(Luận văn thạc sĩ) Thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGUYÊN THÙY MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGUYÊN THÙY MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số : 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI, năm 2020


tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý
thầy, cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ........................................................... 9
1.1. Một số lý luận cơ bản về người có công ......................................................... 9
1.2. Khái niệm và vai trò của chính sách người có công với cách mạng............. 13
1.3. Tổ chức thực hiện chính sách NCCVCM ..................................................... 17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI
CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .................................................................................. 28
2.1. Đặc điểm tình hình người có công với cách mạng ....................................... 28
2.2. Quy trình thực hiện chính sách người công công với cách mạng trên địa bàn
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ....................................................................... 31
2.3. Kết quả thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa
bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ................................................................ 40
2.4. Đánh giá chung việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng ... 56
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ................... 61
3.1. Quan điểm, định hướng chung của Đảng bộ, chính quyền quận Sơn Trà về
thực hiện chính sách người có công với cách mạng trong thời gian tới ...... Error!
Bookmark not defined.
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách người có công với
cách mạng ............................................................................................................. 61

Chất độc hóa học

4

ASXH

An sinh xã hội

5

GĐCM

Gia đình cách mạng

6

HĐCM

Hoạt động cách mạng

7

HĐKC

Họat động kháng chiến

8

HĐND


Chính sách công

14

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1
2.2

Tổng hợp số lượng người có công với cách mạng quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng các năm 2016, 2017, 2018, 2019
Số lượng người có công hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng
trên địa bàn Quận

Trang
29
41

Tổng hợp số lượng nhà ở hỗ trợ xây, sửa cho đối tượng
2.3


dịp tết Nguyên Đán cho đối tượng người có công với cách
2.7

mạng trên địa bàn quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng từ năm 2016

53

đến năm 2019

2.8

Tổng hợp số lượng mẹ Việt Nam anh hùng Quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng được phong tặng, truy tặng danh hiệu

55


vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 2015,
2016, 2017

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đã có biết
bao thế hệ anh hùng hi sinh, cống hiến hết sức lực, tinh thần, trí tuệ và tài sản để
giành lại tự do, độc lập cho dân tộc. Trong số họ, có biết bao người đã ngã xuống,
những người còn lại may mắn được trở về với quê hương nhưng chịu trên mình
những thương tật, căn bệnh quái ác, ký ức đau thương không thể xoá mờ. Kế thừa
và phát huy đạo lý, truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ
trồng cây” của dân tộc ta từ ngàn đời nay, trong suốt quá trình lịch sử cách mạng,
Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm, ưu ái đặc biệt đối với những thương,

trong những năm qua, quận Sơn Trà đã triển khai thực hiện tốt chính sách của
Trung ương, các chính sách bổ sung, hỗ trợ, đặc thù của thành phố (trợ cấp hằng
tháng đối với người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp hằng tháng,
thương binh, người hưởng chính sách như thương binh có tỷ lệ thương tật từ 21%
đến 30% đang hưởng trợ cấp hằng tháng thuộc hộ cận nghèo trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng; quy định về trợ cấp thường xuyên, đột xuất đối với người có công với
cách mạng mắc bệnh hiểm nghèo có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng;…), các chương trình “5 không” không có cơ hội đói, không có người mù
chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma tuý, không có
giết người cướp của “3 có” bao gồm có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hoá văn
minh đô thị “4 an” bao gồm: An ninh trật tự, an toàn giao thông, an toàn thực phẩm,
an sinh xã hội. Những thành tích đáng ghi nhận trong thực hiện chính sách
NCCVCM của quận Sơn Trà đã góp phần vào thành tựu to lớn trong công tác thực
hiện chính sách người có công, an sinh xã hội của thành phố Đà Nẵng. Bên cạnh
những kết quả đã đạt được, do một số nguyên nhân, tổ chức thực hiện chính sách
NCCVCM trên địa bàn quận Sơn Trà còn gặp phải những vướng mắc, hạn chế như:
Công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách chưa được thực hiện rộng rãi trong
Nhân dân. Nhận thức của một số người dân về chính sách chưa được đầy đủ, nên
còn nhiều thắc mắc về chính sách. Một số văn bản hướng dẫn chậm, thiếu đồng bộ
hoặc chưa rõ ràng. Thủ tục xét, công nhận còn rườm rà, chưa rõ ràng, gây khó khăn

2


cho các đối tượng. Việc triển khai thực hiện nhiều lúc còn chủ quan, thiếu chặt chẽ
trong quá trình xét duyệt, thẩm định nên việc xác định các đối tượng được hưởng
chế độ chính sách còn chưa đúng… những tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức
thực hiện chính sách, nếu không có những giải pháp kịp thời để khắc phục, hoàn
thiện, sẽ ảnh hưởng đến chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước. Nhằm đề
xuất biện pháp tiếp cận những cơ sở chính sách mới trong công tác thực hiện chính

thực trạng pháp luật về ưu đãi xã hội, trong đó có phần đề cập đến pháp luật về
người có công. Trong nội dung của đề tài, tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh
giá thực tiễn cũng như những hạn chế của pháp luật ưu đãi xã hội, từ đó nêu lên
những kiến nghị có thể hoàn thiện hơn pháp luật về ưu đãi người có công.
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam “Chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách
mạng từ năm 1991 đến năm 2010” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài [12] đã trình
bày khái quát hoàn cảnh lịch sử, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam đối với thương binh, liệt sĩ và NCCVCM từ năm 1991 đến năm 2010 theo hai
giai đoạn từ 1991-1995 và 1996-2010 gắn với những kết quả cụ thể; đánh giá những
ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế từ đó đúc rút được những kinh
nghiệm của Đảng, Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ và NCCVCM.
“Hỏi đáp pháp luật về chính sách xã hội đối với người có công với cách
mạng” của tác giả Phạm Tiến Giang [9]. Cuốn sách tổng hợp những câu hỏi, trả lời,
giải đáp những thắc mắc liên quan đến các chế độ, chính sách NCCVCM theo quy
định của các văn bản pháp luật. Đây là tài liệu hữu ích dành cho người dân, đối
tượng thụ hưởng chính sách tìm hiểu, nghiên cứu, nắm bắt được những thông tin,
giải đáp thắc mắc về chính sách NCCVCM theo quy định pháp luật.
Ngoài những công trình nghiên cứu kể trên, còn rất nhiều công trình khác,
các bài viết liên quan đến đề tài chính sách người có công với cách mạng được đăng
trên các tạp chí như: “Quản lý nhà nước về ưu đãi người có công ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Đỗ Thị Hồng Hà [10]; Bài viết “Tiếp tục thực hiện tốt chính sách
ưu đãi người có công với nước hiện nay, định hướng đến năm 2020” của Phạm Thị
Hải Chuyền [6]; Bài viết “Đẩy mạnh xã hội hoá công tác chăm sóc người có công
và hoàn thành xác nhận người có công với cách mạng” của tác giả Bùi Sỹ Lợi
[21];…
2.2. Nhóm nghiên cứu thực hiện chính sách người có công với cách mạng
“Nâng cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện
pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta hiện nay” của Phạm Hải
Hưng [14]. Từ việc tìm hiểu thực trạng ban hành và thực hiện Pháp lệnh ưu đãi

sách.
“Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và quy trình giải quyết hồ
sơ xác nhận người có công” của Nguyễn Hữu Đại [7]. Cuốn sách đã khái quát
chung về chính sách NCCVCM ở nước ta, hệ thống lại các văn bản pháp luật được
Chính phủ, Bộ LĐ-TB&XH ban hành quy định về một số nội dung liên quan chính
sách ưu đãi, trợ cấp, phụ cấp tiền lương, bảo hiểm, hỗ trợ nhà ở đối với người có
công, quy trình giải quyết hồ sơ xác nhận người có công năm 2017 như: Quyết định
408/QĐ-LĐTBXH ngày 20/3/2017 của Bộ LĐ-TB&XH về quy trình giải quyết hồ

5


sơ tồn đọng xác định người có công; Quyết định 157/QĐ-BCĐCCTLBHXH ngày
21/3/2017 ban hành Quy chế làm việc của ban chỉ đạo cải cách chính sách tiền
lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; Nghị định 19/2017/NĐ-CP ngày
24/2/2017 của Chính phủ quy định về chế độ tiền lương của công nhân quốc phòng
và chế độ phụ cấp thâm niên đối với viên chức quốc phòng;…Cuốn sách là tài liệu
cần thiết trong công tác thực hiện chính sách NCCVCM.
Bên cạnh đó, còn rất nhiều những bài viết, bài phát biểu với chủ đề thực hiện
chính sách NCCVCM được đăng trên các tạp chí, báo điện tử: Bài viết “Thực hiện
chính sách người có công là trách nhiệm của cả xã hội” của tác giả Quang Vũ,
Phúc Hằng [13]; Bài viết “Nhìn lại 3 năm thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có
công” của tác giả Bùi Hồng Lĩnh [19]; Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân
Phúc [25] về thực hiện chính sách người có công được đăng tải trên website Báo
Quân đội nhân dân online;…
Nhìn chung, các bài viết công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều
góc độ của văn bản pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật nói riêng và
việc triển khai thực hiện chính sách người có công với cách mạng tại mỗi thời kỳ
khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn đều tập trung ở phương diện rộng, trên quy mô toàn
quốc hoặc cấp tỉnh, thành phố, một số đề tài chỉ mới nghiên cứu việc thực hiện

tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình thực hiện chính sách người có công với cách mạng
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Trong giới hạn của luận văn chỉ tập trung vào giai đoạn tổ
chức thực hiện chính sách trợ cấp thường xuyên, chính sách nhà ở, chính sách chăm
sóc sức khoẻ, mai táng… đối với người có công với cách mạng và đánh giá kết quả
thực thi.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn từ năm 2016 đến tháng
1/2019.
- Không gian: Quận Sơn Trà - Thành phố Đà Nẵng
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận được luận văn sử dụng là phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

7


các quan điểm chỉ đạo Đảng và Nhà nước ta để nghiên cứu về thực hiện chính sách
người có công với cách mạng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn: là những tài liệu thu thập được từ
những kế hoạch, báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có, các tài liệu khác có liên
quan đến đề tài) thông qua việc phân tích - tổng hợp, xử lý số liệu, thống kê - so
sánh để xây dựng cơ sở lý luận cho Chương 1, một số nội dung ở Chương 2 và xây
dựng nhóm giải pháp tại Chương 3.
- Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp phỏng vấn sâu: tiến hành khảo sát
tại Phòng Lao động – Thương binh & xã hội quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵ

người có công với cách mạng trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1. Người có công
1.1.1. Khái niệm
Ở mỗi thời kỳ, chế độ khác nhau thì chính sách người có công cũng khác
nhau. Nhưng suy cho cùng thì chính sách ưu đãi đối với người có công là sự ghi
nhận những công lao của họ cho đất nước, là những chế độ đãi ngộ về vật chất và
tinh thần, là sự bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã hy sinh, những người đã
cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.
Trước đây, tại Thông tư số 16-TBXH ngày 11/10/1977 của Bộ Thương binh
Xã hội (nay là Bộ LĐ-TB&XH) về hướng dẫn thi hành Quyết định số 208-CP ngày
20/7/1977 của Hội đồng Chính phủ về chế độ đãi ngộ đối với những người và gia
đình có công với cách mạng có quy định:
“Những người và gia đình NCCVCM là những người trực tiếp giúp đỡ cách
mạng khi chưa giành được chính quyền, hoặc trong vùng bị địch kìm kẹp, khủng bố
gắt gao; sự giúp đỡ này nếu bị lộ sẽ gây nguy hiểm cho người giúp đỡ cách mạng về
tính mạng, tài sản như bị địch bắt bớ, tù đày, sát hại, triệt phá nhà cửa,v.v…
NCCVCM được hưởng chế độ đãi ngộ là người trực tiếp giúp đỡ cách mạng,
được đứng tên trong quyết định khen thưởng.
- Tại Điều 1, Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi bổ
sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM số 26/2005/PL-UBTVQH11 đã

9


được sửa đổi bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của lệnh ưu đãi
NCCVCM số 35/2007/PL-UBTVQH11 quy định NCCVCM bao gồm:


10


trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến
giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
công nhận theo quy định của pháp luật”. Ở khái niệm này, người có công bao gồm
người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời mình hoặc một
phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng [30, tr.15].
Tóm lại, có thể hiểu một cách đơn giản: NCCVCM là những người không
phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác,… đã đóng góp công lao
hoặc hy sinh tính mạng, hi sinh một phần thân thể trong thời kỳ cách mạng tháng
Tám, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa
vụ quốc tế,…được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.
1.1.2. Đặc điểm, nhu cầu người có công với cách mạng
- Đặc điểm
Trong suốt chiều dài những cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, NCCVCM
là những người hầu hết đều trải qua chiến tranh, họ luôn nhớ về những người cùng
hoạt động cách mạng, những đồng đội đã anh dũng hy sinh; có ý thức tự hào về quá
khứ cống hiến của mình cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những
phẩm chất và truyền thống cách mạng; phần lớn họ tuổi đã cao, sức khỏe bị suy
giảm nhiều do bị thương tật, bệnh tật; họ có nhiều công lao, đóng góp cho cách
mạng, cho đất nước.
Khi hòa bình lập lại, NCCVCM tiếp tục có nhiều đóng góp vào công cuộc xây
dựng, phát triển đất nước, họ luôn trăn trở trước vận mệnh của đất nước; họ tình
nguyện tham gia vào các hoạt động đi tìm đồng đội, các hoạt động xã hội ở địa
phương; là tấm gương cho gia đình, dòng họ, con cháu noi theo; họ nhạy cảm với
các chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước. Có thể nói rằng họ là những người
có uy tín, là lực lượng trụ cột có tiếng nói quan trọng trong cộng đồng dân cư, trong
đời sống xã hội để vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện các chủ trương, chính

nhiều của con người. Đồng thời việc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng nhiều ấy
cũng chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia vào các hoạt động sản xuất,
hoạt động xã hội.
Để làm rõ nhu cầu của NCCVCM, tác giả áp dụng thuyết nhu cầu của
A.Maslow để nghiên cứu. Từ đó xem xét nhu cầu nào đã được đáp ứng, sự đảm
bảo, đảm bảo ở mức độ nào, tính bền vững ra sao; nhu cầu nào chưa được đáp ứng;
NCCVCM muốn được đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình
tự 5 nhu cầu từ thấp tới cao của tác giả A.Maslow.

12


Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, hiện nay NCCVCM có những nhu cầu sau:
- Đối với nhu cầu sống: Trải qua nhiều năm tháng tham gia chiến đấu, phục vụ
kháng chiến, công tác nơi chiến trường gian khổ trở về với cuộc sống đời thường,
NCCVCM gặp nhiều khó khăn trong việc bắt nhịp với cuộc sống, nhất là ở những
khu vực đô thị có cuộc sống thay đổi nhanh chóng. Vì số đông NCCVCM tuổi đã
cao, sức khỏe bị suy giảm do thương tật, bệnh tật, di chứng của chiến tranh, thiếu
vốn, trình độ tay nghề thấp hoặc không có nên cuộc sống còn nhiều khó khăn; mức
sống của NCCVCM chưa thể ngang bằng với mức sống bình quân của người dân
nơi cứ trú; cuộc sống của họ và nhiều gia đình phụ thuộc vào nguồn trợ cấp hằng
tháng; nhiều gia đình chưa có nhà ở ổn định...
- Đối với nhu cầu an toàn: NCCVCM đã trải qua những phút giây sinh tử, lằn
ranh giữa sự sống và cái chết, sự tra tấn của quân thù... nên họ hiểu được sự tàn
khốc, mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra. Vì vậy họ rất quý trọng sự sống;
muốn được sống, nghỉ ngơi, sinh hoạt, làm việc trong sự an bình, độc lập; muốn
được xã hội quan tâm, gia đình chăm sóc, muốn được tiếp cận với các dịch vụ y tế
để khám chữa bệnh nhằm đảm bảo sức khỏe.
- Đối với nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó: NCCVCM hiện nay tuổi đã cao
nên rất muốn được quan tâm, chia sẻ, sự đồng cảm nên rất muốn sinh hoạt với đồng

có công, tạo mọi điều kiện, khả năng để bù đắp phần nào về đời sống vật chất và
tinh thần đối với NCCVCM.
Chính sách người có công là phương tiện, công cụ quản lý có hiệu lực mọi
mặt đời sống vật chất và tinh thần trong lĩnh vực ưu đãi xã hội đối với người có
công. Chính sách người có công được ban hành, thể hiện chính sách “Đền ơn đáp
nghĩa”, là thực hiện nghĩa vụ công dân và công bằng xã hội, đây không phải là sự
“đền bù”, bởi lẽ sự hy sinh của người có công là cao quý, vì đại nghĩa, bằng xương
và máu, bằng tài sản và tính mạng thì không có gì có thể so sánh được, không có gì
có thể đền bù được. Sự “Đền ơn đáp nghĩa” không chỉ là vật chất thuần túy mà còn
là đạo lý, truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam, là lòng kính trọng, biết ơn
sâu sắc của nhiều thế hệ hôm nay và mai sau đối với người có công. Chính sách
NCCVCM là chính sách đặc biệt thực hiện cho những đối tượng đặc biệt, thể hiện
một cách rõ nét nhất đường lối của Đảng và Nhà nước. Chính sách có vai trò quan
trọng, mang ý nghĩa chính trị, nhân văn sâu sắc; phản ánh sự quan tâm, ý thức của
xã hội, Nhà nước, của cả cộng đồng, sự bày tỏ lòng biết ơn của các thế hệ sau đối
với các thế hệ cha anh đi trước. Đây được xem là chính sách ưu tiên thực hiện trong
suốt quá trình cách mạng của Đảng, Nhà nước ta.

14


Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi bổ sung một số
điều của Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM số 26/2005/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi
bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi
NCCVCM số 35/2007/PL-UBTVQH11 quy định đối tượng được hưởng các chế độ
ưu đãi đối với NCCVCM bao gồm NCCVCM và thân nhân của NCCVCM. Các chế
độ ưu đãi đối với từng loại đối tượng được hưởng cũng được quy định cụ thể, rõ
ràng trong Pháp lệnh ưu đãi đối với NCCVCM, cơ bản bao gồm các chế độ như:
Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng; Mai táng phí; Cấp phát bảo hiểm y tế; Hỗ
trợ nhà ở; Điều dưỡng phục hồi sức khoẻ hằng năm; Cấp phương tiện trợ giúp, dụng

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, dẫn lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng
khái quát sâu sắc về quan điểm chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn
đề có tầm chiến lược này như sau: “…phải đối đãi với những người, những gia đình
liệt sĩ và thương binh cũng như là những người đã có cống hiến rất lớn, rất lớn đối
với sự nghiệp cách mạng, đối với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân; đó
là một vấn đề rất quan trọng, một vấn đề chính trị, một vấn đề tư tưởng, một vấn đề
tình cảm, một vấn đề xã hội, một trong những vấn đề lớn của nước ta, một vấn đề
của tất cả chúng ta, một vấn đề lớn của Đảng ta, Nhà nước ta, của các tổ chức quần
chúng, một vấn đề của các cơ quan có trách nhiệm ở Trung ương và của cơ quan có
trách nhiệm ở địa phương, của tỉnh, của huyện, của xã. Một vấn đề mà không cho
phép một người Việt Nam nào không quan tâm,…”[20]
Xuyên suốt thời kỳ cách mạng, đến nay, việc thực hiện tốt những chính sách,
chế độ ưu đãi đối với người có công luôn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ trọng
tâm, thường xuyên, luôn phải quan tâm và đảm bảo thực hiện. Không ngừng hoàn
thiện, bổ sung, điều chỉnh những quy định, văn bản pháp luật phù hợp với với từng
điều kiện, hoàn cảnh đất nước để đáp ứng được nhu cầu thiết yếu, cải thiện và nâng
cao mức sống cho NCCVCM là một việc làm cần thiết.
Thứ hai, chính sách NCCVCM khắc phục sự phân hoá giàu nghèo – khuyết
tật của nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý, điều
tiết của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kinh tế thị
trường bên cạnh những ưu điểm, thì nó cũng chứa đựng những hạn chế, khuyết tật
như sự phân hoá giàu nghèo, phân cực về của cải, ô nhiễm môi trường,…
NCCVCM là những người đã từng cống hiến, hi sinh, chịu nhiều thiệt thòi
cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, do đó họ cần được quan tâm, tôn trọng và
nhận được sự chăm sóc, chia sẻ, động viên từ phía cộng đồng. Đại bộ phận
NCCVCM luôn ý thức và có tinh thần trách nhiệm giữ gìn phẩm chất, truyền thống
cách mạng, gương mẫu chấp hành các quy định trong đời sống và công tác. Rất


hội, xây dựng đất nước công bằng, tiến bộ, văn minh; đảm bảo trách nhiệm của
công dân trong việc thực nhiệm nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội theo quy định của
Hiến pháp.
1.3. Thực hiện chính sách người có công với cách mạng
1.3.1. Khái niệm thực hiện chính sách người có công với cách mạng

17


Thực hiện chính sách NCCVCM là toàn bộ quá trình đưa chính sách vào đời
sống xã hội theo một quy trình thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm giải quyết vấn
đề ưu đãi đối với người có công với NCCVCM đang diễn ra đối với những đối
tượng cụ thể trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định.
Giống như các CSC khác được ban hành, chính sách NCCVCM có tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người, có liên quan tới nhiều chủ thể
khác nhau trong xã hội. Vì vậy, quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách
này cần huy động sự tham gia của các bên. Các bên tham gia vào quá trình thực
hiện chính sách NCCVCM bao gồm: các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các tổ
chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức đoàn thể nhân dân, cán bộ,
công chức nhà nước có thẩm quyền và các cá nhân trong xã hội, nhằm đưa chính
sách vào thực tế. Trong đó:
Chủ thể triển khai thực hiện Chính sách NCCVCM bao gồm các cơ quan
trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương (Chính phủ; các Bộ, Cơ
quan ngang Bộ; HĐND các cấp; UBND các cấp) trong đó chủ yếu là các cơ quan
trong bộ máy hành chính nhà nước cùng với đội ngũ cán bộ, công chức hành chính
nhà nước có thẩm quyền.
Chủ thể tham gia phối hợp thực hiện Chính sách NCCVCM ở nước ta hiện
nay rất phong phú, có thể là các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận tổ quốc, Công
đoàn, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh,…); các
hiệp hội nghề nghiệp – xã hội ở Trung ương đến địa phương; các doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status