Quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh đắk lắk - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
….…/…….

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ HOÀI ANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI Y TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

i

ĐẮK LẮK - NĂM 2018


Fgiariáp

ii


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
….…/…….


Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc,
thầy giáo, cô giáo của Học viện đã truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích và tạo
điều kiện để tác giả hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu của mình.
Xin cảm ơn các cơ quan Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Y tế, Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, cán bộ thư viện của Học viện đã tạo điều kiện
trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu để tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đặng Thị Minh, là
người đã đồng hành, tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình làm luận
văn.
Mặc dù tác giả đã cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng do khả
năng còn hạn chế, kinh nghiệm chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy giáo, cô
giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Tác giả

Lê Hoài Anh

ii


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN..............................................................................................i
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT........................................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG...............................................................................vi
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CHẤT THẢI Y TẾ............................................................................................9
1.1. Cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài.........................................................9
1.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về chất thải y tế................................23


(Oxic )
Ngân hàng phát triển Châu Á (Asian Development

AIDS

Bank)
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired

BOT

Immuno Deficiency Syndrom)
Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (Build - Operate -

BTNMT
BVMT
BYT
CP
CT
GEF

Transfer)
Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bảo vệ môi trường
Bộ Y tế
Chính phủ
Chỉ thị
Quỹ môi trường toàn cầu (Global Environment

HIV

TNHH
TT

Assistance)
Hợp tác công tư (Public Private Partnership)
Quyết định
Sở Tài nguyên và Môi trường
Sở Y tế
Thông báo
Trách nhiệm hữu hạn
Thông tư

giảm

iv

miễn

dịch



người

(Human


TTg
TTLT
TW

Môi trường chính là nơi con người tồn tại và sinh hoạt. Bất cứ hoạt
động nào của con người cũng diễn ra trong một môi trường nhất định và vì
thế nó có những tác động, ảnh hưởng tới môi trường (khai thác đến mức cạn
kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc làm cho môi trường không còn
khả năng tự phân hủy...), từ đó môi trường lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến sức khỏe, đời sống của con người. Môi trường là nền tảng của sự tồn
tại và phát triển bền vững của xã hội, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sự
sống của con người. Hiện nay, bảo vệ môi trường là vấn đề nóng của toàn
nhân loại. Đối với Việt Nam, việc tham gia các Công ước quốc tế về môi
trường (Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển chất thải nguy hại qua biên
giới vào năm 1995; Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó
phân hủy vào năm 2001; Công ước Minamata về thủy ngân năm 2013...) là
yêu cầu quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Đảng và Nhà nước ta xác định bảo vệ môi trường là mục tiêu ưu tiên
trong phát triển bền vững của quốc gia. Từ việc đánh giá thành tựu, hạn chế
trong công tác bảo vệ môi trường, Đại hội XII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu quan
trọng về môi trường; trong đó đến năm 2020, 85% chất thải nguy hại, 95 100% chất thải y tế được xử lý [3, tr.273].
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hàng
loạt các bệnh viện và cơ sở y tế của Nhà nước và tư nhân được đầu tư xây
dựng phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng, kéo theo đó lượng chất
thải y tế ngày một nhiều lên. Chất thải y tế chứa đựng các yếu tố truyền
nhiễm, độc hại; nếu chất thải y tế không được quản lý tốt sẽ để lại hậu quả
không lường hết được đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng (gây ra các


đại dịch cho cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường...). Tuy nhiên, đáng lo ngại
hiện nay là công tác quản lý chất thải y tế vẫn chưa được quan tâm đúng mức;
hầu hết các bệnh viện đều tiến hành thu gom, phân loại chất thải nhưng
phương tiện thu gom còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa đạt chuẩn, không có
trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn; đối với các cơ

chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là một yêu cầu khách quan, cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay; đó chính là lý do tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà
nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành quản lý công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Cho đến nay, ở nước ta đã có khá nhiều các bài viết, tạp chí, sách, luận
văn thạc sĩ... nghiên cứu về quản lý chất thải y tế, đó là:
- “Nghiên cứu thực hành quản lý chất thải y tế và công nghệ xử lý tại
Việt Nam” của Ngô Kim Chi - Viện Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên, Viện
Khoa học & Công nghệ Việt Nam, năm 2012. Nghiên cứu này phân tích thực
hành quản lý chất thải y tế tại Việt Nam về khía cạnh quản lý, công nghệ, sự
tham gia của các bên liên quan và nguồn kinh phí nhằm giúp cải tiến các quy
trình giám sát trong chuỗi các hoạt động quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
[15].
- “Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại một số bệnh
viện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý” luận văn thạc sĩ khoa học của Nguyễn Thị Kim Dung, năm
2012. Luận văn tổng kết về công tác quản lý chất thải y tế và các quy định có
liên quan đến công tác quản lý chất thải y tế ở Việt Nam cũng như trên thế
giới. Đánh giá và phân tích thực trạng công tác quản lý chất thải y tế tại một
số bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; từ


đó, tìm ra nguyên nhân các tồn tại, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý chất thải y tế đối với các bệnh viện đa khoa trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên [21].
- “Quản lý chất thải rắn y tế ở các bệnh viện Việt Nam: Nghiên cứu
trường hợp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk năm 2012” của Lê Thị Thanh
Hương, Phùng Xuân Sơn, Tô Thị Liên - Trường Đại học Y tế Công cộng và
Nguyễn Thị Bích Trang - Khoa Y dược - Trường Đại học Tây Nguyên đăng

nguyên nhân các tồn tại, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Bình Dương [43].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã giải quyết được phần lớn các
vấn đề về lý luận và thực tiễn, đưa ra được nhiều giải pháp trong việc giải
quyết các vấn đề về quản lý chất thải y tế. Tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu và phân tích chủ đề quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn
tỉnh Đắk Lắk, để từ đó đề ra những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện quản lý
nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận về quản
lý nhà nước về chất thải y tế, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe cho cộng đồng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan trực tiếp đến
quản lý nhà nước về chất thải y tế.
- Phân tích, đánh giá thực trạng để làm rõ những ưu điểm và hạn chế
của quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Từ đó xác


định và phân tích các nguyên nhân cơ bản của những hạn chế bất cập trong
hoạt động quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn nghiên cứu.
- Nghiên cứu quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình quản lý nhà

quan tâm.
5.2.3. Phương pháp so sánh, đánh giá
Mục đích của phương pháp này là so sánh hai chỉ tiêu cùng loại hay
khác nhau nhưng có liên hệ nhau để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của
một chỉ tiêu nào đó qua thời gian.
5.2.4. Phương pháp chuyên gia
Trao đổi với các chuyên gia để lĩnh hội các ý kiến tư vấn của chuyên
gia về các nội dung nghiên cứu của đề tài.
5.2.5. Phương pháp ước tính, dự báo
Căn cứ khối lượng chất thải y tế phát sinh hiện tại, chiến lược phát
triển ngành y tế tại tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020 để dự báo công tác quản lý
nhà nước về chất thải y tế đến năm 2020.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn về mặt lý luận các khái
niệm, đặc điểm, nội dung và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước
về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về chất thải y tế trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế.
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
các nhà nghiên cứu, giảng dạy, cho các sinh viên, các học viên cao học và các
nhà quản lý cũng như các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực y tế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm.
Chất thải y tế thông thường là những chất thải có chứa thành phần và
tính chất tương tự như chất thải sinh hoạt, không chứa các chất độc hại, các
tác nhân gây bệnh đối với con người và môi trường [10], [16].


1.1.1.2. Quản lý chất thải y tế
Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu
gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình
thực hiện.
- Phân định chất thải y tế: Chất thải y tế được phân định thành 03
nhóm: chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm và chất thải y
tế thông thường. Mỗi nhóm này bao gồm nhiều loại khác nhau để tiện cho
việc phân loại và xử lý.
- Phân loại chất thải y tế: Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông
thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát
sinh; từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ,
thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định. Trường hợp các chất thải y tế nguy
hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một
phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng
cụ, thiết bị lưu chứa; khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc
ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất
thải lây nhiễm. Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì,
dụng cụ phân loại chất thải y tế; vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y
tế phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải.
- Thu gom chất thải y tế: là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát
sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên
cơ sở y tế. Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực
lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế; chất thải có nguy cơ lây nhiễm
cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong

chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây
nhiễm tại cơ sở y tế không quá 2 ngày trong điều kiện bình thường. Trường


hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8 0C, thời
gian lưu giữ tối đa là 7 ngày. Đối với cơ sở y tế có lượng chất thải lây nhiễm
phát sinh dưới 5 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 3 ngày trong điều kiện
bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc thiết bị
lưu chứa được đậy nắp kín. Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ
cơ sở y tế khác về để xử lý theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu
tiên xử lý trong ngày. Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở
nhiệt độ dưới 200C và thời gian lưu giữ tối đa không quá 2 ngày.
- Giảm thiểu chất thải y tế: là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát
thải chất thải y tế. Cơ sở y tế phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu phát
sinh chất thải y tế theo thứ tự ưu tiên: 1- Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng
cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát
sinh chất thải y tế; 2- Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm
giảm thiểu phát sinh chất thải y tế; 3- Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và
hiệu quả.
- Vận chuyển chất thải y tế: là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi
lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử
lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập
trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất
thải y tế. Việc vận chuyển chất thải y tế nguy hại được thực hiện bằng các
hình thức khác nhau theo quy định; phương tiện vận chuyển, dụng cụ, thiết bị
lưu chứa chất thải y tế nguy hại trên phương tiện vận chuyển phải đáp ứng các
yêu cầu theo quy định. Vận chuyển chất thải y tế thông thường thực hiện theo
quy định pháp luật về quản lý chất thải thông thường.
- Xử lý chất thải y tế nguy hại: Chất thải y tế nguy hại phải được xử lý
đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Ưu tiên lựa chọn các công



Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn
tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản
lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phận
quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn
phương đối với xã hội. Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động
của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước.
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là hoạt động của các cơ quan trong
bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động
tư pháp nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.
Tất cả các cơ quan quản lý nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà
nước và pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt
nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước.
Từ cách tiếp cận đó, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về chất
thải y tế là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước
để điều hành, điều chỉnh hoạt động của các cơ sở y tế nhằm xử lý các loại
chất thải y tế một cách kịp thời, đúng phương pháp, đúng quy trình để ngăn
ngừa những nguy cơ gây hại của chất thải y tế đối với sức khỏe của con
người và môi trường.
1.1.2. Phân loại chất thải y tế
Tùy theo dạng tồn tại, chất thải y tế được chia thành 3 loại chính đó là:
chất thải rắn y tế, nước thải y tế, chất thải khí y tế:
- Chất thải rắn y tế là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động
chẩn đoán, xét nghiệm, khám chữa điều trị, các nghiên cứu liên quan,… bao
gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại.



rau thai, bào thai; các chất thải từ phẫu thuật và khám nghiệm tử thi mà
nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm; các chất thải của động vật,
xác súc vật bị nhiễm khuẩn hoặc được tiêm các tác nhân lây nhiễm.
- Chất thải hóa học nguy hại bao gồm chất thải dược phẩm (dược phẩm
quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng; dược phẩm bị đổ; vỏ
lọ, ống kết nối chứa các dược phẩm nguy hại; dược phẩm bị nhiễm khuẩn; các
loại huyết thanh, vắc xin sống giảm độc lực cần thải bỏ; các trang thiết bị,
dụng cụ sử dụng trong việc xử lý dược phẩm như găng tay, mặt nạ…), chất
thải chứa chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (như: Formaldehyde và
các hóa chất khử khuẩn khác, các chất quang hóa học, các dung môi, hóa chất
vô cơ), chất thải chứa chất gây độc tế bào (chất thải gây độc tế bào rất nguy
hiểm có thể gây đột biến gen, quái thai và ung thư), chất thải chứa kim loại
nặng (là những hóa chất nguy hiểm, có độc tính cao như thủy ngân, chì,
cadimi…).
- Chất thải phóng xạ: gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát
sinh từ các hoạt động liên quan đến bệnh nhân trong quá trình sử dụng hạt
nhân, phóng xạ để chẩn đoán và điều trị như các chất bài tiết, nước rửa tay;
các đồ dùng cá nhân như cốc giấy, quần áo; các thiết bị thăm khám, điều trị
như ống hút, kim tiêm, ống nghiệm,… (Danh mục thuốc phóng xạ và hợp
chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị tại Quyết định số
33/2006/QĐ-BYT ngày 24/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
- Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO 2, bình ga, bình khí
dung. Đặc điểm chung của các bình chứa áp suất là tính trơ, ở điều kiện
thường không gây nguy hiểm, nhưng dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt,…



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status