VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI NGUYÊN TRUNG
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI NGUYÊN TRUNG
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành
: Chính sách công
Mã số
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Thái Nguyên Trung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN .............................................................8
1.1. Lý luận chung về chính sách đào tạo nghề .........................................................8
1.2. Quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn ..................................................................................................................32
1.3. Kinh nghiệm của một số nước và địa phương về đào tạo nghề ........................35
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI .............................................39
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình lao động của tỉnh Quảng Ngãi tác động
đến chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn .............................................39
2.2. Thực trạng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Quảng
Ngãi ..........................................................................................................................42
2.3. Thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh
Quảng Ngãi ..............................................................................................................49
2.4. Đánh giá chung về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh
Quảng Ngãi ..............................................................................................................60
CHƢƠNG 3.PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
...................................................................................................................................63
3.1. Phương hướng hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 63
3.2. Các giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn..... 64
3.3. Các kiến nghị, đề xuất .......................................................................................76
LĐNT
: Lao động nông thôn
LĐTB & XH
: Lao động - Thương binh và Xã hội
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
UBN D
: Uỷ ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
bảng
Trang
2.1.
51
2015
2.6.
Kinh phí thực hiện lao động cho nông thôn từ năm 2010-
55
2015 tại trường Trung cấp nghề Đức Phổ
2.7.
Kinh phí thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông
55
thôn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 – 2015
2.8.
Kinh phí thực hiện lao động cho nông thôn từ năm 2010-
56
2015 tại tỉnh Quảng Ngãi
2.9.
Dự toán Kinh phí thực hiện lao động cho nông thôn cho
cán bộ. Công chức cấp xã từ năm 2017-2020 tại tỉnh
Quảng Ngãi
được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực thi hành từ 01
tháng 7 năm 2015. Có thể nói, đây là một đạo luật đã thể chế hóa mạnh mẽ chủ
trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo d c nói chung, giáo d c nghề nghiệp nói
riêng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương
1
Khóa XI, giải quyết nhiều bất cập trong thực tiễn, tạo nên một diện mạo mới của hệ
thống giáo d c nghề nghiệp ở Việt Nam.
Mặc dù kinh tế tăng trưởng bền vững và quá trình hội nhập ngày càng sâu hơn
vào nên kinh tế toàn cầu đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các khu vực kinh tế,
tuy nhiên vẫn còn rất nhiều thanh niên, người lao động đang gặp nhiều khó khăn
trong việc tiếp cận tới việc làm bền vững và có hiệu quả. Trong số những người thất
nghiệp, khoảng 48
là thanh niên và tỷ lệ thanh niên thiếu việc làm cao gấp 3 lần
so với người lớn tuổi hơn (Tổng c c thống kê quý I/2017). Đặc biệt, thanh niên,
người lao động chưa qua đào tạo nghề thường chịu nhiều rủi ro hơn về thất nghiệp,
thiếu việc làm hoặc phải chấp nhận những việc làm thu nhập thấp với điều kiện làm
việc nghèo nàn.Thêm vào đó một số khu vực ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng
xa cơ sở dạy nghề ít, quy mô nhỏ chưa đáp ứng nhu cầu học nghề của đông đảo lao
động khu vực này; một số ít giáo viên, cán bộ quản lý chưa đạt chuẩn về trình độ,
chuyên môn, thiếu kinh nghiệm quản lý dạy nghề dẫn đến chất lượng không đáp
ứng thị trường lao động.
Trong những năm qua tại tỉnh Quảng Ngãi cùng với sự phát triển chung của cả
nước, kinh tế tỉnh trên đà phát triển và chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đã và đang được quan tâm.Tuy nhiên so với yêu cầu thực tế hiện nay công tác,
chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn đi đôi với tạo việc làm việc làm
quát nhất.
Về đào tạo nghề nói chung trong cả nước và đào tạo nghề cho lao động nông
thôn nói riêng, có các công trình nghiên cứu, cùng với các bài viết sau:
“Vấn đề dạy nghề cho lao động nông thôn thực trạng và giải pháp” Nguyễn
Văn Đại (Năm 2010). “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông
Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của NCS Nguyễn Văn Đại
(Năm 2012). “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở nước ta hiện nay: Vấn đề cần
quan tâm” của ThS. Hoàng Văn Phai, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 3/2011. “Thực
trạng công tác đào tạo nghề và giải pháp hoàn thiện việc tổ chức thực thi chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn” của Th.S Nguyễn Văn Hưởng (Trung tâm
khuyến nông Quốc gia). “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam” của Phan Văn Bình (luận văn Th.S năm 2012). “Đào tạo nghề cho
lao động nông thôn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” của Cao Nguyễn Minh Hiền
3
( luận văn Th.s năm 2014). Từ các tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã cung cấp
cho tác giả luận văn một cách nhìn khái quát về công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn các vấn đề tồn tại, thực trạng và các giải pháp trong đào tạo nghề cho lao
động nông thôn như: Đào tạo chỉ khoảng 75
kế hoạch đề ra dẫn đến một bộ phận
người lao động nông thôn sau khi được đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhưng
không có đất “d ng võ”, các lớp được mở ra, lao động học xong thì địa phương
cũng không có nhiều doanh nghiệp để tiếp nhận lao động, học nghề xong vẫn không
có việc làm. Để đào tạo nghề lao động nông thôn thật sự hiệu quả, các cơ quan
truyền thông, các đoàn thể chính trị - xã hội cần tích cực phối hợp với chính quyền
các địa phương phổ biến sâu rộng nhằm giúp các cấp, ngành và toàn xã hội hiểu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn để có cơ sở khoa học phân tích đánh giá thực trạng chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được m c đích nêu trên, luận văn có tập trung cần tập trung giải quyết
các nhiệm v c thể sau:
Một là, nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn.
Hai là, điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách về thực trạng thực
hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động tại tỉnh Quảng Ngãi, chỉ ra ưu điểm, hạn
chế, bất cập, nguyên nhân của các hạn chế bất cập.
Ba là, đề xuất phương hương và các giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.
5
Luận văn tập trung về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực
tiễn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2016 và đề xuất định hướng, giải pháp
hoàn thiện đánh giá thực hiện chính sách phát triển nhân lực giai đoạn 2017-2020.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, m c l c, ph l c và danh m c tài liệu tham
khảo, kết cấu luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn.
Chương 2. Thực trạng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại
tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho
lao động nông thôn ở nước ta hiện nay.
7
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Lý luận chung về chính sách đào tạo nghề
1.1.1. Các khái niệm: nghề, đào tạo nghề, chính sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn
1.1.1.1. Khái niệm nghề
Có khá nhiềm diễn đạt khái niệm về nghề. Nghề đồng nghĩa với nghề
nghiệp. Công việc hằng ngày làm để sinh nhai (theo từ điển mở: Wiktionary). Có
tác giả khái niệm nghề là một dạng hình thức phân công lao động, nó được biểu thị
bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành
những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những
công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy
móc thiết bị, d ng c tương ứng như nhau tạo ra sản phẩm thuộc cùng một dạng.
Cũng có khái niệm khác về nghề: “nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà
trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để
làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu
cầu của xã hội”. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là lĩnh vực lao
thực hành là chủ yếu chứ chỉ lướt qua lý thuyết thôi. Học nghề: “Là quá trình tiếp
thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một
trình độ nghề nghiệp nhất định” [11, tr.1].
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Là quá trình kết hợp giữa đào tạo (dạy)
nghề và học nghề, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết
và thực hành để những người lao động nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ
xảo, sự khéo léo, thành th c nhất định, có thái độ về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp nông thôn. Nói cách khác đào tạo nghề cho
lao động nông thôn là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái
độ nghề nghiệp hay tự chủ, tự chịu trách nhiệm cần thiết của lao động nông thôn để
họ có thể kiệc làm hoặc kiếm được hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khi
hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ, nghề nghiệp. Trong đó lao động
nông thôn: “là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi
9
lao động theo quy định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi)
có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp đang có nhu
cầu tìm việc làm”.
M c tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Bình quân hàng năm đào tạo
được nghề cho người lao động nông thôn; Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển
dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, ph c v sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn,…
1.1.1.3. Khái niệm chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau của
Nhà nước với m c tiêu, giải pháp công c c thể nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế
- xã hội theo ý chí của Đảng cầm quyền. Với nghĩa rộng: chính sách là chính sách
của Nhà nước, là kết quả của việc c thể hoá chủ trương đường lối của Đảng cầm
hội thời kỳ CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn”. Như vậy cả m c tiêu chung,
m c tiêu tổng quát lẫn m c tiêu c thể của chính sách rất lớn, rất khó khăn. Để đạt
được các m c tiêu này phải sử d ng các giải pháp, công c chính sách đồng bộ, đủ
mạnh và hợp lý. Nếu không chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn chỉ là
những mong muốn những quyết tâm chính trị chung chung mà thôi.
1.1.2. Vấn đề chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thực hiện chủ trương CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn, đào tạo nghề cho
lao động nông thôn trở thành một trong các nhiệm v , giải pháp quan trọng nhằm
nâng cao chất lượng lao động nông thôn yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp
CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn thực sự
trở thành vấn đề chính sách quan trọng, cấp thiết Nhà nước cần phải tập trung giải
quyết với các lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, do vị trí vai trò đặc biệt quan trọng của lao động nông thôn trong
CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn. Thực tiễn ở nước ta cho thấy nông nghiệp,
nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH – HĐH, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở, là lực lượng quan trọng để phát triển xã hội bền vững, giữ
vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, Quốc phòng ; Giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Chủ thể của quá trình
CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn là nông dân, là người lao động ở nông thôn
(lao động nông thôn). Không có lực lượng lao động nông thôn hùng hậu, có đủ trình
độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có đủ kiến thức, kỹ năng
lao động hiện đại, sức khoẻ và quyết tâm chính trị cao khó có thể thực hiện thành
11
công sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn. Lao động nông thôn thực sự
có vai trò đặt biệt quan trọng, quyết định sự thành bại CNH – HĐH nông nghiệp,
nông thôn.
Thứ hai, do ý nghĩa (vai trò) tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động
mới khó có thể xây dựng nông thôn mới.
Thứ tư, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là nhiệm vụ nặng nè, khó khăn,
phức tạp và cấp bách đặt ra hiện nay ở nước ta. Do vấn đề sau: Quy mô số lượng
người lao động nông thộn ở nước ta quá lớn. Theo số liệu thống kê của Bộ LĐ – TB
và XH, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cả nước có khoảng 25 triệu người
lao động làm việc nông nghiệp chiếm khoảng 55,7
lao động cả nước và mỗi năm
có thêm khoảng 1 triệu người đến độ tuổi lao động. Trình độ, chất lượng lao động
của nông thôn ở nước ta quá thấp, đa số chưa đào tạo nghề nghiệp, lao động nông
thôn chủ yếu là lao động giản đơn. Lao động nông thôn ở nước ta phân bố ở các
vùng miền khác nhau, có trình độ văn hoá, điều kiện sống và làm việc rất khác nhau
nhìn chung là rất khó khăn. Thêm vào nữa lao động nông thôn ở nước ta đang trong
quá trình phân hoá, thay đổi và phát triển rất nhanh do kinh tế thị trường phát triển,
quá trình đô thị hoá diễn ra rất nhanh, cơ cấu kinh tế,cơ cấu ngành nghề lao động có
sự thay đổi, chuyển dịch mạnh mẽ cũng làm tăng thêm lao động chưa được đào tạo
nghề. Dẫn đến nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn rất lớn, trung bình mỗi
năm khoảng 2 triệu lao động nông thôn cần được đào tạo nghề để chuyển sang
ngành nghề phi nông nghiệp. Ngoài ra quá trình toàn cầu hoá, kinh tế, khoa học và
công nghệ, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế tiếp thu những thành tựu của cuộc cách
mạng 4.0 cũng đặt ra vấn đề đào tạo nghề cho lao động nói chung, lao động nông
thôn nói riêng là nhiệm v nặng nề, khó khăn, phức tạp và cần thiết.
Thứ năm, đào tạo nghề là một nhiệm vụ quan trọng trong chức năng xã hội của
Nhà nước. Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực Nhà
nước thuộc về nhân dân. Nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013 có
nhiệm v : “bảo đảm và pháp huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn
trọng, bảo vệ và đảm bảo quyền con người, quyền công dân; thực hiện m c tiêu dân
giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện”. Để thực hiện quyền công dân “
Thứ bảy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn thực sự là vấn đề quan trọng
nặng nề và cấp bách đặt ra hiện nay. Vấn đề cấp bách và nặng nề này chỉ giải quyết
thành công bằng chính sách đúng và đủ mạnh của Nhà nước. Không có chính sách
14
đúng, đủ mạnh, có chất lượng và hiệu quả khó có thể giải quyết thành công vấn đề
đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Tóm lại, từ các lý do, từ các phân tích nêu trên cho thấy và có thể khẳng định
đào tạo nghề cho lao động nông thôn thực sự trở thành vấn đề chính sách và vấn đề
này chỉ giải quyết thành công bằng chính sách của Nhà nước.
1.1.3. Mục tiêu chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
M c tiêu chính sách là cái đích chính sách công hướng đến để giải quyết nhằm
đạt được kết quả xác định. Nói cách khác m c tiêu chính sách là những giá trị
hướng tới phù hợp với các yêu cầu phát triển chung của kinh tế - xã hội. M c tiêu
chính sách được coi là linh hồn của chính sách, nó hướng mọi nội dung vào việc
thực hiện ý chí của chủ thể chính sách, mong muốn của các đối tượng chính sách và
cả xã hội.
Đào tạo nghề hay đào tạo nghề cho lao động nói riêng trong thời kỳ hiện nay
luôn nhận được quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết 26/NQ-TW
của Ban chấp hành TƯ khóa về nông nghiệp, nông dân, nông thôn thể hiện: “Nông
nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc
phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của
đất nước”.
Để c thể hóa Nghị quyết 26/NQ-TW, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định 1956/QĐ – TTg phê duyệt “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020” (sau đây gọi tắt là Đề án 1956). M c tiêu giai đoạn 2016 – 2020 như sau:
1.1.4. Các giải pháp, công cụ chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn
1.1.4.1. Các giải pháp chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Giải pháp chính sách công nói chung, chính sách đào tạo nghề cho lao động
nông thôn nói riêng là cách thức chủ thể chính sách (Nhà nước) sử d ng để can
thiệp, tác động để đối tượng chính sách nhằm đạt được m c tiêu chính sách. Giải
pháp chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn là cách thức Nhà nước (Chính
phủ) sử d ng để can thiệp, tác động đến lao động nông thôn nhằm đạt m c tiêu
nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nâng cao chất
lượng lao động nông thôn; xây dựng đội ngũ cán bộ công chức xã có bản lĩnh chính
trị vững vàng, có trình độ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý
16
kinh tế - xã hội thời kỳ CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Để đạt được m c tiêu
chung cũng như các m c tiêu c thể của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
thôn cần phải sử d ng các giải pháp sau:
Thứ nhất, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội, của
cán bộ, công chức xã và lao động nông thôn về vai trò của đào tạo nghề đối với
việc tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn.
Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các hội
nghề nghiệp tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tư vấn học nghề, việc làm miễn phí và vận
động các thành viên của mình tham gia học nghề. Tăng cường tuyên truyền sâu
rộng trên phương tiện thông tin đại chúng các chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về đào tạo nghề, về vai trò, vị trí của đào tạo nghề đối với
phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc
sống, để người lao động nông thôn nhận thức được học nghề là quyền lợi và nghĩa
v của lao động nông thôn để họ tích cực tham gia học nghề.
tỉnh tập trung nhiều làng nghề truyền thống; Đầu tư nâng cao năng lực của các trung
tâm dạy nghề công lập huyện; Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho trung
tâm giáo d c thường xuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề để tham gia
dạy nghề cho lao động nông thôn.
Đồng thời đào tạo để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của gần 500.000
CBCC xã đáp ứng yêu cầu cần phải huy động các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức của các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các trường đại học, cao
đẳng, trung cấp tham gia công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo
hướng xã hội hóa có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Thứ ba, phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý. Đây là giải
pháp quyết định chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Vì
thực tế cho thấy chất lượng, trình độ, năng lực của giáo viên, giảng viên và cán bộ
quản lý là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho
người lao động nông thôn.
Để phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề cần phải tiến hành
điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề để có kế
18