Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn huyện thăng bình, tỉnh quảng nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THỦY THỊ NGỌC THẢO

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THỦY THỊ NGỌC THẢO

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và hành chính
Mã số: 838.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Thủy Thị Ngọc Thảo


MỤC LỤC

CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025... 59
3.1.

Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề

cho lao


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng có
vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển con người, nguồn nhân lực,
chuyển đổi cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian nhàn
rỗi trong lao động nông thôn, không chỉ giúp người lao động có việc làm ổn định mà
còn góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, hướng đến xây dựng xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh. Đây cũng chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được xác
định trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nhất
là ở khu vực nông thôn đã từng bước được chú trọng, quan tâm đúng mức và đạt
được nhiều kết quả quan trọng. Lao động được đào tạo nghề ngày càng tăng cả về số
lượng lẫn chất lượng. Các ngành nghề được chọn để đưa về nông thôn đào tạo phù
hợp hơn với đặc điểm tình hình của từng vùng miền, phát huy được hiệu quả đào tạo
nhất là trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới hiện nay. Nhìn chung, công tác đào

nhu cầu dạy nghề cho lao động nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, nhiều
nông dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc đào tạo nghề nên không
mặn mà với các trung tâm dạy nghề. Nhiều gia đình chỉ tính đến việc cho con em
mình theo học nghề khi không đủ chỉ tiêu để theo học bất kỳ hệ đào tạo nào khác. Vì
vậy, việc đổi mới phương pháp, cách quản lý, điều hành để khắc phục những hạn chế
và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn trong thời gian đến là một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi sự vào cuộc
quyết liệt của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa
phương.
Trong bối cảnh chung đó, những năm qua, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam đã hoạch định, xây dựng, triển khai và tổ chức thực hiện công tác quản lý nhà

6


nước về đào tạo nghề trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cực. Ủy ban nhân
dân huyện đã thành lập Ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ và triển khai thực hiện
công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn một cách hiệu quả.
Tuy nhiên, công tác đào tạo nghề trên địa bàn huyện Thăng Bình vẫn còn
nhiều bất cập như người lao động nghề đăng ký học nghề không tập trung cùng một
thời điểm, chương trình đào tạo nghề chưa phù hợp với nhu cầu người học và người
sử dụng lao động, các doanh nghiệp tự nhận người lao động vào làm để tự đào tạo
theo yêu cầu của họ ... nên việc đào tạo nghề theo các chính sách hỗ trợ như Quyết
định 1956/QĐ-TTg và Nghị quyết 12 của Hội đồng nhân dân tỉnh, Quyết định 3577
của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam gặp rất nhiều khó khăn cho việc mở lớp để
đào tạo nghề; công tác tuyên truyền về các chủ trương, chính sách về chương trình
đào tạo nghề của các địa phương không liên tục thường xuyên, còn mang tính bị
động. Nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền còn chưa đầy đủ; công tác
quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn còn hạn chế, sự phối hợp
giữa các cơ quan, ban, ngành về công tác quản lý nhà nước còn chồng chéo thiếu tính

nghề cho lao động nông thôn với thực trạng trong cả nước. Từ đó, đề xuất những giải
pháp, phương hướng để nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
+ Tác giả Tú Mai (2014), “Dạy nghề cho lao động nông thôn còn nặng tính
hình thức”. Báo điện tử Chinhphu.vn. Công trình đã tập trung nghiên cứu những vấn
đề bức thiết cần giải quyết đối với lao động nông nghiệp của huyện Từ Liêm trong
bối cảnh đất nông nghiệp bị thu hẹp nhanh chóng để thực hiện đô thị hoá và thực
trạng việc hỗ trợ của Nhà nước để giải quyết việc làm cho người lao động nông
nghiệp trên địa bàn. Từ đó tác giả đưa ra một số khuyến nghị giải quyết tốt hơn vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá tại
huyện Từ Liêm.
+ Tác giả Đặng Xuân Hoan (2015), Phát triển nguôn nhân lực Việt Nam giai
đoạn 2015 - 2020 đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội

8


nhập quốc tế. Báo điện tử tcnn.vn. Bài viết đã nêu thực trạng nguồn nhân lực lao
động Việt Nam và đưa ra 4 giải pháp lớn phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2015 2020 trong đó giải pháp đầu tiên tác giả đề cập đến là đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà
nước về phát triển nhân lực nhưng không đi sâu về lao động nông thôn.
+ Tác giả Mạc Văn Tiến (2015), Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt
Nam khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN. Bài viết đánh giá khái quát về thực
trạng lao động Việt Nam, những cơ hội và thách thức của lao động Việt Nam khi
tham gia thị trường lao động khu vực trong tiến trình hội nhập. Từ đó, tác giả đưa ra
các giải pháp mang tính định hướng để nâng cao chất lượng của lao động Việt Nam
trong tiến trình hội nhập.
+ Tác giả Phạm Mạnh Hà (2011), Vai trò của Nhà nước đối với giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa. Chuyên đề luận án tiến sỹ đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém và những vấn đề
đặt ra cần giải quyết trong vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Ninh

Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, luận văn đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở cấp huyện của
nước ta hiện nay
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho lao động nông thôn.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam trong thời gian
qua.
Trên cơ sở đó đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở nước ta giai đoạn 2018 - 2025.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

1
0


Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước của chính quyền các cấp về đào tạo
nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013 2017 và đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về
đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Thăng Bình giai đoạn 2018 2025.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: gồm các văn bản của Đảng, các quy định
pháp luật của Nhà nước, các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước...
để xử lý thông tin và hình thành các luận điểm nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về đào tạo nghề
cho lao động nông thôn
1.1.1.

Các khái niệm
Nghề

Xét về khái niệm phổ biến nhất thì: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động
mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để
làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu
của xã hội.
Nghề hay nghiệp, đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb Văn hoá
thông tin - 1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của
xã hội”; Nghề là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát

1
2


triển cuộc sống cho mỗi người. Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con
đường để chúng ta thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân.
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản
xuất hẹp mà ở đó con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra
những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động...) hoặc giá trị tinh
thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ.) với tư cách là những phương tiện sinh
tồn và phát triển của xã hội.

sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền
kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ hàng
hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của
người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng
chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ
mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Con người phải chủ động
chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự
tìm việc làm, tự tạo việc làm...
1.11.3.

Đào tạo nghề

Theo C.Mác Ph.Ăng ghen, tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16 thì công tác dạy
nghề phải bao gồm các thành phần sau:
Một là: giáo dục trí tuệ
Hai là: Giáo dục thể lực như trong các trường thể dục thể thao hoặc bằng cách
huấn luyện quân sự
Ba là: dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm vững được những nguyên lí cơ bản
của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sản xuất đơn
giản nhất
Ở Việt Nam có tồn tại các khái niệm sau:
Theo giáo trình Kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân [14,
tr.78] thì khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày là: “Đào tạo nguồn nhân lực

1
4


là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao
động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định ”

và hoạt động ở vùng nông thôn. Hiện nay, lao động nông thôn có khoảng 33 triệu
người chiếm tới 76% dân số trong độ tuổi lao động của cả nước.
Như vậy có thể hiểu hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt
động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của
một nghề nào đó cho người lao động ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho
người lao động đó có thể thực hiện thành công nghề đã được đào tạo.
Ở nước ta, trong giai đoạn 2011-2015, có hơn một triệu 148 nghìn người được
hỗ trợ đào tạo nghề nông nghiệp để thực hiện các dự án trong chương trình xây
dựng nông thôn mới, làm dịch vụ phục vụ sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi để
nâng cao thu nhập, bảo đảm an sinh xã hội. Con số này còn quá khiêm tốn khi mà
hiện nay cả nước có khoảng hơn 25 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp, chiếm 55,7% tổng lao động của cả nước, và mỗi năm có thêm khoảng 1 triệu
người đến tuổi lao động. Nếu không quan tâm và chú trọng công tác đào tạo nghề
cho lao động nông thôn sẽ dễ dẫn đến tình trạng hụt hẫng nguồn lao động lành nghề,
thạo nghề được đào tạo cơ bản để phục vụ sản xuất đúng như đánh giá của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn: “số lượng đào tạo nghề nông nghiệp chưa đạt mục
tiêu đề ra; phương pháp đào tạo chủ yếu là tập trung ở trên lớp, do đó nhiều nông
dân không có điều kiện để tham gia với thời gian ba tháng; một số nội dung đào tạo
theo yêu cầu của sản xuất nông nghiệp hiện nay như: sản xuất công nghệ cao, vệ
sinh an toàn thực phẩm, sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu không có trong
chương trình đào tạo; nguồn kinh phí dựa chủ yếu vào ngân sách Trung ương hỗ trợ,
mặt khác kinh phí hằng năm bố trí hạn chế cho nên các mục tiêu về số lượng đạt
thấp (75%); việc phân công và cơ chế phối hợp chưa phù hợp, dẫn đến vai trò của
ngành nông nghiệp đối với đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn chưa
được phát huy; các bộ, ngành, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội chưa có sự phối
hợp gắn kết trong tuyên truyền, định hướng thị trường, việc kiểm tra, giám sát thực
hiện chương trình cho nên ảnh hưởng đến kết quả đào tạo ".

1
6

Như vậy, có thể hiểu quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những
mục tiêu nhất định.
Từ nội hàm của các khái niệm trên, có thể thấy rằng quản lý có một vai trò hết
sức quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất ý chí trong tổ chức giữa những người quản
lý và người bị quản lý; giữa những người bị quản lý với nhau; định hướng sự phát
triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các đối
tượng quản lý vào mục tiêu đó; tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động
của các cá nhân, tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt được mục tiêu quản lý; tạo động
lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, động viên; uốn nắn lệch lạc,
sai sót nhằm giảm bớt thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý, tạo môi trường và
điều kiện cho sự phát triển của mọi cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định,
bền vững và có hiệu quả.
Quản lý nhà nước: Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển Việt Nam thì
quản lý nhà nước là tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, xã hội theo pháp luật.
Theo giáo trình Khoa học hành chính (2010), Nhà xuất bản Chính trị - Hành
chính [9, tr.56-57]: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện
và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó là những hoạt động thực
thi quyền lực nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành đối với mọi cá
nhân, tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng
quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích
chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển
theo một định hướng thống nhất của Nhà nước”.
Theo giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Nhà xuất bản Công an nhân dân
[7, 102-103] thì “quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập

1
8



2
0


Chính phủ, bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp để thống nhất triển khai thực hiện,
đánh giá.
Hai: Các cơ quan được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác
đào tạo nghề cho lao động nông thôn cấp dưới căn cứ chỉ tiêu được cấp trên giao
hàng năm, xây dựng kế hoạch và hợp đồng đặt hàng với các cơ sở đào tạo nghề thực
hiện, kinh phí nhà nước hỗ trợ công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được
chuyển trả cho cơ sở đào tạo nghề. Vì thế, quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo
nghề thực hiện chủ yếu thông qua cơ sở đào tạo nghề được phê duyệt đặt hàng, kết
quả đào tạo và tỷ lệ lao động có việc làm với nghề đã học từ đó có những yêu cầu cơ
sở đào tạo nghề điều chỉnh phù hợp hoặc không lựa chọn đặt hàng đào tạo nghề năm
tiếp theo.
Ba: Quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn được giao
cho hai ngành Lao động -Thương binh và Xã hội và ngành Nông nghiệp thực hiện
thống nhất. Trong đó việc quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề phi nông
nghiệp cho lao động nông thôn do ngành Lao động- Thương binh và Xã hội thực
hiện; việc quản lý công tác đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn do
ngành nông nghiệp thực hiện (cấp huyện do phòng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn tham mưu cho UBND cấp huyện thực hiện).
Bốn: Đối tượng học nghề là nông dân, lao động nông thôn do đó việc bố trí địa
điểm lớp học, thời gian học cần linh hoạt để đạt hiệu quả cao chính vì thế công tác
quản lý, kiểm tra, giám sát và tuyên truyền, giới thiệu chủ trương chính sách về công
tác đào tạo nghề cũng khá vất vả.
1.1.3.

Vai trò của đào tạo nghề và quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao


đất quê hương. Tư tưởng ly hương, tìm kiếm công việc ở các thành phố lớn với mức
thu nhập có thể tạm chấp nhận so với mức thu nhập quá thấp ở nông thôn khiến một
lực lượng hùng hậu lao động nông thôn nhất là lao động trẻ đổ về các thành phố lớn
để tìm kiếm cơ hội. Bên cạnh đó, chính những nghề nghiệp mà chúng ta đang cố
gắng đào tạo chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút người lao động nông thôn, nhất là về
mặc thu nhập. Mặt khác, ngày nay người lao động chưa qua đào tạo (lao động phổ

2
2


thông) cơ hội tìm được việc làm trong các doanh nghiệp, tổ chức là rất thấp. Do các
yêu cầu của trình độ kỹ thuật, tay nghề của người lao động, đòi hỏi sự hiểu biết về
máy móc, vật tư, kỹ thuật để tạo ra sản phẩm cho xã hội, sức cạnh tranh sản phẩm
trên thị trường... Đặc biệt trong điều kiện kinh tế suy giảm như hiện nay, nhiều doanh
nghiệp bị phá sản ... thì cơ hội tìm việc làm đối với lao động trình độ thấp và lao
động chưa qua đào tạo là rất khó khăn. Vì thế, công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn có ý nghĩa và vai trò rất lớn đối với sự ổn định an ninh chính trị và phát
triển kinh tế xã hội nói chung và người lao động nói riêng: Đối với doanh nghiệp:
Đào tạo nghề được xem là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu, chiến lược
của tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất
của các doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp giải quyết được các vấn đề về tổ chức,
chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận và giúp cho doanh nghiệp thích
ứng kịp thời với sự thay đổi của xã hội. Quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
thành công sẽ mang lại những lợi ích sau: Cải tiến về năng suất, chất lượng và hiệu
quả công việc. Giảm bớt được sự giám sát, vì khi người lao động được đào tạo, trang
bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ có thể tự giám sát
được. Tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động. Đạt được yêu cầu trong công
tác kế hoạch hoá nguồn nhân lực. Giảm bớt được tai nạn lao động. Sự ổn định và
năng động của tổ chức tăng lên, đảm bảo giữ vững hiệu quả hoạt động của doanh

Từ vai trò của quản lý nhà nước và các hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho lao động nông thôn có thể thấy quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao
động nông thôn có vai trò can thiệp, dẫn dắt sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn
theo định hướng chủ trương, đường lối phát triển kinh tế xã hội nước ta của Đảng và
Nhà nước với mục tiêu cụ thể nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Mà mục tiêu tổng
quát là mỗi năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, nâng cao chất
lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập nâng cao mức sống
của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế bắt
nhịp với sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới.

2
4


1.2. Nội dung và cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn
1.2.1. Cơ sở chính trị và pháp lý của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn
Đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho lao động nông thôn có vị trí, vai
trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển con người, nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ
cấu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian nhàn rỗi trong lao
động nông thôn, không chỉ giúp người lao động có việc làm ổn định mà còn góp phần
tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, phát triển kinh tế - xã hội, đảm
bảo quốc phòng - an ninh, hướng đến xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đây cũng chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng đã được xác định trong các
Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Chính
các văn bản này đã tạo thành cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý để công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn và quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn được triển khai thực hiện một cách đồng bộ, chặt chẽ, đạt hiệu quả cao nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status