm
6 Nông trường mới, đưa diện tích cao su đạt gần 55.000 ha. Đến tháng 06/1994, theo
chủ trương của Tổng công ty cao su Việt Nam (nay là Tập đoàn công nghiệp cao su
chiếm 8 – 12%, quý 2 chiếm 20%, quý 3 chiếm 30% v quý 4 chiếm 28 – 42% sản
lượng/năm.
Trong suốt chu kỳ khai thác từ 20 – 25 năm, sản lượng mủ cao su hàng năm
cũng không đều nhau, sản lượng tăng dần từ năm khai thác đầu tiên (300 – 500 kg/ha)
sẽ đạt đỉnh sản lượng cao nhất vào năm khai thác thứ 10 – 11 (2 – 2,2 tấn/ha) và sau đó
sẽ giảm dần đến khi thanh lý cây. Do vậy, cơ cấu tuổi cây trong toàn bộ vườn cây khai
thác là yếu tố quan trọng quyết định năng suất bình quân của toàn Tổng công ty, tác
động đến việc ổn định sản lượng giữa các năm.
- Tình hình sản lượng và các chỉ tiêu doanh thu, chi phí,…chịu ảnh hưởng lớn của thời
tiết tại miền Đông Nam Bộ trong các tháng khai thác cao điểm (từ tháng 6 – tháng 11
hàng năm). Những ngày mưa, bão thường gây tổn thất lớn do mất hoàn toàn sản lượng,
không khai thác được.
- Chi phí tiền lương chiếm tỷ trọng lớn, trên 50% cơ cấu giá thành sản phẩm.
- Tổng CTCS Đồng Nai là một đơn vị đa ngành nghề, cần có mô hình tổ chức quản lý
phù hợp để thực hiện tốt các chức năng của mình.
Biểu đồ 2.1 : Cơ cấu doanh thu của Tổng CTCS Đồng Nai
Nguồn : Số liệu của Tổng CTCS Đồng Nai năm 2010
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP VÀ PHỤ THUỘCNT cao su An LộcNT cao su Bình LộcNT cao su Dầu GiâyNT cao su Long ThànhNT cao su Bình SơnNT cao su Cẩm MỹNT cao su Cẩm ĐườngNT cao su Trảng BomNT cao su Túc TrưngNT cao su An ViễngNT cao su Thái Hiệp ThànhNT cao su Hàng GònNT cao su Ông QuếXí nghiệp chế biến cao suXí nghiệp cơ khí vận tảiTrung tâm văn hóa Suối TreBệnh viện đa khoa cao su Đồng NaiKhch sạn Hồng HạnhCÁC PHÒNG NGHIỆP VỤVăn phòng Tổng công tyPhòng Tổ chức lao độngPhòng Kế hoạch đầu tưPhòng Tài chính kế toánPhòng Xuất nhập khẩuPhòng Kỹ thuật cao suPhòng Xây dựng cơ bảnPhòng Quản lý chất lượngPhòng Thanh tra BVQS
- Khối khai thác : Quản lý diện tích vườn cây 36.247,51 ha (trong đó diện tích vườn cây
cao su khai thác 31.252,28 ha, diện tích vườn cây KTCB 4.995,23 ha), được tổ chức
thành 13 nông trường trực thuộc : Dầu Giây, An Lộc, Bình Lộc, Long Thành, Ông
Quế, Bình Sơn, Cẩm Mỹ, Cẩm Đường, Trảng Bom, Túc Trưng, Hàng Gòn, An Viễng
và Thái Hiệp Thành, thực hiện chức năng trồng và khai thác mủ cao su thiên nhiên.
- Khối chế biến : có tổng công suất chế biến theo thiết kế 46.000 tấn/năm (trong đó mủ
Latex 12.000 tấn/năm, mủ khối 34.000 tấn/năm) được tổ chức thành 1 xí nghiệp chế
biến quản lý 4 nhà máy : An Lộc, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Long Thành, thực hiện chức
năng chế biến cao su dạng nước thành cao su khô nguyên liệu.
- Khối các đơn vị phụ trợ, dịch vụ : được tổ chức thành các đơn vị có tư cách pháp nhân
không đầy đủ, tự hạch toán, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh, gồm :
xí nghiệp xây dựng và giao thông, xí nghiệp cơ khí vận tải, khu văn hóa Suối Tre và
cấp cho nhà máy sản xuất có hiệu quả. Đây chính là một trong những vấn đế đặt ra là
khi cổ phần hóa nhà máy phải gắn liền với vườn cây cao su để cung cấp nguyên liệu
cho nhà máy.
Tóm lại : Việc cổ phần hóa Nhà máy chế biến cao su Hàng Gòn tạo ra một pháp
nhân kinh doanh mới, đã tạo thế chủ động và có nhiều biện pháp cải tiến kỹ thuật, hạ
giá thành chế biến, nhưng chủ yếu có sự hỗ trợ, ưu đãi của Tổng CTCS Đồng Nai và sự
biến động theo chiều hướng tăng của giá bán mủ cao su trên thị trường. Nếu không có
sự hổ trợ tích cực của Tổng CTCS Đồng Nai, Công ty cổ phần cao su Hàng Gòn phải