Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn huyện phù mỹ, tỉnh bình định - Pdf 70

VIỆN HÀN LẦM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________

NGUYỄN MINH TRIỆU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2020


VIỆN HÀN LẦM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________

NGUYỄN MINH TRIỆU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02

Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN ANH HÙNG


31
2.1. Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đào tạo nghề cho lao động nông thôn
31
2.2. Khái quát về đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn huyện Phù Mỹ,
tỉnh Bình Định......................................................................................................... 45
2.3. Đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định........................................................................... 56
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH.....................67
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao
động nông thôn từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định...................................67
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn................................................................................................................. 70


KẾT LUẬN............................................................................................................ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

Từ viết
1
2
3
4
5


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
2.1

2.2

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu
hình

2.1

2.2

2.3


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (ĐTN cho LĐNT) đã được Đảng và
Nhà nước ta lồng ghép vào Chương trình mục tiêu QG về xây dựng nông thôn mới
(NTM). Nhờ đó, kể từ ngày 27 tháng 11 năm 2009 có Quyết định số 1956/QĐ-TTg
về Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt. Mục tiêu của công tác đào tạo nghề nhằm phục vụ nhân lực
cho xây dựng NTM, đồng thời phục vụ nhân lực cho tái cơ cấu sản xuất ngành nông

tiêu quốc gia đầu tư cho nông dân và nông thôn” [13;tr.21]. Đặc biệt, huyện Phù Mỹ
tỉnh Bình Định là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Bình Định. “Phù Mỹ giáp
các huyện Hoài Nhơn phía bắc, nam và tây nam giáp Phù Cát,tây bắc giáp Hoài Ân
và biển đông ở phía đông. Theo thống kê năm 2005 thì huyện Phù Mỹ có diện tích
là 548,9km2 với dân số khoảng 188.000 người, trong đó riêng số nữ chiếm tới
96.700 người. Mật độ dân số là 342 người/ km2” [20;tr.5]. Huyện Phù Mỹ tỉnh Bình
Định thực hiện tốt kế hoạch đã được phê duyệt; đổi mới mạnh mẽ các hoạt động
phục vụ công tác ĐTN cho LĐNT. Trong đó, “cấp ủy, chính quyền các cấp tiếp tục
thực hiện tốt kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Quyết định
1956/QĐ-TTg và Quyết định số 971/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các bộ,
ngành, địa phương chủ động sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu (Khóa XII) về “Tiếp tục đổi mới hệ
thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp công lập”; đổi mới công tác quản lý, tăng cường các điều kiện bảo đảm
chương trình ĐTN cho LĐNT gắn với chương trình xây dựng NTM; lựa chọn nghề
đào tạo phải gắn với giải quyết việc làm. Chú trọng hơn nữa công tác quản lý chất
lượng đào tạo nghề; bổ sung danh mục nghề; hoàn thiện chương trình đào tạo nghề
hiện có và xây dựng một số chương trình đào tạo nghề phi nông nghiệp và nông
nghiệp công nghệ cao phù hợp với từng đối tượng người học, đáp ứng yêu cầu của
thị trường lao động”. Do vậy, tác giả/học viên chọn: “Quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định" làm
đề tài cho luận văn của mình.

2


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến thời điểm hiện tại, vấn đề Quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT từ
thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định vẫn còn là vấn đề rất mới mẻ đối với khoa

+

Hoàn thiện Luật và các văn bản hướng dẫn có liên quan, giao thẩm quyền

quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT.
+

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền địa

phương, sự phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương trong công
tác ĐTN cho LĐNT.

3


+

Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông

tin trong công tác quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT...
Bên cạnh đó, có đề tài như Cơ sở khoa học hoàn thiện quản lý nhà nước về
đào tạo nghề cho lao động nông thôn (Chủ nhiệm đề tài: Tiến sỹ Dương Xuân
Triệu, Giám đốc Trung tâm Thông tin Khoa học BLĐXH, năm 1999, Đề tài khoa
học); Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hiện nay (Nông Hữu Tùng, Học viện Hành chính Quốc gia,
2015, Luận văn thạc sĩ Luật học); Hoàn thiện quản lý quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho lao động khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam (Trần Quốc
Túy, Luận văn thạc sĩ luật học ĐH Luật tp.HCM, năm 2015); Hoàn thiện công tác
quản lý đào tạo nghề cho lao động khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia
Lai (Trần Ngọc Tuấn, Đại học Đà Nẵng, 2017, Luận văn thạc sỹ); Công tác quản lý

hiện giai đoạn 2015 đến tháng 6 năm 2020 theo nhiệm kỳ Đại hội Đảng các cấp và
chiến lược phát triển KT-XH của huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cũng như tỉnh Bình
Định hiện nay.

5


Phạm vi nghiên cứu thời gian: Từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2020
5.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
Muốn đáp ứng mục tiêu đề tài này, luận văn cần thực hiện từ cơ sở phương
pháp duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước - pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng ta và Nhà nước ta.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, luận văn cố gắng kết hợp việc sử dụng một số
phương pháp chủ yếu gồm có:
nội

Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng trong hầu hết các

dung của luận văn nhằm phân tích làm rõ các khái niệm, làm rõ quy định của pháp
luật, dẫn chứng các số liệu cần phân tích,...
-

Phương pháp thống kê - so sánh: nhằm làm rõ các quy định của luật pháp

có liên quan, thể hiện nội dung của Chương 2 luận văn.



Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT tại huyện Phù
Mỹ, tỉnh Bình Định.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về ĐTN cho LĐNT.

7


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn
ĐTN cho LĐNT giữ vị trí, vai trò quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế. Chất lượng nguồn nhân lực cho LĐNT sẽ là yếu tố quyết
định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia như một quốc
gia nông nghiệp, nông thôn như Việt Nam.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho LĐNT, tạo ra người lao động có kỹ
năng nghề, có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của công nghệ thì đào
tạo nghề được xem là một trong những đích đến quan trọng. Với ý nghĩa đó, lao
động nông thôn đã được thừa nhận trong hành lang pháp lý quốc tế và trong hệ
thống pháp luật quốc gia của các nước. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành
rất nhiều văn bản điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến đào tạo nghề như: Công ước
số 168 về xúc tiến việc làm và bảo vệ việc chống lại thất nghiệp; Công ước số 122
năm 1964 về chính sách việc làm; Công ước số 142 năm 1974 về vai trò của hướng
nghiệp và đào tạo nghề trong việc khai thác tài nguyên nhân lực; Công ước số 140

“Ngoài ra, pháp luật Indonesia cũng quy định về năng lực nghề của người
học nghề. Theo đó, năng lực nghề được xác định là khả năng của mỗi cá nhân về
các mặt kiến thức chuyên môn, kỹ năng, tinh thần, thái độ làm việc tương ứng với
các chuẩn mực đã định. Pháp luật của Philipin cũng quy định về ĐTN cho LĐNT,
trong đó ĐTN cho LĐNT nhằm giúp nhu cầu của nền kinh tế về nhân lực đã qua
đào tạo và thiết lập một chương trình quốc gia về học nghề thực hành với sự tham
gia của người sử dụng lao động, người lao động và các cơ quan Chính phủ và phi
Chính phủ, thiết lập các tiêu chuẩn học nghề thực hành để bảo vệ người học nghề
thực hành. Khái niệm ĐTN cho LĐNT được định nghĩa dưới hình thức là học nghề
thực hành. Theo đó, học nghề thực hành được hiểu là đào tạo thực hành tại chỗ, vừa

9


học vừa làm, có bổ sung sự hướng dẫn lý thuyết liên quan. Đề cập đến ĐTN cho
LĐNT, pháp luật của Lào lại quy định về xây dựng và phát triển các kỹ năng lao
động. Theo đó, xây dựng các kỹ năng lao động được hiểu là cung cấp đào tạo
nghiệp vụ cơ bản cho người lao động chưa từng được đào tạo nhằm xây dựng năng
lực làm việc cho họ. Việc xây dựng và phát triển các kỹ năng lao động được thực
hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: học tập tại trường, đào tạo tại các trung tâm
phát triển kỹ năng lao động, đào tạo thực hành nghề, khảo sát thực tế, các bài học
trao đổi và các hoạt động khác trong việc nâng cao các kỹ năng lao động” [32;tr.41].
Đối với Việt Nam, thuật ngữ ĐTN cho LĐNT được tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, “đào tạo” được hiểu là làm cho trở thành
người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định.“Khái
niệm nghề cũng được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa. Qua đó xác định rằng, nghề có
thể được hiểu là chuyên làm công việc nào đó trên cơ sở phân công lao động xã hội.
Khái niệm nghề cũng được quan niệm là “những chuyên môn có những đặc điểm
chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn. Nghề vốn dĩ là tập
hợp của một nhóm chuyên môn có cùng loại. Với thuật ngữ chuyên môn dung để

các tổ chức thuộc nhà nước nằm trong cơ cấu nhà nước ví như doanh nghiệp).
QLNN được hiểu là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà
nước và sử dụng pháp luật nhằm điều chỉnh những hành vi của con người do các
cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, để thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con
người cũng như duy trì môi trường xã hội ổn định và phát triển.
ĐTN đối với LĐNT là một trong các hoạt động của ngành giáo dục - đào tạo.
Quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là một hiện tượng gắn liền với xã hội khi xuất
hiện có thị trường lao động, xuất hiện ở đâu và khi nào mà ở đó lao động xã hội đã
đạt đến một trình độ xã hội hóa tương đối cao.
Quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời
và tồn tại của nhà nước. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là
hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của
quyền lực nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nghề cho LĐNT. Theo cách

11


hiểu này, quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là hoạt động của hệ thống cơ quan
nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ Trung ương tới địa phương được
giao nhiệm vụ QLNN về ĐTN cho LĐNT theo quy định của pháp luật; chủ thể quản
lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước
được trao quyền lực công; đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ
chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia khi tham gia vào quan
hệ pháp luật về ĐTN cho LĐNT theo tinh thần Luật Giáo dục nghề nghiệp số
74/2014/QH13 và Nghị định 48/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục nghề
nghiệp đã quy định rõ về tổ chức bộ máy QLNN về ĐTN, theo đó Chính phủ thống
nhất thực hiện công tác QLNN về ĐTN trên cả nước; quản lý nhà nước về ĐTN cho
LĐNT có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao... và mục tiêu của quản lý nhà
nước về ĐTN cho LĐNT là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền

nước về ĐTN cho LĐNT theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, đối tượng quản lý Nhà nước là mọi hoạt động của quản lý nhà nước
về ĐTN cho LĐNT ở tất cả các cơ sở đào tạo nghề.
Theo quy định pháp luật hiện hành thì cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm
trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, và trường cao đẳng. Trong đó,
đối với giáo dục nghề nghiệp lại là một bậc học căn bản của hệ thống giáo dục quốc
dân để đào tạo cho người lao động đạt ở các cấp trình độ như: sơ cấp, trung cấp, cao
đẳng và những chương trình đào tạo nghề nghiệp khác, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân
lực để phục vụ trực tiếp trong hoạt động SX-KD và dịch vụ. Hệ thống giáo dục
nghề nghiệp được thực hiện dưới hai hình thức, đó là: đào tạo thường xuyên và đào
tạo chính quy. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014
thì cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tổ chức theo các loại hình sau đây:
-

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc khu vực công lập đó chính là cơ sở giáo

dục nghề nghiệp do Nhà nước sở hữu, được nhà nước đầu tư và xây dựng cơ sở vật
chất – kỹ thuật;
-

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở

hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân

13


hoặc cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư
nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;
-

14


ĐTN cho LĐNT đã được ghi nhận trong Bộ luật của Vương quốc Babilon. Ở Hy
Lạp và La Mã cổ đại, chế độ ĐTN cho LĐNT đã được luật hoá và áp dụng tương
đối phổ biến. Thời trung cổ ở Châu Âu các hang hội đã áp dụng một loạt các chế độ
ĐTN cho LĐNT nhằm bồi dưỡng kỹ năng sản xuất, tri thức nghiệp vụ cho người
làm công trong thực tế sản xuất và công tác” [14,tr.9].


Việt Nam, ĐTN cho LĐNT đang trong quá trình phát triển. Đặc biệt, trong

giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu và
thực hiện Chính sách ĐTN cho LĐNT được triển khai nhất quán từ TW đến các địa
phương, trên cơ sở các văn bản về chủ trương của Đảng và chính sách cụ thể của
nhà nước như: Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của BCH Trung ương Đảng,
Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án ĐTN cho LĐNT đến năm 2020, Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ ngày 04/6/2010 phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020” với các nhiệm vụ, mục tiêu trên tất cả các lĩnh
vực về kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng...; trong đó có việc tập trung đào
tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động
ở vùng nông thôn... vì vậy nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ phổ thông cũng
như lao động trình độ cao khi các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước ta là rất
lớn nên hoạt động ĐTN cho LĐNT diễn ngày một quy mô với số lượng các trung
tâm, trường ĐTN cho LĐNT và doanh nghiệp ĐTN cho LĐNT mở rộng.
Việt Nam là một quốc gia có lực lượng lao động trẻ, trình độ lao động chưa
đồng đều tại các khu vực đô thị khác nhau cũng như các khu kinh tế, khu chế suất,
khu công nghiệp. Do đó, sự phát triển của hoạt động ĐTN cho LĐNT là một xu
hướng khách quan, phổ biến, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường lao động.

hưởng chế độ chính sách của nhà nước… Nhà nước cũng tạo lập cơ chế bảo vệ cơ
sở ĐTN cho LĐNT và người học nghề thông qua hoạt động quản lý nhà nước về
ĐTN cho LĐNT. Nhà nước Cơ chế kiểm tra giám sát và tạo mọi điều kiện hỗ trợ
cho cơ sở ĐTN cho LĐNT. Điều chỉnh pháp luật đối với ĐTN cho LĐNT tạo ra
hành lang pháp lý hữu hiệu bảo vệ không chỉ cho cơ sở ĐTN cho LĐNT mà cho cả
người lao động trong quan hệ về ĐTN cho LĐNT.
Thứ ba, quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT nhằm quản lý một cách hiệu
quả quan hệ trong ĐTN cho LĐNT.

16


“Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ thể hiện rõ quan điểm “ĐTN cho
LĐNT là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các ngành, các cấp và của toàn xã
hội nhằm đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động nông thôn, phục vụ cho yêu
cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn”; thể hiện các chính sách về ĐTN cho
LĐNT của Nhà nước, là cơ sở để huy động các nguồn lực thực hiện nhằm tăng
cường, nâng cao số lượng và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực LĐNT theo mục
tiêu đề ra. Với thời gian thực hiện trong 11 năm (2010 - 2020), mục tiêu của Đề án
là: “Dạy nghề cho khoảng 10,6 triệu LĐNT, trong đó hỗ trợ dạy nghề cho 6,54 triệu
người theo chính sách của Đề án; bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1
triệu LĐNT, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100 ngàn lượt cán bộ, công chức xã; đến
năm 2020, lao động ở nông thôn còn khoảng dưới 30% lao động xã hội, tỷ lệ qua
đào tạo đạt trên 50%, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu đạt 80%”. Pháp
luật quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc kiểm tra,
giám sát việc thực hiện quan hệ về ĐTN cho LĐNT đúng pháp luật” [17, tr.67].
Đồng thời ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động của cơ sở ĐTN
cho LĐNT, người học nghề, đảm bảo sự ổn định cho thị trường lao động ở nước ta
hiện nay; tạo khung pháp lý để các cơ quan quản lý Nhà nước về ĐTN cho LĐNT
thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đồng thời cũng tạo khung pháp lý để các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status