Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÔ
NÔIVU
•••
HỌC VIỆN HẰNH CHÍNH
QUỐC GIA
ĐẶNG THỊ ĐOAN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGHÊ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HUttG YÊN
Chuyên ngành: Quản lý
công Mã số: 60 34 04 03
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
THƯ V IỆN
LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN
LÝ CÔNG Ngiròi huớng dẫn
khoa học: PGS.TS. Đinh Thị
Minh Tuyết
HÀ NÔI - 2015
tránh khỏi những khiếm khuyết tôi kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn quý
báu của các thầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, thảng 01 năm 2015 HỌC VIÊN
Đặng Thị Đoan
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
ĐTN
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đào tạo nghề
LĐTBXH
LĐNT
Lao động Thương binh & Xã
hội
Lao động nông thôn
NTM
Nông thôn mới
ƯBND
ủy ban nhân dân
tỉnh Hưng Yên
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
tỉnh Hưng Yên
CHƯƠNG 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH HƯNG YÊN
Quan điểm và định hưởng về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh
Hưng Yên
Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề chó lao động nông
thôn tỉnh Hưng Ỵên Kiến nghị Kết luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn lao động là một trong các nguồn lực quan trọng và có tính quyết định
đến sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế, xã hội, nguồn lao động phải đáp ứng đủ về số lượng và đảm bảo
về chất lượng. Với đặc điểm về sự biến động của nguồn lạo động, thường xuyên có
các bộ phận với trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm lao động, quá tuổi lao
động ra khỏi độ tuổi lao động và bộ phận khác chưa có trình độ chuyên môn và
kinh nghiệm lao động bước vào độ tuổi lao động nên đào tạo và nâng cao chất
lượng nguồn lao động là việc làm thường xuyên và đóng vai trò hết sức quan
trọng, đặc biệt là đối với những người lao động trong nguồn lao động nông thôn.
Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào về số lượng và thấp về chất
lượng, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ trọng rất thấp. Vì vậy, phát triển
nguồn lao động là một trong nhưng giải pháp có tính chiến lược trong quá trình
chuyển nông nghiệp, nông thôn sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp
được còn không ít những hạn chế, như: chất lượng đào tạo nghề chưa cao, đặc biệt
là đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động; cơ cấu ngành nghề và trình độ đào
tạo chưa hợp lý; chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với
nâng cao chất lượng. Mặt khác, quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn còn nhiều bất cập.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà
nưởc về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ”
làm luận văn cao học.
2. Tinh hình nghiên cửu liên quan đến đề tài luận văn
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là vấn đề đang được Đảng, Nhà nước
và các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm. vấn đề này cũng được nhiều nhà
khoa học nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, thể hiện ở những
công trình, đề tài khoa học nghiên cứu về lý luận chung của công tác đầo tạo nghề:
Đề tài cấp Bộ, Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:
“Thực trạng chính sách dạy nghề và tạo việc làm cho thanh niên, định hướng và
giải pháp giai đoạn 2001 - 2020” của tác giả Nguyễn, Hải Hữu, năm
2000. Nội dung đề tài đi sâu tìm hiểu dạy nghề và tạo việc
8
làm cho thanh niên nông thôn, thanh niên xuất ngũ và các đối tượng thanh
niên Việt Nam trong nền kinh tế thị trường.
Đề tài cấp Bộ - Tổng cục Dạy nghề: “Hệ thống dạy nghề của Việt Nam
trong tiến trình hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới ” năm 2005.
Nội dung đề tài nghiên cứu hệ thống dạy nghề của Việt Nam trong quá trình hội
nhập.
Luận án tiến sỹ: “Những giải pháp phái triển dạy nghề góp phần đáp ứng
nghề cho lao động nông thôn.
- Ỷ nghĩa thực tiễn
Phân tích, đánh giá thực trạng và xác định nguyên nhân thực trạng quản lý
nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
Đề xuất những giải pháp gồp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
các nhà quản lý của tỉnh về quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nưởc về đào
tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÊ ĐÀO TẠO NGHÊ CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1.
1.1.1.
1.1.1.1.
Một số khái niệm liên quan đến đề tài ỉuận văn
Khái niệm nghề và đào tạo nghề
Khải niệm đào tạo nghề
Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình
thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện
nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể áp dụng vào công việc cụ thể
của mình một cách năng suất và hiệu quả.
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay
đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu
chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn.
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến
thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những
tri thức, kỹ nâng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó
thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một công việc nhất định.
Có nhiều dạng đào tạo, tùy theo tiêu chí xem xét có thể phân thành: đào tạo
cơ bản và đào tạo chuyên sâu; đào tạo chuyên môn và ĐTN; đào tạo ban đâu và
đào tạo lại; đào tạo tập trung và đào tạo tại chức, đào tạo từ xa; đào tạo qua trường
lớp và tự đào tạo. Như vậy, ĐTN là một trong các dạng đào tạo nâng cao nâng cao
chất lượng nguồn lao động.
ĐTN với mục tiêu đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ
có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương
tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức klioẻ nhằm tạo
điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo
việc làm, hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước.
ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời
nhau. Đó là: Dạy nghề và học nghề. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, dạy nghề và
ĐTN được đồng nhất với nhau trong diễn đạt của các văn bản.
đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có
sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng
tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hon.
- Đối tượng tuyển sinh và thời gian đào tạo: tuyển sinh các đối tượng đã tốt
nghiệp trung học cơ sở, thời gian đào tạo từ 3 - 4 năm; đã tốt nghiệp trung
học cơ sở và có chứng chỉ nghề cùng ĐTN, đã tham gia sản xuất từ 3 năm
trở lên, đào tạo từ 1,5 - 2 năm; đã tốt nghiệp trung học phổ thông đào tạo từ
1 - 2 năm.
* Cao đẳng nghề:
- Mục tiêu: ĐTN trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến
thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả
năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo,
ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống
phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật,
tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau
khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên
trình độ cao hơn.
- Đối tượng tuyển sinh và thời gian đào tạo: tuyển sinh các đối tượng
đã tốt nghiệp trung học phổ thông, thời gian đào tạo từ 2 - 3 năm; đấ tốt nghiệp
trung cấp nghề hoặc trung cấp chuyên nghiệp, thời gian đào tạo
từ 1
-
1,5 năm; đã có bằng trung cấp nghề, đã tham gia sản xuất đúng nghề đã học
từ 3 năm trở lên thời gian đào tạo 1 năm.
Căn cứ vào đối tượng học nghề có thể phân làm 3 loại ĐTN:
- Đào tạo mới: áp dụng cho những người chưa có chuyên môn, chưa có nghề.
15
[14, tr. 251].
Lao động là quá trình hoạt động tự giác, hợp lý của con người, nhờ đó con
người làm thay đổi các đối tượng tự nhiên và làm cho chúng thích ứng để thỏa mãn
nhu cầu của mình. “Xác định lao động với hai nghĩa, một là động từ, hai là danh
từ, tức lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản
phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội và lao động là người làm lao động” [27,
tr.25].
16
Tóm lại, khái niệm lao động được xác định: Lao động là hoạt động diễn ra
giữa người với tự nhiên. Trong khi lao động, con người vận dụng thể lực và trí tuệ
tiềm tang trong than thể mình sử dụng công cụ lao động tác động vào thế giới tự
nhiên để tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho bản than người lao động
và cho xã hội.
Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động. Sức lao
động là năng lực lao động cửa con người, baơ gồm thể lực và trí ỉựe cửa con người
lao động.
ỉ. ỉ.2.2. Lao động nông thôn
Lao động ở nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông
thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có khả nãng lao động.
Lao động ở nông thôn là lao động làm việc chủ yếu trong nông nghiệp, nó mang
tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. Trong nông nghiệp, nông dân phải làm tất
cả các công việc cày, bừa, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch của một cây trồng vật
nuôi hay cùng một việc của một cây trồng vật nuôi. Để có việc làm và tăng thu
nhập, lao động ở nông thôn phải tham gia vào nhiều hoạt động lao động khác
nhau, làm nhiều công việc ở các ngành nghề khác nhau.
Tuy nhiên, do đặc điểm tính chất, mùa vụ, công việc ở nông thôn mà lao
động tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao
Có thể khái quát: ĐTN cho LĐNT là quá trình kết họp giữa dạy nghề và học
nghề, đó là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành
để những người LĐNT có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành
thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông
thôn.
Xuất phát từ chủ trương đẩy mạnh ĐTN cho LĐNT tại các địa phương,
ĐTN cho LĐNT được tiến hành theo các hình thức sau:
- ĐTN cho LĐNT tại vùng chuyên canh, chuyên con. Mục tiêu củấ các lớp ĐTN cho
vùng chuyên canh, chuyên con là giúp LĐNT nâng cao năng suất lao động, tăng
chất lượng sản phẩm để tăng giá trị kinh tế sau thu hoạch, đồng thời nâng cao ý thức
về bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm với cộng đồng nơi họ sinh
sống.
Đối với những xã miền núi, vùng sâu, vùng xa hoặc những nơi có địa hình
chia cắt, nhiều kênh rạch, việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên việc đưa các lớp dạy
18
nghề về tận thôn, bản, xã - dạy nghề lưu động là một giải pháp, nhằm thúc đẩy
phong trào học nghề tại những địa phương đặc thù này.
- ĐTN cho LĐNT tại các làng nghề. Trong quá trình công nghiệp hóa nông
nghiệp nông thôn, làng nghề có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nhờ có làng
nghề, hàng triệu LĐNT đã được tạo việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo,
tăng thu nhập.
ĐTN cho LĐNT trong các làng nghề, nhằm đào tạo đội ngũ lao động trẻ để
phục hồi, duy trì và phát triển nghề truyền thống. ĐTN kết hợp với xây dựng vùng
nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm để giúp làng nghề có thể đứng vững, ổn định và
phát triển.
- ĐTN cho LĐNT để họ chuyển đổi nghề. Với những nông dân thuộc diện hộ
nghèo, người dân tộc thiểu số, nông dân bị thu hồi đất canh tác gặp khó khăn
hội, chính trị, khoa học, văn hóa - xã hội, nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã
hội theo những mục tiêu đã định.
Thứ hai, QLNN là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành
pháp và tư pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
Thứ ba, QLNN là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước để
điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người.
Thứ tư, QLNN là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nước; là
tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước có trách nhiệm
quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước do tất cả các cơ quan nhà nước (lập
pháp, hành pháp và tư pháp) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật để
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà quyền hạn nhà nước giao cho trong việc tô
chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiêu: QLNN là một
dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật để
điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do
các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp
của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
- QLNN về ĐTN cho LĐNT: theo tác giả luận văn, QLNN về ĐTN cho
LĐNT là quản lý theo ngành do các cơ quan chức năng thực hiện. Nó mang
tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước sử dụng
pháp luật để điều chỉnh mọi hoạt động của con người trong lĩnh vực ĐTN
cho LĐNT nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của hoạt động này.
1.1.4.2.
Chủ thể quản ỉỷ
20
Chủ thể QLNN về ĐTN cho LĐNT là các cơ quan QLNN từ trung ương tới
21
1.2.
Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.2.1.
Xây dựng và tề chức thực hiện chiến lược đào tạo nghề cho lao
động nông thôn
Chiến lược ĐTN cho LĐNT là các chương trình hành động, kế hoạch hành
động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể về ĐTN, đây là tổ hợp các mục
tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó.
Như vậy, chiến lược ĐTN cho LĐNT phải giải quyết tổng hợp các vấn đề
sau:
- Xác định chính xác mục tiêu cần đạt.
- Xác định rõ con đường, phương thức để đạt mục tiêu.
- Có định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn.
Xây dựng chiến lược ĐTN cho LĐNT là một nội dung hết sức quan
trọng và cần thiết bởi vì chiến lược cho phép: xác lập định hướng dài hạn cho công
tác ĐTN cho LĐNT; tập trung nỗ lực vào việc thực hiện các nhiệm vụ để đạt được
mục tiêu mong muốn; xác định phương thức tổ chức và hành động
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
THƯ V I Ệ N
định hướng các mục tiêu đặt ra. Thực hiện tốt việc xây dựng chiến lược ĐTN cho
LĐNT sẽ giúp các nhà quản lý vạch ra các hành động một cách hữu hiệu và nhận
Xây dựng và tồ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐTN cho LĐNT là các văn bản do
cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối -họp ban hành theo thẩm quyền, hình thức,
trình tự, thủ tục nhất định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc
chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các vấn đề về ĐTN.
Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐTN cho LĐNT là hết
sức cần thiết nhằm giúp Nhà nước quản lý tốt công tác ĐTN cho LĐNT. Bởi nhờ
có hệ thống vãn bản này mà Nhà nước có thể điều tiết những vấn đề thực tiễn
trong công tác ĐTN, giúp quá trình quản lý, điều hành công tác ĐTN đi vào quỹ
đạo ổn định.
23
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng giúp thể ché hóa và bảo đảm
thực hiện các chính sách về ĐTN cho LĐNT. Thông qua việc tạo ra hành lang
pháp lý mà Nhà nước có thể đưa ra các biện pháp khuyển khích ĐTN cho LĐNT
phát triển lành mạnh, hạn chế tiêu cực trong công tác ĐTN, góp phần ổn định trật
tự công tác ĐTN.
Ở nước ta, LĐNT là nguồn lao động hết sức dồi dào, tham gia vào quá trình
phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân; tham gia vào sản xuất lương thực
thực phẩm; tham gia vào quá trình sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
nông - lâm - thuỷ sản và đây cũng là lực lượng tiêu thụ sản phấm của các ngành
khác. Chính vì LĐNT có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang thực hiện CNH,
HĐH đất nước, trong đó có CNH, HĐH ríông nghiệp, nông thôn nên Đảng và Nhà
nước ta đã quan tâm xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên
dạy nghề ngắn hạn cho LĐNT; Quyết định số 33/2006/QĐ-TTg ngày 07/02/2006
phê duyệt Đề án dạy nghề cho lao động đi làm việc ở nước ngoài đến năm 2015.
Đồng thời, Chính phủ cũng thông qua các chương trình xoá đói, giảm nghèo, hỗ
trợ phát triển kinh tế - xã hội các vùng đặc biệt khó khăn như Chương trình 134,
Chương trình 135, Chương trình 120, chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và
bền vững đối với 61 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày
07/12/2008 để ĐTN cho người lao động, trong đó có LĐNT.
Đặc biệt, ngày 27/11/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
1956/QĐ-TTg phê duỵệt Đề án “ĐTN cho LĐNT đến năm 2020”. Theo Đề án, từ
nay đến năm 2020, bình quân mỗi năm sẽ đào tạo cho hơn 1 triệu LĐNT; trong đó,
nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả ĐTN nhằm tạo việc làm, tăng
thu nhập cho LĐNT; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế,
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Sau đó, Thông tư số 112/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 30/7/2010 của Bộ Tài
chính, Bộ LĐTBXH đã ra đời, hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện
Đề án “ĐTN cho LĐNT đến năm 2020”.
25