BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN
GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐĂK LĂK, NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG
Nguyễn Thị Thu Hiền
LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ
trên địa bàn tỉnh Gia Lai” được hoàn thành với sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt
tình của các giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia; sự quan tâm, tạo điều
kiện trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của Ban An toàn giao thông tỉnh Gia
Lai (Văn phòng Ban), Sở Giao thông vận tải và Công an tỉnh Gia Lai.
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Minh Sản vì sự tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban Giám đốc, các thầy
giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và toàn thể cán bộ,
nhân viên của Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo những điều kiện học tập
thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành
chương trình cao học.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Văn phòng Ban An toàn giao thông
tỉnh, Sở Giao thông vận tải, Công an tỉnh Gia Lai và đồng nghiệp, gia đình đã
động viên, quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành chương
trình học tập và bản luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hiền
MỤC LỤC
NỘI DUNG
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩ thực tiễn của luận văn
6
7. Kết cấu của luận văn
7
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ.
8
1.1. Trật tự, an toàn giao thông đường bộ
8
1.2. Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ
13
1.3. Những yếu tố đảm bảo quản lý nhà nước về trật tự, an toàn
giao thông đường bộ
31
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
TRẬT TỰ, AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TRÊN
giao thông đường bộ ở Gia Lai
78
80
KẾT LUẬN.
97
1. Kết luận
97
2. Kiến nghị
98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài luận văn
Tai nạn giao thông đã và đang là vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm,
là thách thức lớn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, đòi hỏi mỗi quốc
gia phải đưa ra những hành động thiết thực, phù hợp để giảm thiểu những
thiệt hại và tác động của nó gây ra. Chính vì vậy, đảm bảo trật tự, an toàn
giao thông là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia, là điều kiện
cần thiết để phát triển kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng và ổn định trật tự
xã hội.
chủ yếu, chiếm tỷ trọng gần 98% sản lượng.
Trong những năm qua, nhờ tăng cường thực hiện những biện pháp cấp
bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông; kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
được đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải thiện đáng kể song trong điều kiện số
lượng phương tiện cơ giới đường bộ gia tăng một cách nhanh chóng, đặc biệt
là phương tiện xe mô tô, xe gắn máy và phương tiện ô tô cá nhân thì kết cấu
hạ tầng giao thông đường bộ hiện có chưa đáp ứng với sự phát triển của
phương tiện. Việc xử lý các điểm đen về tai nạn giao thông gặp nhiều khó
khăn, công tác quản lý, đăng kiểm phương tiện, công tác đào tạo, sát hạch,
cấp giấy phép lái xe còn nhiều tồn tại. Công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi
phạm của các lực lượng chức năng có lúc chưa thường xuyên, thiếu quyết
liệt,.... Mặt khác, mức độ hiểu biết và ý thức chấp hành các yêu cầu về an
toàn giao thông của người tham gia giao thông và của cộng đồng vẫn còn
thấp đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 44,75% dân số của
tỉnh). Đây là nguyên nhân làm cho tình hình tai nạn giao thông đường bộ trên
địa bàn tỉnh mặc dù có xu hướng giảm trong những năm gần đây song lại có
diễn biến phức tạp, khó lường. Theo thống kê cho thấy tình hình tai nạn giao
thông qua các năm như sau: năm 2013 xảy ra 436 vụ tai nạn giao thông; năm
2
2014 xảy ra 340 vụ, giảm 96 vụ so với năm 2013; năm 2015 xảy ra 412 vụ,
tăng 72 vụ so với năm 2014; năm 2016 xảy ra 424 vụ, tăng 13 vụ; năm 2017
xảy ra 413 vụ, giảm 11 vụ so với năm 2016; năm 2018 xảy ra 395 vụ, giảm
18 vụ so với năm 2017.
Là một công chức gắn bó với ngành Giao thông vận tải lâu năm, mong
muốn có những giải pháp khoa học, thấu đáo để hoàn thiện quản lý nhà nước
về trật tự, an toàn giao thông đường bộ nhằm góp phần kiềm chế tai nạn giao
thông, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước về
trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai” là đề tài
thiện luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trật tự,
an toàn giao thông đường bộ và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về trật
tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai nhằm đề xuất các
giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ
trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ cụ thể dưới đây:
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về trật tự, an
toàn giao thông đường bộ;
Hai là, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai;
Ba là, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về trật tự, an
toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
4
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là hoạt động quản lý
nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về không gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về trật tự, an
toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
Về thời gian: Từ năm 2013 – 2018.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tìm hiểu các nghiên cứu đã
trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh do Ban Tuyên giáo Tỉnh
ủy Gia Lai tiến hành trên phạm vi toàn tỉnh với quy mô 1.000 phiếu. Đối
tượng điều tra: cán bộ, đảng viên; lực lượng vũ trang; hưu trí; công nhân;
nông dân; đoàn viên, thanh niên và lái xe ở các công ty, doanh nghiệp kinh
doanh vận tải trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Thời gian điều tra: tháng 12 năm
2017.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng linh hoạt một số phương pháp khác để
làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩ thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ lý luận quản lý nhà nước về trật tự, an toàn
giao thông đường bộ, thực trạng công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn
giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Từ đó khẳng định vai trò quan
trọng của quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và nêu ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao
thông đường bộ ở tỉnh Gia Lai.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
6
Kết quả nghiên cứu của luận văn nhất là những giải pháp mà luận văn
đưa ra có ý nghĩa khuyến nghị bổ ích đối với những cơ quan, cán bộ, công
chức làm công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn
Gia Lai hiện nay.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên
cứu cho những ai quan tâm về vấn đề đảm bảo trật tự, an toàn giao thông
đường bộ nói chung và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh
Gia Lai nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
môi trường; hạn chế thấp nhất các vi phạm Luật giao thông đường bộ và các
quy phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, kiềm chế tai nạn
giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra” [18].
Trật tự, an toàn giao thông đường bộ là việc chấp hành triệt để những
yêu cầu về kỹ thuật, quản lý đối với các công trình giao thông và phương tiện
giao thông, quy định đối với người tham gia giao thông khi hoạt động trên
đường bộ, là cho giao thông được trật tự, an toàn thông suốt, thuận tiện [18].
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, năm 2005 thì
“trật tự, an toàn giao thông - trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và
8
điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công
cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo nhờ đó bảo đảm cho
hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất
tai nạn giao thông, gây thiệt hại về người và tài sản. Trật tự, an toàn giao
thông là một mặt của trật tự, an toàn xã hội” [38].
Như vậy có thể hiểu trật tự, an toàn giao thông đường bộ là trạng thái
xã hội được điều chỉnh bằng hệ thống quy phạm pháp luật bắt buộc mọi chủ
thể tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo và xử sự có văn hóa nhằm
bảo đảm an toàn cho người và tài sản khi tham gia giao thông; hạn chế đến
mức thấp nhất tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, giao thông được tiện
lợi, thông suốt, an toàn, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu mỹ quan giao thông,
chống ô nhiễm môi trường.
1.1.2. Đặc điểm của trật tự, an toàn giao thông đường bộ
Trật tự, an toàn giao thông đường bộ có 3 đặc điểm sau đây:
Một là, trật tự, an toàn giao thông đường bộ là việc các đối tượng tham
gia giao thông thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về giao thông
đường bộ do Nhà nước ban hành nhằm bảo đảm giao thông đường bộ được
thông suốt; người, hàng hóa, phương tiện tham gia giao thông không bị xâm
nước, của từng vùng, miền và của địa phương.
Khi nói về vai trò của giao thông đường bộ và trật tự, an toàn giao
thông đường bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cầu đường là mạch
máu của đất nước. Cầu đường tốt thì lợi cho kinh tế: hàng hóa dễ lưu thông,
sinh hoạt đỡ đắt đỏ, nhân dân khỏi thiếu thốn” [20]. Xã hội càng phát triển
đòi hỏi hoạt động giao thông nói chung, giao thông đường bộ nói riêng càng
hiện đại, phục vụ nhanh hơn, thuận tiện hơn, tiện nghi, văn minh hơn và an
toàn hơn. Trật tự, an toàn giao thông đường bộ tốt sẽ tạo điều kiện giao lưu
kinh tế, phát triển đồng đều giữa các vùng lãnh thổ làm giảm chênh lệch về
10
mức sống và dân trí giữa các vùng. Ngoài ra, giao thông phát triển thì hoạt
động giao lưu văn hóa, giáo dục, y tế, v.v… sôi động hơn, hiệu quả hơn.
Tóm lại, sản xuất xã hội càng phát triển thì vận chuyển, cung cấp vật
tư, hàng hóa phục vụ sản xuất và nhu cầu đi lại của con người ngày càng tăng.
Do đó, giao thông vận tải nhất là giao thông đường bộ ngày càng phát triển.
Khi kinh tế phát triển thì giao thông đường bộ ngày càng phát triển theo với
trật tự, an toàn cao để đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống. Tốc độ phát triển
của giao thông đường bộ cùng mức độ an toàn, thuận tiện của nó và phát triển
kinh tế là một quan hệ tỷ lệ thuận.
1.1.3.2. Trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với đảm bảo trật tự,
an toàn xã hội
Trật tự, an toàn giao thông đường bộ là một bộ phận không thể tách rời,
có quan hệ khăng khít với trật tự, an toàn xã hội. Bởi vì, hoạt động giao thông
đường bộ diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, liên quan đến mọi tầng lớp dân cư, mọi
chủ thể trong xã hội. Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được bảo đảm, tức
giao thông được thông suốt, tài sản, tính mạng, mọi lợi ích chính đáng khác
của những chủ thể tham gia giao thông được đảm bảo, người dân có cuộc
sống yên lành, ổn định, nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế, .... được thuận lợi là
Việt Nam đến năm 2020 đã khẳng định: “phát triển hệ thống giao thông vận
tải trên cơ sở hiệu quả nhất về mặt kinh tế - xã hội với việc đảm bảo ổn định
chính trị, an ninh, quốc phòng” [8].
1.1.3.4. Trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với thúc đẩy giao lưu,
hội nhập khu vực và quốc tế
Để tạo được hội nhập khu vực và quốc tế, ngoài các dịch vụ vận tải,
thương mại, quá cảnh, v.v… nhất thiết phải có một hệ thống giao thông
đường bộ hài hòa và thuận tiện nhằm cung cấp mạng lưới kết cấu hạ tầng giao
thông vận tải ở trình độ tiên tiến hữu hiệu và an toàn có tiêu chuẩn kỹ thuật
12
phù hợp với tiêu chuẩn khu vực và thế giới. Đường bộ xuyên Á, ASEAN, khu
vực nhằm mục tiêu nối thủ đô với thủ đô, nối các khu công nghiệp, các trung
tâm, nối các khu danh lam thắng cảnh, du lịch, nối các cảng biển với các cảng
biển. Hệ thống đường này sẽ tạo hành lang vận tải xuyên quốc gia, khu vực,
thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa, hành khách.
Tóm lại, hoạt động giao thông đường bộ được thông suốt, trật tự, an
toàn, thuận lợi là tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh, quốc
phòng, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy giao lưu hội nhập khu vực và
quốc tế, cũng như tạo động lực quan trọng cho các lĩnh vực khác của đời
sống xã hội không ngừng phát triển.
1.2. Quản lý nhà nƣớc về trật tự, an toàn giao thông đƣờng bộ
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông
đường bộ
Quản lý: Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới
những mục tiêu nhất định[14].
Quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực
nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân, tổ
kiện của người điều khiển xe thô sơ tham gia giao thông.
Ba là, quy tắc giao thông đường bộ: Gồm các quy tắc chung, hệ thống
báo hiệu đường bộ, chấp hành báo hiệu đường bộ, tốc độ và khoảng cách giữa
các xe, sử dụng làn đường, quy định vượt xe; chuyển hướng xe, lùi xe; tránh
vượt xe; dừng xe; đỗ xe trên đường trong và ngoài đô thị; quyền ưu tiên của
một số xe; qua phà; qua cầu phao; nhường đường tại những nơi giao nhau; đi
trên đoạn đường giao với đường sắt; giao thông trên đường cao tốc; giao
thông trong hầm đường bộ; bảo đảm tải trọng và khổ giới hạn của đường bộ;
xe kéo và xe kéo rơ móoc; người điều khiển và người ngồi trên xe mô tô, xe
14
gắn máy; người điều khiển và người ngồi trên xe đạp, người điều khiển xe thô
sơ khác, người đi bộ; người tàn tật, người già yếu tham gia giao thông; người
điều khiển, dẫn dắt súc vật đi trên đường bộ; các hoạt động khác trên đường
bộ; sử dụng đường phố đô thị; tổ chức giao thông và điều khiển giao thông;
trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông.
Như vậy, quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ là
hoạt động mang tính chất quyền lực của cơ quan hành chính nhà nước nhằm
tạo ra các điều kiện để xác lập, duy trì và ổn định các quan hệ về giao thông
theo quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Đây là
một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnh vực an ninh, trật tự.
Bởi vì tai nạn giao thông hàng ngày vẫn xảy ra đã và đang là một hiểm họa
không chỉ đối với nước ta mà còn là hiểm họa chung đối với tất cả các quốc
gia trên thế giới.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông
đường bộ
Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ là hoạt động
chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội được
Nhà nước ủy quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự,
quan hệ trật tự an toàn giao thông đường bộ. Hệ thống pháp luật về trật tự, an
toàn giao thông đường bộ chỉ hoàn thiện khi đáp ứng được đầy đủ bốn tiêu
chí, đó là tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và có kỹ thuật pháp lý
cao. Trong đó, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật có
tầm quan trọng đặc biệt, giúp khắc phục kịp thời những hạn chế, bất cập đồng
thời nâng cao chất lượng, hiệu quả của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông
đường bộ.
Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông
đường bộ có thể kể đến như:
16
Luật: Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 được Quốc hội
thông qua ngày 15/11/2008. Nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về trật
tự, an toàn giao thông đường bộ bao gồm các hoạt động: Xây dựng quy
hoạch, kế hoạch và chương trình về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Xây
dựng, hoàn thiện pháp luật về giao thông đường bộ; phân công trách nhiệm
quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ;
Tổ chức thực hiện pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Tổ chức
quản lý, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; Quản lý phương
tiện giao thông đường bộ; Quản lý đào tạo người điều khiển phương tiện giao
thông cơ giới đường bộ; Kiểm tra, thanh tra và tuần tra, kiểm soát, xử lý vi
phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Tổ chức nghiên cứu,
ứng dụng khoa học công nghệ; Hợp tác quốc tế về trật tự, an toàn giao thông
đường bộ[23].
Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007: Ngày 29/6/2007, Chính
phủ ban hành Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP về một số giải pháp cấp bách
nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông. Nghị quyết đánh giá
những nguyên nhân tai nạn giao thông là: do sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ
Xây dựng chiến lược phát triển phương tiện giao thông đường bộ phù hợp với
phát triển kết cấu hạ tầng giao thông; Nâng cao chất lượng quản lý phương
tiện và người điều khiển phương tiện; Coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra;
Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông [3].
Nghị quyết số 30/NQ-CP, ngày 01/3/2013: Ngày 01/3/2013, Chính phủ
ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện Chỉ
thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao
thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao
18
thông” đề ra các nhiệm vụ, giải pháp như sau: Đề cao vai trò và gắn trách
nhiệm của người đứng đầu các đơn vị, chính quyền địa phương đối với công
tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và khắc phục ùn tắc giao thông; Phổ
biến, giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông; Tập trung các nguồn
lực xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, nâng cao năng lực vận
tải; Tổ chức thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý
nhà nước về trật tự, an toàn giao thông; Thực hiện các giải pháp phòng ngừa,
khắc phục ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn, thành phố Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh và các tuyến giao thông trọng điểm [34].
Nghị định số 46/2016/NĐ-CP: Ngày 26/5/2016 Chính phủ ban hành
Nghị định số 46/2016/NĐ-CP về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt [35].
Các văn bản pháp luật khác như: Quyết định số số 994/QĐ-TTg, ngày
29/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch lập lại trật tự
hành lang an toàn đường bộ, đường sắt giai đoạn 2017-2020; Chỉ thị số
12/CT-TTg, ngày 02/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các
giải pháp cấp bách nhằm bảo đảm trật tự an toàn giao thông trong hoạt động
kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô và công tác bảo đảm trật tự an toàn