thiết lập mô hình xác định giá trị hợp lý của các khoản Đầu tư tài chính - Pdf 27

Phần III: Kiến nghị
1. Mặt tích cực
Hiện nay chúng ta đã có các văn bản nêu ra những vấn đề cơ bản nhất về TSTC. Về
tổng quan thì có thông tư 210/2009/TT-BTC đã hướng dẫn về việc áp dụng chuẩn mực kế
toán quốc tế về trình bày và thuyết minh CCTC, trong đó trích dẫn các định nghĩa về
CCTC nói chung và TSTC nói riêng. Thông tư này khá thống nhất với chuẩn mực IAS 32
và IFRS 7 về nhiều điểm trọng yếu.
Với một số loại TSTC cụ thể cũng có chuẩn mực, chế độ kế toán riêng. Ví dụ như
chuẩn mực số 10 về ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái, chuẩn mực số 07 Kế
toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết. Hệ thống các văn bản này vẫn đang được tiếp
tục nghiên cứu để đưa ra những điều chỉnh đi đến thống nhất, phù hợp với hoàn cảnh
kinh tế các giai đoạn khác nhau.
Một trong những thay đổi gần đây về quản lý CCTC là vấn đề chênh lệch tỷ giá hối
đoái
Các văn bản hướng dẫn về chênh lệch tỷ giá trước đây (Thông tư số 38/2001/TT-
BTC ngày 5/6/2001, Thông tư số 201/2009/TT-BTC ngày 15/10/2009) mỗi văn bản có
hướng dẫn khác nhau và có nhiều điểm không thống nhất với Chuẩn mực kế toán Việt
Nam số 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái (VAS 10).
Thông tư số 179/2012/TT-BTC ngày 24/10/2012 (TT 179) ra đời đã có một số điểm
chung, thống nhất với VAS 10 về:
- Cách xử lý và hạch toán chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong giai đoạn đầu tư
xây dựng để hình thành TSCĐ của doanh nghiệp mới thành lập, chưa đi vào hoạt
động;
- Cách ghi nhận các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái trong kỳ hoạt động sản xuất
kinh doanh, kể cả đầu tư xây dựng hình thành TSCĐ của DN đang hoạt động;
- Cách ghi nhận các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư các
khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại ngày kết thúc kỳ kế toán.
Theo QĐ 15/2006, người làm kế toán có quyền chọn lựa hạch toán theo tỷ giá bình
quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố hay tỷ giá giao dịch tại
NH mở tài khoản giao dịch dẫn đến nhiều tranh cãi và bất cập trong thực tiễn khi vận
dụng tỷ giá quy đổi ra đồng Việt Nam để ghi sổ, hạch toán kế toán. Thông tư 179 nêu rõ

vấn đề mà trong phạm vi một thông tư chưa nêu ra và làm sáng tỏ được.
Các quy định kế toán về một số loại TSTC riêng rẽ đã được ban hành và áp dụng
nhiều năm nhưng vẫn có những bất đồng. Đơn cử như về chênh lệch tỷ giá hối đoái
đề cập ở trên, tuy đã tháo gỡ được nhiều khúc mắc trong các văn bản quy định kế toán
trước đó, nhưng Thông tư 179 vẫn hạn chế ở phạm vi điều chỉnh, không nói rõ là có
thay thế cho các quy định ở Chuẩn mực kế toán số 10, chế độ kế toán doanh nghiệp
hay không trong khi các văn bản này lại đều cùng do Bộ Tài chính ban hành. Điều
đáng quan tâm ở đây là Thông tư số 179/2012/TT-BTC đã đề cập đến các nội dung
tương tự như các nội dung đã quy định trong chuẩn mực kế toán số 10 - Ảnh hưởng
của việc thay đổi tỷ giá hối đoái và Chế độ kế toán doanh nghiệp về giải thích các từ
ngữ; tỷ giá quy đổi ngoại tệ ra "Đồng Việt Nam"; quy định xử lý các khoản chênh
lệch tỷ giá trong từng trường hợp cụ thể. Vì vậy trong thực tế hiện nay các doanh
nghiệp vẫn đang gặp khó khăn, đứng về góc độ pháp lý không biết là thực hiện theo
quy định của văn bản nào để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính sẽ được cho là
đúng.
b) Việt Nam hạch toán các khoản đầu tư chứng khoán theo chế độ kế toán doanh
nghiệp được hạch toán theo giá gốc, trong khi đó theo thông lệ quốc tế các khoản
đầu tư chứng khoán được phản ánh theo giá trị hợp lý.
Việc hạch toán kế toán các khoản đầu tư tài chính hiện nay được thực hiện theo
QĐ 15/2006 về chế độ kế toán doanh nghiệp. Các khoản đầu tư chứng khoản được
hạch toán theo phương pháp giá gốc (là phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được
ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không được điều chỉnh theo những thay đổi của
phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư)
Nguyên tắc giá gốc được xem là nền tảng đo lường của kế toán trong nhiều năm
qua và kế toán theo phương pháp giá gốc đã thực hiện tốt chức năng cung cấp thông
tin phù hợp và đáng tin cậy cho người sử dụng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, kế
toán theo giá gốc đã bộc lộ những hạn chế đối với việc phản ánh thông tin về tài sản
tài chính nói chung và các khoản đầu tư tài chính nói riêng. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, hạn chế trong việc ghi nhận ban đầu của các khoản đầu tư tài chính
(ĐTTC). Theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam, các khoản ĐTTC phát sinh lần

lệch 5,5 tỷ đồng này không được ghi nhận tăng thêm vào thu nhập, tài sản hay vốn chủ sở
hữu. Với cách ghi nhận này, vô hình chung, sự tăng của giá cổ phiếu trong danh mục các
khoản ĐTTC không tác động đáng kể nào đến bảng tổng kết tài sản và báo cáo kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong khi đó, rõ ràng, doanh nghiệp sẽ được “hưởng lợi” từ việc cổ
phiếu ACB tăng hơn 40% giá trị.
Ngoài việc không phản ánh chênh lệch tăng của các khoản ĐTTC, khi các khoản
ĐTTC bị giảm giá thì việc trích lập dự phòng các khoản đầu tư này cũng bộc lộ
những hạn chế nhất định. Đó là việc ghi nhận tất cả các khoản dự phòng ĐTTC vào
chi phí tài chính phát sinh trong kỳ, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ kế
toán, mà không phân biệt khoản dự phòng giảm giá đầu tư là dự phòng giảm giá đầu
tư tài chính ngắn hạn (phản ánh trên TK 129) hay khoản dự phòng giảm giá đầu tư tài
chính dài hạn (phản ánh trên TK 229). Trong khi đó, bản chất của khoản ĐTTC ngắn
hạn và dài hạn là rất khác nhau. Việc phản ánh các khoản dự phòng ĐTTC vào chi phí
tài chính làm cho nhiều doanh nghiệp bị “lỗ nặng” trong khi hoạt động kinh doanh
chính vẫn tăng trưởng và có hiệu quả.
Liên quan đến việc trích lập dự phòng giảm giá đối với các chứng khoán chưa
niêm yết trên thị trường chứng khoán, chúng tôi nhận thấy quy định trong điều 5,
phần II, của Thông tư 228/2009/TT-BTC, ngày 07 tháng 12 năm 2009, của Bộ Tài
chính về Hướng dẫn chế độ trích lập và sử dụng các khoản dự phòng giảm giá hàng
tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản
phẩm, hàng hoá, công trình xây lắp tại doanh nghiệp, chưa đảm bảo tính thuyết phục,
có thể dẫn đến phản ánh không chính xác giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC tại thời
điểm cuối kỳ kế toán. Trong quy định tại Thông tư 228 này, đối với các Công ty đã
đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết
(UPCom) thì giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá giao dịch
bình quân trên hệ thống tại ngày trích lập các khoản dự phòng. Còn đối với các công
ty chưa đăng ký giao dịch ở thị trường giao dịch của các công ty đại chúng (OTC), giá
chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá trung bình trên cơ sở giá
giao dịch được cung cấp tối thiểu bởi ba (03) công ty chứng khoán tại thời điểm lập
trích lập dự phòng. Tuy nhiên, thông thường các loại chứng khoán của các công ty đại

(Trading)
Nợ phải trả
hoặc vốn chủ
sở hữu (Debt
or Equity)
Giá trị hợp lý
(Fair value)
Ngắn hạn
(Current)
Sẵn sàng để bán
(Available-for-
sale)
Nợ phải trả
hoặc vốn chủ
sở hữu (Debt
or Equity)
Giá trị hợp lý
(Fair value)
Ngắn hạn hoặc
dài hạn
(Current or
Noncurrent)
Nếu doanh nghiệp nắm giữ dưới 20% cổ phiếu thường của một công ty, doanh
nghiệp đó sẽ sử dụng phương pháp giá thị trường cho các khoản đầu tư.
FASB đã đặt ra hai khoản mục về đầu tư cổ phiếu dưới 20%.
+ Chứng khoán thương mại đây là những khoản đầu tư ngắn hạn được nắm giữ để
bán trong ngắn hạn, mục đích để bán trong tương lại gần. Nó đc xem là TSNH. Các
khoản lãi hoặc lỗ chưa thực hiện (do thay đổi giá trị thị trường của CP) được báo cáo
trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+ Tất cả các khoản đầu tư cổ phiếu khác dưới 20% được xem là Chứng khoán chờ

về khoản nợ tài chính, tài sản tài chính và công cụ vốn cổ phần.
b) Trình bày và thuyết minh TSTC
Việc trình bày TSTC trong quy định hiện nay cần được bổ sung. Yêu cầu trình bày
các thông tin về tài sản tài chính trên báo cáo tài chính của các tổ chức có mua, bán và
phát hành các công cụ tài chính nhằm mục đích để người sử dụng báo cáo tài chính có
khả năng đo lường:
- Tầm quan trọng của các công cụ tài chính đối với tình hình tài chính và hiệu quả
hoạt động của tổ chức.
- Bản chất và quy mô của các rủi ro phát sinh từ các công cụ tài chính ảnh hưởng
đến tổ chức trong suốt thời gian nắm giữ và làm thế nào để quản lý các rủi ro này.
Có hai nhóm chính phải trình bày là:
• Thông tin về tầm quan trọng của các công cụ tài chính:
Tất cả các tổ chức phải trình bày các thông tin hữu ích trên báo cáo tài chính để
người sử dụng thông tin có thể đánh giá tầm quan trọng của các công cụ tài chính
đối với tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể như
sau:
* Trên bảng cân đối kế toán:
- Cần phải trình bày giá trị của danh mục công cụ tài chính sau :
+ Các tài sản tài chính đã đo lường ở giá trị hợp lý thông qua lợi nhuận và
lỗ:
Phải trình bày độc lập thành:
(i) Các tài sản tài chính được thiết kế thuộc nhóm này theo ghi nhận ban
đầu;
(ii) Các tài sản tài chính thuộc nhóm này nhưng được phân loại như một
khoản đầu tư nắm giữ cho mục đích thương mại.
+ Các khoản đầu tư được nắm giữ cho đến khi đáo hạn
+ Các khoản cho vay và các khoản phải thu
+ Các tài sản sẵn sàng để bán
- Nếu doanh nghiệp thiết kế một khoản nợ hoặc khoản phải thu (hoặc nhóm các
khoản nợ hoặc nhóm các khoản phải thu) đo lường ở giá trị hợp lý thông qua lợi

(i) Biểu hiện của rủi ro và chúng phát sinh như thế nào.
(ii) Mục đích sự quản lý, các chính sách, các xử lý đối với việc quản lý các rủi
ro này và các phương pháp sử dụng để đo lường các rủi ro này
(iii) Các thay đổi trong (i) và (ii) kể từ kỳ kế toán trước.
- Yêu cầu về trình bày các thông tin định lượng:
Đối với mỗi loại rủi ro phát sinh từ tài sản tài chính thì doanh nghiệp phải trình
bày:
+ Tóm tắt số lượng dữ liệu về các biểu hiện của mỗi rủi ro đó tại thời điểm báo
cáo. Các thông tin này sẽ là cơ sở để cung cấp cho ban quản lý nội bộ của tổ
chức.
+ Sự tập trung của các rủi ro
+ Trình bày về rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán và rủi ro thị trường
c) Các khoản ĐTTC cần được phản ánh và ghi nhận theo giá trị hợp lý
Giá trị hợp lý là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi từ cuối những năm 1990 khi
Ủy ban soạn thảo chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) nghiên cứu ban hành và sửa đổi
các chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến các lĩnh vực như công cụ tài chính, bất
động sản đầu tư, thanh toán trên cơ sở cổ phiếu, nông nghiệp, Một trong những định
nghĩa về giá trị hợp lý được IASB sử dụng phổ biến, giá trị hợp lý là mức giá mà một
tài sản có thể được trao đổi giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong một giao dịch
ngang giá (theo Chuẩn mực quốc tế số 39 “Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường”,
01/07/2009). Định nghĩa trên về giá trị hợp lý trong IAS 39 tương tự như định nghĩa
giá trị hợp lý được đưa ra trong Báo cáo số 157 “Đo lường giá trị hợp lý” (Statement
No.157 “Fair Value Measurement”) của Hội đồng Kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB)
ban hành năm 2006. Với việc sử dụng giá trị hợp lý là cơ sở đo lường thích hợp khi
ghi nhận ban đầu của tài sản và nợ phải trả, thông tin do kế toán cung cấp sẽ đảm bảo
hai đặc tính chất lượng quan trọng: tính thích hợp và tính đáng tin cậy.
Với việc phản ánh giá trị của các khoản ĐTTC trong doanh nghiệp theo giá trị hợp
lý sẽ giúp kế toán thực hiện tốt hơn chức năng cung cấp các thông tin thích hợp để hỗ
trợ người sử dụng đánh giá hiệu quả hoạt động của đơn vị. Để việc ghi nhận, hạch
toán nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến các khoản ĐTTC được phản ánh chính

Trong trường hợp, với thị trường năng động, nhưng lại không xác định được giá
niêm yết của khoản đầu tư tài chính. Nguyên nhân do tính thanh khoản của cổ phiếu,
trái phiếu trên thị trường này là khá thấp hoặc không tồn tại mức giá mua, giá bán,
hoặc giá của một số giao dịch gần nhất với thời điểm xác định giá trị hợp lý của các
khoản ĐTTC. Khi đó giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC được xác định dựa vào các
dữ liệu có thể thu thập được căn cứ vào dữ liệu thị trường sẵn có như giá của một số
giao dịch gần nhất với thời điểm đo lường giá trị hợp lý hoặc giá của các khoản
ĐTTC tương đương trên thị trường. Các dữ liệu tham chiếu này phải có nguồn gốc
hay được chứng thực từ các dữ liệu thị trường, có thể thu thập bằng các công cụ tương
quan hay các công cụ đo lường khác.
Đối với các khoản ĐTTC trên thị trường không năng động (unactive market), với
sự suy giảm đáng kể về số lượng và mức độ các giao dịch của các khoản ĐTTC, dẫn
đến sự không tồn tại giá trị hợp lý tại thời điểm xác định. Trong trường hợp này, để
đo lường giá trị hợp lý của các khoản ĐTTC, sẽ phải sử dụng phương pháp định giá.
Một trong các mô hình định giá đáng tin cậy và thường được sử dụng để xác định giá
trị hợp lý của các khoản ĐTTC là mô hình chiết khấu dòng tiền, hoặc mô hình định
giá quyền chọn.
Ví dụ, ngày 15/09/200N, Công ty A mua Trái phiếu chính phủ, trị giá 1.500 triệu đồng,
mệnh giá 1 triệu đồng/trái phiếu, kỳ hạn 5 năm, lãi suất 8%/năm. Kỳ trả lãi hàng năm, tại
ngày 15/09 hàng năm. Tại ngày mua, lãi suất thị trường cho công cụ tương đương có cùng
đặc tính là 10%/năm. Công ty A ghi nhận ban đầu khoản đầu tư mua trái phiếu theo giá trị
hợp lý. Nhưng vì khoản đầu tư này được giao dịch trên thị trường không năng động, nên
Công ty A sẽ sử dụng phương pháp định giá theo chiết khấu dòng tiền để xác định giá trị hợp
lý của khoản đầu tư này. Giá trị hợp lý của khoản ĐTTC được tính toán qua bảng số liệu sau
(đơn vị: triệu đồng)
Ngày Số tiền thu được Yếu tố chiết khấu Giá trị hiện tại
15/9/200N+1 1500 x 8% = 120 1/ = 0,91 109,09
15/9/200N+2 120 1/ = 0,83 99,17
15/9/200N+3 120 1/ = 0,75 90,16
15/9/200N+4 120 1/ = 0,68 81,96

ĐTTC dự kiến nắm giữ đến ngày đáo hạn là bộ phận tài sản tài chính doanh
nghiệp có ý định nắm giữ trên 12 tháng và có kỳ đáo hạn cố định trong tương
lai. Đối với các khoản đầu tư này, chi phí giao dịch, lệ phí, chi phí môi giới,…
được tính vào giá trị của các khoản ĐTTC. Chênh lệch giữa giá trị hợp lý và
giá gốc được cũng được ghi nhận là lãi hoặc lỗ tại thời điểm ghi nhận ban đầu.
Ví dụ, tại ngày 24/09/200N, Công ty A mua 10.000 cổ phiếu XYZ, mệnh giá 10.000
đồng/cổ phiếu. Tổng số tiền phải trả 260.000.000 đồng, trong đó gồm chi phí giao dịch là
20 triệu đồng. Giả sử cổ phiếu XYZ được giao dịch trên thị trường năng động, xác định
được giá trị hợp lý theo giá niêm yết tại ngày 24/09/200N là 20.000 đồng/cổ phiếu. Vậy,
tại ngày 24/09/200N, ta có:
Giá gốc của 10.000 cổ phiếu XYZ (không bao gồm chi
phí giao dịch)
(260-20) = 240 trđ
Giá hợp lý của 10.000 cổ phiếu XYZ 10.000 x 20 = 200 trđ
Khoản lỗ ban đầu 240 – 200 = 40 trđ
Chi phí giao dịch 20 trđ
+ Nếu phân loại cổ phiếu XYZ trên là khoản ĐTTC nắm giữ để kinh doanh cho mục đích
thương mại, ghi nhận ban đầu như sau:
Nợ “Chứng khoán kinh doanh” : 200trđ
Nợ “Chi phí kinh doanh chứng khoán” : 20trđ
Nợ “Lỗ kinh doanh chứng khoán” : 40trđ
Có “Tiền” : 260trđ
+ Nếu phân loại cổ phiếu XYZ trên là khoản ĐTTC nắm giữ đến ngày đáo hạn, ghi nhận
như sau:
Nợ “Chứng khoán nắm giữ đến ngày đáo hạn” : 220trđ (200 + 20)
Nợ “Lỗ kinh doanh chứng khoán” : 40trđ
Có “Tiền” : 260trđ
Thứ ba, hoàn thiện việc ghi nhận và trình bày các khoản ĐTTC trên BCTC tại thời
điểm kết thúc kỳ kế toán
Đến cuối kỳ kế toán, sẽ tiến hành ghi nhận chênh lệch phát sinh do sự biến động

Có “Chứng khoán nắm giữ đến ngày đáo hạn_trái phiếu”: 200trđ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status