Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
...................1...........................
Bộ NỘI VỤ
..’..../..........
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ MINH HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐẠO TIN LÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ: QUẢN LÝ CÔNG
ĐĂK LĂK, NĂM
2018
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
...’.................’.../....................’...
Bộ NỘI VỤ
..’ / .’.
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THỊ MINH HÀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH
thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Hoàng
Văn Chức, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên c ứ u và hoàn thành lu ận văn. Tôi cũng xin trân trọng cảm
ơn các thầy, cô Học Viện Hành chính Quốc gia đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan Ban Tôn giáo tỉnh Gia Lai, gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến
khích
tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn một cách hoàn chỉnh.
Song, do hạn chế về thời gian, kiến thức và một số nội dung nhạy cảm do yêu cầu
bảo mật. Bởi vậy, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản
thân chưa thấy được. Tôi rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn đồng
nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Tác giả
Trần Thị Minh Hà
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
Chương 1: Cơ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÔI VỚI
Nguyên và tỉnh Gia Lai
3.3. Một số giải pháp
85
3.4. Một số kiến nghị
97
KẾT LUẬN
100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
102
PHỤ LỤC
109
DANH MỤC CÁC BẢNG PHỤ LỤC
Bảng 1.1.
Các chi hội thuộc Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền
Nam) trên địa bàn tỉnh Gia Lai (Tính đến tháng 6/2017)
Trang
hoạt theo chỉ thị số 01/2005/CT-TTg của Thủ tướng
Chính Phủ (Tính đến tháng 6/2017)
135
Bảng 1.6.
136
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Đạo Tin lành du nhập vào Việt Nam từ năm 1911, do Hội Liên hiệp Cơ đốc
và Truyền giáo (Christian and Missionary Alliance), gọi tắt là Tổ chức CMA,
truyền nhập. Hơn một thế kỷ qua, mặc dù có những bước thăng trầm trong quá
trình
tồn tại và phát triển, song với lòng kiên đạo của các nhà truyền giáo trong sứ mệnh
“Mở rộng Nước Chúa”, cho đến nay đạo Tin lành đã trở thành một tôn giáo lớn,
có
ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống xã hội ở Việt Nam.
Tuy xuất hiện muộn so với những tôn giáo khác, nhưng đạo Tin lành lại phát
triển khá nhanh, đặc biệt ở các vùng dân tộc thiểu số. Là một tôn giáo cải cách, có
nhiều yếu tố tiến bộ, luật lệ, lễ nghi, tổ chức giáo hội đơn giản, đề cao tính dân chủ.
Nên đạo Tin lành có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với đời sống văn hóa tinh thần của
đồng bào dân tộc thiểu số, trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Với giáo lý răn
con người sống tiết kiệm và chuẩn mực đạo đức, đạo Tin lành có tác dụng điều
chỉnh hành vi, nhân cách của con người, tác động tích cực tới suy nghĩ và hành
động
của một bộ phận đồng bào, phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước trong
chính sách đối với tôn giáo. Một mặt, đạo Tin lành góp phần hạn chế một số hủ tục
trong tang ma và cưới xin, giảm bớt các tệ nạn xã hội như trộm cắp, ma túy, ngoại
nóng” tôn giáo. Điều đó cho thấy, hoạt động của đạo Tin lành ở Việt
Nam
hiện
nay,
bên cạnh những yếu tố tôn giáo thuần túy còn chứa đựng nhiều vấn đề
mang
tính
phi tôn giáo nên rất phức tạp.
Đạo Tin lành du nhập vào tỉnh Gia Lai từ 1930 - 1931, đến năm 1975 đã
có sự phát triển khá rộng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sau năm 1975,
đạo Tin lành có sự suy giảm, do nhiều nguyên nhân và đến năm 1980 đạo Tin lành
bắt đầu phục hồi và phát triển cả bề rộng và bề sâu ở nhiều dân tộc và nhiều vùng
khác nhau với 1.732 tín đồ ở 8/9 huyện, thị xã. Năm 2000 đã phát triển 53.941 tín
đồ ở 10/13 huyện, thị xã và có 05 h ệ phái Tin lành và đến nay, tỉnh Gia Lai đã có
18 hệ phái Tin lành sinh hoạt với khoảng 138.033 tín đồ (trong đó 1.141 tín đồ là
người Kinh; 136.892 tín đồ là đồng bào dân tộc thiếu số) ở 14/17 huyện, thị xã,
thành phố và trên 104/171 xã, phường, thị trấn [57].
Với sự phát triển nhanh chóng về số lượng tín đồ và hệ phái của đạo Tin lành
trong những năm qua và việc tồn tại của 131 điểm nhóm thuộc 18 hệ phái Tin lành
chưa được đăng ký sinh hoạt tôn giáo; tình trạng chuyển nhượng, hiến, tặng đất
đai
và xây dựng cơ sở thờ tự trái phép tại một số điểm nhóm đã đăng ký; sự gia tăng
hoạt động truyền đạo trái pháp luật, lôi kéo quần chúng, tranh giành tín đồ ở các
làng đồng bào dân tộc thiểu số giữa các tổ chức Tin lành đã được công nhận và
chưa được công nhận; tình trạng các điểm nhóm sau khi đã được cho phép hội
đồng
thành lập chi hội nhưng không tập trung về sinh hoạt tại chi hội mà vẫn duy trì sinh
hoạt tại điểm cũ, ... đã gây khó khăn không nhỏ trong công tác quản lý nhà nước.
Mặt khác, về công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động của đạo Tin
lành
nhiều lúc, nhiều nơi nhất là ở cơ sở còn quá cứng nhắc. Công tác tuyển
dụng,
bố
trí
cán bộ làm công tác tôn giáo không đúng chuyên môn vẫn còn diễn
ra;
việc
xây
dựng lực lượng cốt cán, đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn
giáo
chưa
được
quan tâm đúng mức. Nhận thức về hoạt động tôn giáo nói chung
và
đạo
Tin
lành
nói
riêng của cấp ủy, chính quyền ở một số nơi còn chưa thống nhất, thiếu
đồng
bộ,
lúng túng; có nơi còn ngăn cản, hạn chế các hoạt động của đạo Tin
lành;
có
nơi
buông lỏng quản lý, ngại va chạm, việc phân định chức năng của các
chính
quyền
chưa rõ ràng, hoặc giải quyết không đúng thẩm quyền gây tâm lý
mà họ gán cho hành động xã hội của mình, nhằm đi đến giả
thuyết
cho
rằng
nền
đạo
đức Tin lành có một mối liên hệ tưong đối chọn lọc với tinh thần của
chủ
nghĩa
tư
bản; do vậy đã tạo ra một động lực tinh thần cần thiết và thuận lợi cho
sự
phát
triển
của chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu. Thậm chí ông còn khẳng định rằng,
chủ
nghĩa
tư
bản với tư cách là một hệ thống kinh tế là sản phẩm của cải cách Tin
lành [39].
Bornen and Noble (1986), Các hệ phái Tin Lành Mỹ, New York. Tác giả
phân tích tổng quan về sự hình thành và phát triển, vị trí và vai trò của các hệ phái
Tin lành trong đời sống xã hội nước Mỹ. Mỗi hệ phái đều có lịch sử, đặc điểm
riêng
bởi nguyên nhân ra đời, nó ảnh hưởng đến xu hướng thần học cũng như đường
hướng các hoạt động của mỗi hệ phái [10].
Bensons Y Lendis (1986), Các hệ phái Tin Lành Mỹ, New Youk. Tác giả
phân tích tổng quan về sự hình thành và phát triển, vị trí và vai trò của các hệ phái
Tin lành trong đời sống xã hội nước Mỹ. Mỗi hệ phái đều có lịch sử, đặc điểm
lý, luật lệ, lễ nghi, mối quan hệ và ảnh hưởng của đạo Tin lành đối với
đời
sống
an
ninh, chính trị xã hội tại những noi có đạo[67].
Nguyễn Thanh Xuân (2006), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà
Nội. Cuốn sách đã giới thiệu tổng quan sơ lược về một số tôn giáo lớn trên thế giới
có ở Việt Nam và một số tổ chức, hệ phái của một số tôn giáo. Trong đó đạo Tin
lành tuy có số lượng tín đồ không nhiều nhưng được tác giả chú ý đến với đặc
trưng
là một tôn giáo có sự phát triển nhanh, ảnh hưởng lớn đến đời sống, xã hội ở nước
ta trước đây cũng như hiện nay [69].
TS Nguyễn Quốc Tuấn ,Tiếp cận hệ thống về thực thế tôn giáo: một cách
nhìn khác về tôn giáo (2014), được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo[50].
Tác giả Đỗ Quang Hưng với cuốn “ Chính sách Tôn giáo và Nhà nước pháp
quyền” ( 2014) đề cập nhiệm vụ cơ bản của chính sách tôn giáo nói chung và xây
dựng nhà nước pháp quyền nói riêng là việc thực thi thuyết thế tục hóa, xây dựng
mô hình nhà nước thế lực. Đây là một công trình khoa học có giá trị, có những
phát
hiện mới, kiến giải sâu sắc và mới về lý luận.
Trên địa bàn Tây Nguyên và tỉnh Gia Lai cũng có nhiều công trình nghiên
cứu, đề tài, luận án, luận văn về vấn đề đạo Tinh lành như: Nông Văn Lưu
(1995),
Thực trạng tình hình phục hồi, phát triển đạo Tin Lành ở các vùng dân tộc thiểu số
miền núi nước ta và những vấn đề đặt ra với công tác an ninh, Đề tài khoa học cấp
Bộ, Bộ Công An, Hà Nội [38]; Đỗ Hữu Nghiêm (1995), Đạo Tin lành với các dân
tộc ít người vùng Nam Trường Sơn- Tây Nguyên, Nxb tp.HCM [44]; Nguyễn Văn
Nam (2001), Đạo Tin lành ở Tây nguyên đặc điểm và giải pháp thực hiện chính
sách, Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội [43]; Hoàng Tăng Cường
Nguyễn Văn Bình (2014), Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin
lành trên địa bàn các tỉnh Miền núi phía Bắc, luận văn Quản lý Hành chính công,
Học viện hành chính Quốc gia, Hà Nội [12].
Hoàng Văn Bé ( 2014) Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành
trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk hiện nay, luận văn thạc sĩ Tôn giáo học, Học viện Chính
trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [8].
6
Thiều Thu Hương (2009) Công tác quản lý Nhà nước đối với các tổ chức, nhóm
Tin Lành ngoài CMA ở Việt Nam hiện nay, luận văn chuyên ngành Tôn giáo học,
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [31].
Trần Thương Huyên ( 2009) Quản lý nhà nước đối với hoạt động Tôn giáo ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước luận văn thạc sĩ Triết học, Học
viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [32].
Nhìn chung đã ít nhiều đề cập đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
của đạo Tin lành. Trong quá trình triển khai đề tài tôi sẽ tham khảo các công trình,
các báo cáo trên đây xem nó là những tư liệu quý báu và sẽ kế thừa biện chứng
đúng mức đối với chúng. Từ đó lựa chọn tiếp thu nhằm thực hiện và hoàn thiện
luận
văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
3.1.
Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của
đạo Tin lành ở tỉnh Gia Lai, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm tiếp
tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ:
Luận văn sử dụng dụng một số phướng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp logic và lịch sử;
- Phương pháp sưu tầm tư liệu, số liệu;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp thống kê, đối chiếu so sánh, v.v...
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩ thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận quản lý nhà
nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn cấp tỉnh.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Phân tích chỉ ra những nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quản lý nhà
nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Phân tích làm rõ thực trạng hoạt động của đạo Tin lành và quản lý nhà
nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Phân tích quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh
Gia Lai.
8
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin
lành.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành
trên địa bàn tỉnh Gia Lai .
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với
hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai
sáng tỏ thêm quan điểm này của Mác, Ăngghen trong tác phẩm Chống Đuy rinh
cũng đã viết: “ Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc
của con người của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của
họ, chỉ là sự phản ảnh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức
những lực lượng siêu trần thế” [19, Tr. 437]. Các nhà nghiên
Mácxít
về
giáo thường coi câu nói trên đây của Ăngghen là định nghĩa
chủ
nghĩa
Mác
tôn giáo.
cứu
tôn
của
về
Tôn giáo: [tiếng La tinh - Religio] đồng nghĩa với sự sùng đạo, mộ đạo, đối
tượng được sùng bái. Trong các từ điển thông dụng, thường định nghĩa tôn giáo
là
sự sùng bái và sự thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ
của con người đối với thần linh[ 18, Tr.3].
- Hoạt động tôn giáo: hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo,
sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức tôn giáo.
Truyền bá tôn giáo (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyền truyền những lý lẽ
về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn
giáo của các tín đồ được cũng cố, luật lệ trong tôn giáo được các tín đồ thực hiện.
sống của tín đồ ( nắm “ phần hồn” của tín đồ).
1.1.3.
Tổ chức tôn giáo và cở sở tôn giáo
Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý,
giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận.
Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động
tôn
giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước
công nhận.
1.2. Đạo Tin lành và Quản lý nhà nước đoi với hoạt động của đạo Tin
lành
1.2.1.
Khái quát về đạo Tin lành
Đạo Tin lành trên thế giới:
về tên gọi đạo Tin lành: Protestantism, Le Protestantisme (Đạo Thệ Phản):
đây là cách gọi của giới nghiên cứu Trung Quốc, tức là tôn giáo phản lại, chống lại
Giáo hội Công giáo lúc đó vì sự "xuống cấp" của nó, gắn với hành động li giáo của
Martin Luther bắt đầu từ năm 1517.
Evangelical (church) (Tin lành, Tin mừng): đây là khái niệm chỉ về một tôn
giáo có niềm tin tốt lành, mang đến cho con người tin vui, tin tốt lành. Người ta
cho
rằng, cách gọi này xuất phát từ ghi chép trong Kinh thánh: hãy đem tin mừng đi
giao
giảng khắp nơi.
Reformism (Tân giáo, đạo cải cách): là tên gọi xuất phát từ phong trào cải
cách khá triệt để của Calvin, đặc biệt là những cải cách về ghi lễ và tổ chức giáo hội
mà giáo của Calvin được gọi là giáo hội cải cách và cũng do đó xuất hiện
Reformism. Theo nghĩa khác, đạo Cải cách hay Tân giáo là đề cấp tới tôn giáo
mới
luận
đề với nội dung phê phán kịch liệt việc lợi dụng danh thánh để bóc lột dân chúng,
lên án chức vụ giáo hoàng và giáo quyền Rôma.
Những quan điểm của Luther đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân
Đức
ủng hộ, nhất là các công hầu quý tộc. Đến năm 1532, trước sự lớn mạnh của phong
trào này, hoàng đế Đức đã phải thừa nhận sự tự do hoạt động của đạo Tin lành.
Thụy Sĩ cũng là trung tâm lớn thứ hai của cuộc cải cách tôn giáo gắn với tên
tuổi của Jean Calvin. Ông là người Pháp, đã từng theo học thần học và luật
học bằng học bổng của giáo hội Công giáo nhưng do hưởng ứng phong trào cải
cách
của Luther nên bị trục xuất khỏi Pháp và sinh sống ở Thuỵ Sĩ. Calvin đã nghiên cứu
và hình thành một giáo thuyết riêng đồng thời cải cách về lễ nghi, giáo hội làm
chuẩn
mực cho phần lớn các hệ phái Tin lành đi theo.
Từ trung tâm Đức và Thuỵ Sĩ, phong trào cải cách tôn giáo phát tri ển
nhanh
chóng sang Pháp, Scotlen, Ireland, Hà lan, Anh , Nauy, Đan mạch... Đến cuối thế
kỷ XVI đã hình thành một tôn giáo mới tách hẳn khỏi đạo Công
giáo.
Trong
quá
trình phát triển của mình, đạo Tin lành đã hình thành rất nhiều hệ
phái
khác
nhau
như Trưởng lão, Menhônai, Moóc Mông, Ngũ tuần, Giám lý, Thanh
giáo
Là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin. Do đó, luật lệ, lễ nghi,
cách thức hành đạo của Tin lành đơn giản, không cầu kỳ rườm rà. Đạo Tin lành
không thờ các tranh ảnh, hiện tượng cũng như dị vật phản đối việc hành hương
đến
các thánh địa. Trong 7 phép bí tích của đạo Công giáo, đạo Tin lành chỉ thừa nhận
và thực hiện phép rửa tội và phép thánh thể. Nếu tín đồ đạo Công giáo xưng tội
trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất thì tín đồ đạo Tin lành khi
xưng
tội và cầu nguyện có thể đứng giữa nhà thờ, đám đông để sám hối hoặc nói lên ý
nguyện của mình một cách công khai. Thánh đường của đạo Tin lành thường có
kiến trúc hiện đại, đơn giản. Trong thánh đường chỉ có duy
nhất
cây
thập
giá,
biểu
tượng của Chúa GiêSu bị nạn.
về nhân sự: đạo Tin lành cũng có giáo sĩ như công giáo. Giáo sĩ đạo Tin
lành
có hai chức: mục sư và giảng sư, không áp dụng luật độc thân như giáo sĩ đạo
Công
giáo. Và có một điều đặc biệt là giáo sĩ Tin lành có nhiều người là nữ. Các giáo sĩ
tuy
cũng được coi là người chăm sóc linh hồn cho tín đồ nhưng không có quyền thay
mặt
Chúa để ban phúc hay tha tội cho con chiên.
về phương diện tổ chức: đạo Tin lành không lập ra tổ chức giáo hội mang
Châu
Á, Công giáo ở Châu Âu, Hồi giáo ở Trung cận đông... Trước thực tế đó, Tin lành
một mặt nỗ lực lôi kéo Công giáo ở Châu Âu, mặt khác tìm đến vùng xa xôi hẻo
lánh để phát triển đạo. Ở những vùng này, đạo Tin lành không chỉ khai thác lợi thế
là một tôn giáo có lối sống đạo đon giản, đề cao dân chủ và vai trò cá nhân mà còn
nghiên cứu rất kỹ đặc điểm văn hoá tâm lý, lối sống của từng dân tộc ở những vùng
này để có phương thức phù hợp. Đặc biệt những nơi có phong tục tập quán lạc
hậu,
Tin lành xuất hiện với những điều mới lạ và tiến bộ lôi kéo người tin theo và trong
những trường hợp đó đạo Tin lành phát triển rất nhanh. Vậy đối tượng tín đồ của
đạo Tin lành ngoài tầng lớp trí thức thị dân còn là dân tộc thiểu số.
Mặc dù được đánh giá là một tôn giáo “tiến bộ”, “năng động” và dễ thích
nghi nhưng vì đạo Tin lành đề cao vai trò của kinh thánh, thậm chí có một số hệ
phái Tin lành tỏ ra rất bảo thủ, không chấp nhận những điều gì trái với kinh thánh
nên dẫn đến sự phản ứng đối kháng với văn hoá tín ngưỡng truyền thống của các
tín
đồ ở những nơi đạo Tin lành truyền bá.
Đạo Tin lành ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, khi bắt đầu được truyền vào Việt Nam, đạo Tin lành được gọi
bằng nhiều tên gọi khác nhau, như “đạo Rối”” (tôn giáo gây nên phức tạp cho đời
sống tôn giáo, xã hội), “đạo Hoa Kỳ”” (đạo của người Mỹ), đạo "bở ông bỏ bà"
(tôn
giáo bỏ thờ cúng tổ tiên).
Tên gọi đạo Tin lành hình thành từ đầu thế kỷ XX, khi kinh thánh được các
giáo sỹ Hội truyền giáo ở Việt Nam , được CMA, cùng một số dịch giả người Việt
như: Trần Văn Dõng, Phan Khôi, dịch sang Tiếng Việt và phổ biến rộng rãi trong
những năm 20, 30. Các dịch giả đã không sử dụng từ Tin mừng để dịch thuật ngữ
Phúc Âm (Evangelical, để chỉ tin vui mừng trong lời Chúa Kitô) mà dùng từ Tin
lành. Danh xưng đạo Tin lành sau đó được sử dụng phổ biến đến nay [68, Tr.10].
Với những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư... Việt Nam là
là sự kiện đánh dấu mốc cho sự truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam.
Từ
cơ
sở
ở
Đà Nằng, các giáo sĩ hội truyền giáo mở thêm một số cơ sở khác ở
những
vùng
lân
cận như: Hội An, Tam Kỳ, Đại Lộc... và cử người dân đi truyền đạo ở
Bắc
kỳ
và
Nam kỳ với các hoạt động chủ yếu là: dịch kinh thánh, lập nhà in và mở
trường
đào
tạo mục sư truyền đạo.
Tuy nhiên, chính quyền Pháp ở Việt Nam không ưa đạo Tin lành, họ lo ngại
ảnh hưởng của Mỹ thông qua việc phát triển đạo Tin lành. Do đó đạo Tin lành
trong
thời kỳ này hoạt động rất khó khăn. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, thực
dân Pháp cho rằng các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh
đóng
cửa nhà thờ Tin lành và cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động. Ngoài ra người Pháp
còn dựa vào Hoà ước 6/6/1884 chỉ cho phép Thiên chúa giáo được truyền bá vào
Việt Nam. Toàn quyền Đông dương đã cho đóng cửa nhà thờ, trục xuất giáo sỹ
truyền giáo CMA. Phải tới năm 1927, khi phong trào dân chủ Pháp lên cao thì
những lệnh cấm này mới được huỷ bỏ. Thế nhưng trong sự cấm đoán đó, đạo Tin
lành vẫn tìm mọi cách để phát triển. Tới năm 1918, CMA đã lập được 5 chi hội ở
hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam.
Giai đoạn này, đạo Tin lành ở miền Nam phát triển mạnh mẽ. Tin lành ra sức
củng cố, mở rộng hệ thống tổ chức cơ sở tôn giáo, các cơ sở kinh tế văn hoá xã hội,
mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều địa bàn, nhất là ở Tây Nguyên. Hội thánh Tin
lành miền Nam đã cho tách riêng hai “hạt” vùng dân tộc ít người ra khỏi người
Kinh
và lập ra “cơ quan truyền giáo người Thượng” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các
giáo
sĩ Tin lành Mỹ, đồng thời mở cửa cho các hệ phái Tin lành, các tổ chức xã hội văn
hoá, nhân đạo, từ thiện của Mỹ vào truyền đạo và xây dựng cơ sở khắp miền Nam.
Hội thánh Tin lành miền Nam rất chú trọng đào tạo mục sư và truyền đạo, nâng
“ Trường kinh thánh"” thành “Viện kinh thánh thần học” toàn miền Nam, đầu tư
mở
hai trường kinh thánh trung cấp cho Tây Nguyên. Hội thánh Tin lành còn đưa
nhiều
mục sư và truyền đạo ra nước ngoài đào tạo. Giáo hội Tin lành đã thành lập hệ
thống tuyên uý trong quân đội ngụy từ Bộ Tổng tham mưu đến quân đoàn, quân
khu