135 Định hướng về việc xác định giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 21


1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những vấn đề quan trọng của công tác kế toán là định giá nhằm xác
định giá trị bằng tiền của các đối tượng kế toán để phục vụ cho công việc ghi chép
và lập báo cáo tài chính. Qua quá trình phát triển của định giá đã có nhiều loại giá
khác nhau được sử dụng, trong đó giá trị hợp lý ngày càng đóng vai trò quan trọng,
với mục đích trình bày thông tin trên báo cáo tài chính một cách trung thực và hợp
lý hơn. Mặc dù chưa có chuẩn mực cụ thể về vấn đề này, nhưng giá trị hợp lý đã
được thừa nhận và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới cách đây rất lâu.
Tại Việt Nam giá trị hợp lý cũng đã xuất hiện để định giá các đối tượng kế
toán. Tuy nhiên, do còn khá mới mẻ nên việc áp dụng chưa được rộng rãi và chưa
đạt được mục đích của giá trị hợp lý.
Vì vậy việc “định hướng về việc xác định giá trị hợp lý trong kế toán doanh
nghiệp Việt Nam” là một vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm:
- Làm rõ bản chất của giá trị hợp lý và khẳng định một công cụ định giá mới
phục vụ cho công tác kế toán ở Việt Nam.
- Mang đến sự phù hợp về định giá giữa Việt Nam và quốc tế để rút ngắn
khoảng cách trong quá trình hội nhập.
Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm định hướng về về việc sử dụng giá
trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp Việt Nam, bằng cách tiếp cận những nghiên
cứu trên thế giới và thực tế áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp ở Việt
Nam.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn ở kế toán tài chính doanh nghiệp Việt Nam, không đề cập
đến kế toán quản trị cũng như các lĩnh vực kế toán khác.

2
Đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết những vấn đề chủ yếu sau đây:

Về lâu dài: luận văn đề nghị điều chỉnh Luật kế toán, chuẩn mực chung, và đề
xuất ban hành một số chuẩn mực mới với mục đích phát triển giá trị hợp lý
đồng hành cùng hệ thống kế toán Việt Nam.
Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 64 trang, 7 bảng biểu, 1 sơ đồ và 9 phụ lục. Nội dung luận văn
ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về giá trị hợp lý
Chương 2: Thực trạng áp dụng giá trị hợp lý tại Việt Nam và những vấn đề đặt
ra xung quanh việc sử dụng giá trị hợp lý.
Chương 3: Định hướng về việc sử dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh
nghiệp Việt Nam.

4
CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ

Xác định giá trị có vai trò quan trọng trong công tác kế toán nhằm cung cấp những


5
- Định giá sau ghi nhận ban đầu: là xác định lại giá trị của các đối tượng kế
toán sau một kỳ nhất định, xuất phát từ sự thay đổi giá trị của các đối tượng
này như hao mòn, đánh giá lại…
1.1.2. Tầm quan trọng của định giá trong kế toán
Định giá là một công việc quan trọng trong kế toán tài chính bởi vì :
(1). Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán
Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được
biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn, cũng như
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong hệ thống các phương pháp kế toán, định giá đóng vai trò quan trọng
trong việc kết hợp với các phương pháp kế toán khác như tài khoản, ghi sổ kép,
tổng hợp và cân đối… để thực hiện các mục đích và nhiệm vụ của kế toán.
(2).

Định giá ảnh hưởng đến quyết định của người đọc báo cáo tài chính
Định giá ảnh hưởng đến tất cả các khoản mục của báo cáo tài chính, từ đó nó
ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tình hình tài chính, tình hình kinh
doanh của doanh nghiệp.
Ví dụ, nếu tài sản được đánh giá cao hơn giá trị của nó sẽ dẫn đến chỉ số về
khả năng thanh toán cao làm cho nhà đầu tư, chủ nợ kỳ vọng vào khả năng trả nợ
của doanh nghiệp. Hoặc nếu đánh giá không đúng tình hình hoạt động kinh doanh
sẽ làm ảnh hưởng đến tỉ suất sinh lời, số vòng quay vốn, số vòng quay hàng tồn
kho… Như vậy, định giá ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của người đọc báo cáo
tài chính.
Chính vì tầm quan trọng này mà các chuẩn mực kế toán thường dành một phần
lớn nội dung để bàn về vấn đề định giá các khoản mục trên báo cáo tài chính.
1.1.3. Các giả thiết, nguyên tắc kế toán hưởng đến việc định giá
Do kế toán tài chính phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và phải đảm bảo

tin cậy khi chúng không bị sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu.

7
Trong đặc điểm đáng tin cậy, nguyên tắc khách quan và nguyên tắc thận trọng
có ảnh hưởng rõ rệt đến định giá.
- Nguyên tắc khách quan
Thông tin trên báo cáo tài chính phải khách quan, không bị sai lệch một cách
cố ý.
Nguyên tắc khách quan ảnh hưởng lớn đến định giá. Nguyên tắc này yêu cầu
các loại giá được sử dụng phải có thể xác định được và có thể kiểm chứng được.
Đây cũng chính là lý do khiến cho hệ thống kế toán dựa trên giá gốc được chấp
nhận ở hầu hết các nước trên thế giới. Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin
làm cho yêu cầu có thể có được và có thể kiểm chứng được trở nên dễ dàng làm
xuất hiện nhiều loại giá khác được sử dụng: giá thay thế, giá thị trường, giá trị hợp
lý…
- Nguyên tắc thận trọng
Nguyên tắc thận trọng yêu cầu phải trình bày nội dung về các sự kiện, tình thế
không chắc chắn khó có thể tránh được, chẳng hạn như khả năng thu hồi các khoản
nợ khó đòi, thời gian hữu dụng của tài sản, khả năng xảy ra các khoản nợ phải trả…
Nguyên tắc thận trọng nhằm mục đích tránh thổi phồng giá trị tài sản, nhưng cũng
không có nghĩa là giấu bớt giá trị thực của tài sản.
Nguyên tắc này ảnh hưởng đến việc định giá ở chỗ : yêu cầu giá được sử dụng
không làm thổi phồng giá trị tài sản, có nghĩa là tài sản được ghi nhận không được
vượt khỏi giá trị thuần có thể thực hiện.
1.1.4. Các loại giá được sử dụng
Quá trình phát triển các lý thuyết và thực tiễn hoạt động kế toán đã dẫn đến sự
ra đời nhiều loại giá khác nhau, chúng được phân thành các loại như sau:
a. Giá đầu vào
- Giá gốc (historical cost): là số tiền hoặc tương đương tiền đã thanh toán để
có một tài sản hoặc thanh toán một khoản nợ phải trả.

trường hợp không có thị trường hoạt động để có thể xác định được giá thị
trường.
- Giá trị hợp lý (fair value): “là giá mà tại đó tài sản và nợ phải trả có thể được
trao đổi trong một giao dịch hiện tại giữa những người tự nguyện, thông
thạo, không có mối quan hệ”
3
Giá trị hợp lý là giá trao đổi mà được ước tính dựa vào hoạt động của những
người tham gia trên thị trường trong một giao dịch giả định. Trong trường
hợp có giá thị trường thì giá trị hợp lý chính là giá thị trường. Trong các
trường hợp khác thì giá trị hợp lý được xác định dựa vào việc ước tính.
Giá trị hợp lý và giá thị trường là cùng một loại giá dựa trên các thị trường
hoạt động, tuy nhiên chúng không đồng nhất hoàn toàn. Trong những trường
hợp không có thị trường hoạt động thì không thể xác định giá thị trường,
nhưng giá trị hợp lý vẫn được xác định dựa trên các ước tính.
d. Ngoài ra một số khoản mục được đánh giá theo sự lựa chọn giữa một
trong hai loại giá:
- Giá thấp hơn giữa giá gốc và giá thị trường (LCM – lower of cost and
market value).
LCM thường được áp dụng trong hệ thống kế toán của Mỹ để trình bày
khoản mục hàng tồn kho.
Giá thị trường trong LCM là giá thay thế nằm trong phạm vi giá trần và giá
sàn. Giá trần là giá trị thuần có thể thực hiện; giá sàn là giá trị thuần có thể
thực hiện trừ lợi nhuận ước tính.
- Giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện
Giá này được đề cập trong chuẩn mực kế toán quốc tế để trình bày khoản
mục hàng tồn kho. 3
FASB, Fair Value Measurements, dự thảo, năm 2004, trang 2

- Theo đơn vị sức mua ổn định : lợi nhuận là khoản gia tăng sức mua của vốn
trong kỳ. Như vậy chỉ có phần gia tăng giá cả của tài sản vượt quá phần tăng của
sức mua chung thì mới được coi là lợi nhuận.
Khái niệm bảo toàn vốn vật chất: lợi nhuận là phần vượt của năng lực sản xuất
vật chất cuối kỳ so với đầu kỳ sau khi trừ đi khoản góp vốn và chia lãi cho các cổ
đông.
Khái niệm bảo toàn vốn về mặt vật chất yêu cầu báo cáo dựa trên cơ sở giá
hiện hành.
1.1.5.2. Các hệ thống định giá kế toán
Các khái niệm về vốn và bảo toàn vốn ra đời xuất phát từ biến động giá trong
nền kinh tế và nó đưa ra cách thức để giải thích một cách có hệ thống việc áp dụng
các loại giá trong nền kinh tế. Tương ứng với hai quan điểm bảo toàn vốn tài chính
và vật chất đã có bốn hệ thống định giá kế toán :
- Hệ thống định giá kế toán dựa trên giá gốc: ghi nhận và lập báo cáo tài chính
dựa trên cơ sở giá gốc. Bảo toàn vốn về mặt tài chính theo đơn vị tiền tệ
danh nghĩa. Hệ thống này sử dụng giá gốc là chủ yếu và kết hợp với các loại
giá khác: giá trị hợp lý, giá trị thuần có thể thực hiện, hiện giá. Để ghi nhận
ban đầu chủ yếu là sử dụng giá gốc. Sau ghi nhận ban đầu, giá gốc của một
số khoản mục được điều chỉnh dựa trên nguyên tắc thận trọng (chỉ cho phép
điều chỉnh giảm) hoặc đánh giá lại (điều chỉnh cho cả tăng và giảm)
- Hệ thống định giá kế toán dựa trên giá gốc đã được điều chỉnh giá theo sức
mua của tiền tệ: giá gốc được điều chỉnh theo chỉ số giá trước khi lập báo cáo
tài chính, nhằm bảo toàn vốn tài chính theo sức mua ổn định.
- Hệ thống định giá kế toán dựa trên giá hiện hành: với mục đích bảo toàn
năng lực sản xuất, hệ thống kế toán này đánh giá các đối tượng kế toán vào
cuối kỳ theo hiện giá, chi phí thay thế, giá trị thuần có thể thực hiện, hoặc kết
hợp giữa các loại giá.

12
- Hệ thống định giá kế toán dựa trên giá hiện hành điều chỉnh theo sức mua

(Nguồn: Tổng hợp từ tài liệu của PricewaterhouseCoopers và chuẩn mực kế toán quốc tế)
Khoản mục IAS US GAAP UK GAAP
Nguyên tắc kế toán Sử dụng giá gốc,
nhưng những tài
sản tăng giá có thể
được đánh giá lại
Nguyên tắc giá
gốc. Không cho
phép đánh giá lại
tài sản, ngoại trừ
một số chứng
khoán và công cụ
phái sinh xác định
tại giá trị hợp lý
Giống IAS
Nhà xưởng và thiết
bị
Trình bày theo giá
gốc trừ khấu hao
trừ giảm giá hoặc
theo giá trị hợp lý
Sử dụng giá gốc,
không cho phép
đánh giá lại
Giống IAS
Tài sản cố định vô
hình
Trình bày theo giá
gốc trừ hao mòn trừ
giảm giá hoặc theo

bán ghi nhận tại giá
trị hợp lý.
Giống IAS Ghi nhận đầu tư
dài hạn tại chi phí
(giá gốc), giá thị
trường hoặc giá
thích hợp khác ví
dụ như giá trị tài
sản thuần.
Ghi nhận đầu tư
ngắn hạn tại giá
thấp hơn giữa giá
gốc và giá trị
thuần có thể thực
hiện hoặc giá hiện
hành.
Hàng tồn kho Trình bày theo giá
thấp hơn giữa giá
gốc và giá trị thuần
có thể thực hiện.
Ghi nhận theo giá
thấp hơn giữa giá
gốc và giá thị
trường.
Phù hợp với IAS

1.2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁ TRỊ HỢP LÝ

1.2.1. Lược sử về sự hình thành và phát triển của giá trị hợp lý
Sự hình thành và phát triển của giá trị hợp lý có thể được chia làm 2 giai đoạn:

Đây là giai đoạn phát triển nhất của giá trị hợp lý, nó được khẳng định qua hai
giai đoạn:
- Từ năm 1991 đến 2000: sự phát triển được đánh dấu bằng hàng loạt các
chuẩn mực của Mỹ : FASB Statement 107 (năm 1991) công bố về giá trị hợp lý của
công cụ tài chính, FASB Statement 141 - hợp nhất doanh nghiệp, FASB Statement

16
142 lợi thế thương mại và tài sản vô hình … các chuẩn mực này đã đưa ra được
những hướng dẫn rõ ràng hơn về giá trị hợp lý.
Lúc này chuẩn mực của Mỹ cũng như chuẩn mực quốc tế đã bắt đầu
sử dụng giá trị hợp lý cho việc đánh giá sau ghi nhận ban đầu.
Trong giai đoạn này, giá trị hợp lý được áp dụng rộng rãi trong nhiều
ngành, nhiều khoản mục làm xuất hiện sự lo lắng về khả năng của giá trị hợp lý do
những hướng dẫn về giá trị hợp lý vẫn chưa đạt được sự thống nhất chung và có
nhiều mâu thuẫn trong các công bố.
- Từ năm 2000 đến nay
Bắt đầu từ năm 2000 để giải quyết những lo lắng về giá trị hợp lý,
FASB và IASB đã bắt tay vào nghiên cứu sâu hơn về lý thuyết của giá trị hợp lý.
Năm 2004 sự phát triển mạnh mẽ của giá trị hợp lý được chứng minh
bằng Dự thảo Chuẩn mực về giá trị hợp lý của FASB – giá trị hợp lý bắt đầu được
nghiên cứu vào năm 2003, và sau nhiều lần tiến hành thảo luận Dự thảo được công
bố chính thức vào tháng 6 năm 2004. Bên cạnh đó, chuẩn mực kiểm toán quốc tế số
545 - Kiếm toán xác định và công bố giá trị hợp lý hướng dẫn kiểm toán giá trị hợp
lý cho các báo cáo tài chính bắt đầu từ năm 2004 cũng đã cho thấy sự phát triển của
giá trị hợp lý.
1.2.2. Nội dung của giá trị hợp lý
Hiện nay, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế chưa ban hành chuẩn mực về
giá trị hợp lý. Phần viết dưới đây dựa vào dự thảo chuẩn mực về giá trị hợp lý của
FASB.
1.2.2.1. Khái niệm giá trị hợp lý

trực tiếp, được thoả thuận độc lập, không qua trung gian. Các thông tin trên
thị trường này thì ít công khai.
18
Những thông tin có thể lấy được từ thị trường:
Khi ước tính giá trị hợp lý doanh nghiệp phải dựa vào các thông tin hiện tại, có
nguồn gốc từ các nguồn độc lập của doanh nghiệp. Những thông tin mà doanh
nghiệp có thể lấy được từ thị trường là:
- Giá tham chiếu
4
: là giá trả, giá chào, giá đóng – giá giao dịch…các giá được
niêm yết trên thị trường, có được dễ dàng và thường xuyên, những giao dịch
thì xảy ra thường xuyên đủ để cung cấp thông tin về giá, những thông tin về
giá này sử dụng được trong hiện tại,
- Thông tin về lãi suất, khả năng thanh toán tiền mặt, tỉ giá hối đoái, dòng tiền
theo hợp đồng, những điều khoản trong hợp đồng…những thông tin này
được lựa chọn sử dụng trong ước tính giá trị hợp lý.
- Đánh giá tổn thất và rủi ro tín dụng, được sử dụng để ước tính lãi suất cho
vay, lãi suất khi mua trả chậm …
- Các dữ liệu tín dụng đặc biệt và các bảng thống kê thích hợp khác mà được
công khai (ví dụ các dữ liệu trong các ngành đặc biệt…).
1.2.2.3. Phương pháp xác định giá trị hợp lý
Để có thể đưa ra phương pháp xác định giá trị hợp lý thích hợp, người định giá
cần xem xét những vấn đề sau :
(1) Tiền đề định giá
Tiền đề định giá cung cấp mục đích của định giá để từ đó lựa chọn phương
pháp cho thích hợp. Tiền đề định giá bao gồm:
- Tiền đề định giá hoạt động liên tục hoặc đang sử dụng: áp dụng để xác định

phí. Phương pháp nào sử dụng nhiều dữ liệu và giả định từ thị trường thì phương
pháp đó sẽ cho kết quả đáng tin cậy nhất. Nếu không có những giả định và dữ liệu
từ thị trường thì sẽ ước tính giá trị hợp lý dựa vào những giả định và những ước tính
nội bộ của doanh nghiệp. 20
(3) Phương pháp xác định giá trị hợp lý
Tùy thuộc vào từng cấp độ sẽ áp dụng phương pháp xác định phù hợp. Đối với
ước tính cấp độ 1 và cấp độ 2 thì chỉ cần sử dụng 1 phương pháp (phương pháp tiếp
cận thị trường), đối với ước tính cấp độ 3 thì cần phải sử dụng cả 3 phương pháp.
Các phương pháp được mô tả như sau:
- Phương pháp tiếp cận thị trường: áp dụng khi có giá tham chiếu trên thị
trường. Giá trị hợp lý dựa vào giá tham chiếu, điều chỉnh nếu cần thiết.
Những trường hợp phải điều chỉnh giá tham chiếu:
+ Giá tham khảo không lấy từ thị trường hiện tại mà là giá cũ, do vậy
doanh nghiệp nên xem xét thời gian của giao dịch thực tế, những thay
đổi trong điều kiện tín dụng, lãi suất, những nhân tố khác… để điều
chỉnh cho phù hợp.
+ Sự khác nhau của tài sản có giá tham chiếu trên thị trường và tài sản
đang được định giá thì không thể xác định rõ ràng, vì vậy cần phải
điều chỉnh giá tham chiếu.
+ Những giá mà không đại diện cho các giao dịch trên thị trường, ví dụ
như giá được lấy từ giao dịch bị cưỡng ép, giao dịch giữa các bên có
liên quan …
+ Có sự khác biệt trong đơn vị tính toán, hoàn cảnh, khu vực, hợp đồng…
- Phương pháp tiếp cận chi phí: theo phương pháp này giá trị hợp lý được ước
tính dựa vào số tiền ước tính để có được tài sản thay thế.
- Phương pháp tiếp cận thu nhập: theo phương pháp này, giá trị hợp lý được
ước tính dựa vào dòng thu nhập mong chờ. Hay nói cách khác giá trị hợp lý

Ước tính
cấp độ 2
PP tiếp cận
thị trường
giá tham
chiếu đã
điều chỉnh
không
có giá
thị
trường
tham
chiếu,
hoặc có
giá thị
trường
nhưng
không
xác
định
được
mức độ

khác
biệt
điểm này chủ yếu thông qua việc phát triển các công cụ định giá sau ghi nhận
ban đầu bao gồm:
(1) Giá trị hợp lý thu hẹp phạm vi áp dụng nguyên tắc thận trọng trong việc sử
dụng giá trị thuần có thể thực hiện khi tài sản bị giảm giá. Theo nguyên tắc
thận trọng, trong các tình huống chưa rõ ràng, các phương pháp kế toán
được sử dụng theo khuynh hướng thận trọng, nghĩa là tránh thổi phồng tài
sản và thu nhập. Khi các thị trường hoạt động phát triển, khả năng định giá
theo thị trường với các thông tin đáng tin cậy tăng lên, việc áp dụng thận
trọng như trên không còn hoàn toàn thích hợp. Do đó, đối với những loại
tài sản đã có thị trường hoạt động phát triển, giá trị hợp lý có thể sử dụng
để phản ánh sự thay đổi của giá gốc, bao gồm cả sự tăng lên hay giảm đi
của giá trị tài sản mà không đe doạ yêu cầu đáng tin cậy của báo cáo tài
chính.
(2) Giá trị hợp lý cung cấp một cơ sở lý thuyết và thực tiễn cho việc đánh giá
lại tài sản. Trước đây, một số nước và ngay cả IAS cho phép đánh giá lại
tài sản dài hạn nhưng chưa đưa ra một khuôn khổ chung cho quá trình này.
Giá trị hợp lý đã giải quyết bằng cách cung cấp một cơ sở lý luận và hệ
thống phương pháp đầy đủ.

23
Ngoài ra trong những trường hợp không có giá gốc, giá trị hợp lý được sử
dụng để định giá trong ghi nhận ban đầu. Thí dụ các trường hợp trao đổi tài
sản.
So sánh với hệ thống giá hiện hành
Hệ thống giá hiện hành dựa trên cơ sở sử dụng hiện giá, giá thay thế hoặc giá
trị thuần có thể thực hiện đưa ra một phương pháp điều chỉnh có hệ thống toàn
bộ báo cáo tài chính, không chỉ điều chỉnh giá trị tài sản và nợ phải trả mà còn
điều chỉnh tất cả các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (xem
phụ lục số 1). Do thay đổi triệt để giá gốc, hệ thống này mặc dù đưa ra một
phương pháp giải quyết có hệ thống nhưng lại quá phức tạp trong quá trình

định chủ quan của chủ doanh nghiệp, của những người đinh giá, vậy nó có đáng tin
cậy? Giá trị hợp lý có bị lạm dụng trong những trường hợp không có giá thị trường?
Tiếp theo nữa, giá trị hợp lý phản ánh sự thay đổi của thị trường làm cho báo cáo tài
chính dễ thay đổi, liệu nó có làm các nhà đầu tư lo lắng?
Tuy nhiên những tranh luận này được một số nhà nghiên cứu
6
đưa ra những
kết luận sau:
- Xét về mặt lý thuyết thì giá trị hợp lý rất thích hợp, vì nó phản ánh những
thay đổi của thị trường. Vấn đề được tranh luận nhiều nhất đó là tính đáng tin cậy
và cách xác định giá trị hợp lý. FASB và IASB đang cố gắng nỗ lực để ban hành
các chuẩn mực để lý thuyết nhanh chóng bắt kịp thực tế đang ứng dụng rộng rãi.
- Ước tính giá trị hợp lý chứa đựng những giả định, tuy nhiên những giả định
này được yêu cầu công bố, chính vì vậy mà khả năng lạm dụng giá trị hợp lý cũng
sẽ bị hạn chế.
- Ngày nay với sự phát triển của hệ thống thông tin và sự phát triển của các thị
trường chuyên ngành thì giá trị hợp lý có thể được xác định và kiểm chứng dễ dàng,
và những giả định ngày càng mang tính khách quan hơn nên tính đáng tin cậy của
giá trị hợp lý tăng lên rất nhiều. Mặt khác, các mô hình định giá cho những trường

5
David Tweedie, chủ tịch của IASB ở Luân Đôn, Phát biểu trên tạp chí CFO - A Faiwell to History ngày
1/2/2003
6
Phát biểu trên tạp chí CFO – A fairwell to history ngày 1/2/2003 của các nhà nghiên cứu:
Paul Pacter - Chủ tịch của Deloitte ở Hồng Kông
Pearl Tân - giảng viên kế toán trường Nanyang – Singapore
Rebecca Mc Enally - Chủ tịch của AIMR (Association for Investment Management and Research)
Robert H. Herz - Kế toán ở Mỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status