Quản lý Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (tt) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……/...…

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HỮU TÌNH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: TS. PHÙNG VĂN HIỀN

Phản biện 1: ..............................................................................
..............................................................................
Phản biện 2: ..............................................................................
..............................................................................


cao chất lượng cuộc sống.
Trong giai đoạn 2011-2016, công tác QLNN về ĐTN cho LĐNT tại
huyện Bố Trạch đã đạt được những thành tựu nhất định: Hệ thống cơ sở
đào tạo nghề được quy hoạch, phát triển mạnh mẽ, nhất là Trung tâm dạy
nghề huyện được thành lập; quy mô đào tạo được mở rộng; Công tác
tuyên truyền phổ biến pháp luật về dạy nghề cho lao động nông thôn,
công tác quy hoạch, kế hoạch, dự báo nhu cầu đào tạo nghề cho lao động
nông thôn được các cấp chính quyền quan tâm triển khai; các nhân tố
đảm bảo chất lượng đào tạo được tăng cường khiến chất lượng đào tạo
nghề cũng dần được cải thiện; đã gắn mục tiêu đào tạo nghề với chuyển
dịch cơ cấu lao động, cơ cấu KT - XH; sau đào tạo nhiều lao động đã tìm
được việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển
KT - XH và xây dựng nông thôn mới.
Tuy nhiên, công tác đào tạo nghề ở huyện Bố Trạch vẫn còn tồn
tại nhiều bất cập: công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật
về dạy nghề cho lao động nông thôn chưa hiệu quả, bộ máy quản lý
nhà nước về công tác đào tạo nghề chưa hoàn thiện, thiếu kinh
nghiệm; việc triển khai công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn chưa gắn kết chặt lẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
1


quy hoạch xây dựng nông thôn mới, với thị trường lao động; công tác
kiểm tra, giám sát chưa thực hiện thường xuyên và còn thiếu chặt chẽ
dẫn đến chất lượng, hiệu quả đào tạo chưa cao, chưa phù hợp với nhu
cầu của người học và người sử dụng lao động và mục tiêu của Đề án
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn vấn đề "Quản lý Nhà
nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình” để làm đề tài nghiên cứu.

Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí
2


Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, chính sách
pháp luật của Nhà nước về nông thôn, nông dân, về ĐTN và quản lý nhà
nước về ĐTN cho LĐNT.
5.2. Cơ sở thực tiễn
Từ cơ sở lý luận về ĐTN cho LĐNT, cơ quan quản lý nhà nước các
cấp đã triển khai theo nhiệm vụ của mình để tổ chức thực hiện phù hợp
với thực tế của địa phương, vừa nâng cao hiệu lực hiệu quản quản lý nhà
nước vừa tạo nguồn nhân lực lao động có tay nghề cho DN, cho địa
phương nói chung và huyện Bố Trach, tỉnh Quảng Bình nói riêng. Thông
qua đó phản ánh các mặt hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, đề
xuất phương hướng và gải pháp, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành chính sách phù hợp với thực tế ở từng địa phương và
từng giai đoạn về ĐTN cho LĐNT, đặc biệt là trong hội nhập kinh tế
quốc tế sâu rộng hiện nay.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập
Phương pháp phân tích định tính, định lượng nguồn số liệu
Phương pháp tổng hợp, đánh giá
Đóng góp chuyên gia
Phương pháp quy nạp
6. Ý nghĩa về cơ sở lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa về lý luận
Luận văn làm rõ các khái niệm, vai trò, sự cần thiết khách quan phải
quản lý nhà nước đối với công tác ĐTN cho LĐNT, quan điểm của Đảng
và nhà nước về công tác ĐTN cho LĐNT và đặc biệt là làm rõ nội dung của
công tác quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT.

Hai là: Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu
cầu xã hội.
Ba là: Nghề là phương tiện để sinh sống.
Bốn là: Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị
trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.
Như vậy, nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi
kiến thức lý thuyết tổng hợp và kỹ năng thực hành để hoàn thành những
công việc nhất định.
b. Đào tạo nghề
Theo ILO thì: “Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học
những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến
công việc, nghề nghiệp được giao”
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) đưa ra khái niệm:“Đào tạo nghề
nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái
độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc
tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ
nghề nghiệp”.
Theo tác giả thì khái niệm đào tạo nghề định nghĩa như sau: “Đào
tạo nghề là hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp
cần thiết cho người lao động để họ có thể hành nghề hoặc tự tạo việc
làm sau khi hoàn thành khóa học”.
* Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại
hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm chủ yếu
4


sau:
- Đào tạo nghề gắn chặt với với sản xuất.
- Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật
cao, chiếm khoảng 80% thời gian học tập

không phải đóng góp học phí.
Cơ sở tham gia đào tạo nghề cho LĐNT: từ các Trường cao đẳng,
trung cấp nghề, các Trung tâm dạy nghề, các CSDN khác, các DN…
Giáo viên tham gia dạy nghề cho LĐNT: Gồm giáo viên dạy nghề,
5


kỹ sư, thợ giỏi, thợ lành nghề, nghệ nhân…
1.1.3. Quản lý nhà nước về ĐTN cho lao động nông thôn
Có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính
quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các
hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các
cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp
pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
ĐTN cho LĐNT là một trong những hoạt động của lĩnh vực giáo
dục đào tạo.
Ta có thể hiểu quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là hoạt động
quản lý theo ngành do các cơ quan chức năng thực hiện, sử dụng quyền
lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động đào tạo nghề
cho lao động nông thôn nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Đặc điểm của quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT
- Chủ thể quản lý: là các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ Trung
ương tới địa phương được giao nhiệm vụ QLNN về ĐTN cho LĐNT
theo quy định của pháp luật.
- Đối tượng quản lý: là mọi hoạt động về ĐTN cho LĐNT ở tất cả
các cơ sở đào tạo nghề.
- Mục tiêu quản lý: là đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, ý
thức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho LĐNT.
1.2. Nội dung QLNN về ĐTN cho lao động ở nông thôn
1.2.1. Bộ máy QLNN về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

nhà nước còn đầu tư hợp lý về cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, trang
thiết bị kỹ thuật cho các cơ sở ĐTN cho LĐNT.
Ngành LĐ-TB&XH thực hiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách,
các nguồn đầu tư khác đảm bảo tính thống nhất từ cao xuống thấp.
1.2.6. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và hợp tác
quốc tế về ĐTN cho LĐNT
Tăng cường hợp tác quốc tế về ĐTN, lựa chọn các đối tác chiến
lược trong lĩnh vực ĐTN. Đồng thời, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để
thu hút các nhà đầu tư, các DN nước ngoài phát triển cơ sở ĐTN chất
lượng cao, hợp tác ĐTN.
1.3. Vai trò của quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT
Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” ngày 27
tháng 11 năm 2009 đã nêu rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về đào
tạo nghề cho lao động nông thôn. Theo đó, QLNN trong lĩnh vực ĐTN
cho LĐNT là sự cần thiết khách quan vì những lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, ĐTN cho LĐNT phải gắn với giải quyết việc làm,
chuyển dịch cơ cấu lao động; gắn với xóa đói, giảm nghèo và góp phần
bảo đảm an sinh xã hội ở nông thôn; gắn với xây dựng nông thôn mới.
Thứ hai, trong kinh tế thị trường, đào tạo nghề nếu không có sự
quản lý của nhà nước sẽ dễ dẫn đến các hiện tượng tiêu cực.
Thứ ba, đào tạo nghề cho LĐNT là hoạt động giáo dục đặc thù.
Đầu tư phát triển ĐTN là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho con người,
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người học, không chỉ tác động đến
lợi ích hoặc gây ra hậu quả trước mắt cho người học, cho xã hội mà còn
đem lại lợi ích hoặc gây ra hậu quả lâu dài.
1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT của một
số địa phương
1.4.1. Tỉnh Quảng Trị
1.4.2. Tỉnh Nghệ An

nghề…Từ đó đưa ra cơ sở lý luận QLNN về ĐTN cho LĐNT. Trong cơ sở
lý luận của QLNN về ĐTN cho LĐNT đã làm rõ khái niệm về QLNN; chủ
thể quản lý; đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý ĐTN cho LĐNT .
Thứ hai, dựa vào Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020”
của Thủ tướng Chính phủ theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27
tháng 11 năm 2009, đã nêu rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về ĐTN
cho LĐNT, đồng thời cũng quy định về thẩm quyền của các cơ quan
QLNN về ĐTN cho LĐNT; quy định cụ thể các chính sách cho người
học, cho người dạy và cho CSĐT tham gia dạy nghề cho LĐNT… Từ đó
8


đưa ra nội dung và sự cần thiết của QLNN đối với công tác QLNN về
ĐTN cho LĐNT, đó là cơ sở thực tiễn trong lĩnh vực này.
Thứ 3, trên cơ sở đó tác giả xác định mô hình về ĐTN cho LĐNT ở
các địa phương trong nước để có thể nghiên cứu áp dụng thực hiện ĐTN
cho LĐNT tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN BỐ TRẠCH,
TỈNH QUẢNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2011-2016
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng
đến quản lý nhà nước về đào tạo nghề tại huyện Bố Trạch, tỉnh
Quảng Bình
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Huyện Bố Trạch nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Đồng Hới,
phía Bắc giáp huyện Quảng Trạch, huyện Tuyên Hóa và huyện Minh
Hóa; phía Nam giáp thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh, phía
Đông giáp biển đông; phía Tây giáp nước Lào.


16.920

17.206

17.344

17.438

17.533

17.641

Khu vực nông thôn

161.540

163.149

164.275

165.070

165.648

166.319

Tổng dân số

178.460


Năm
2013

Năm
2014

Năm
2015

Năm
2016

Nông, lâm nghiệp,
thủy sản:

67.036

65.349

66.567

67.105

67.427

66.712

Công nghiệp – XD


93.984

94.575

95.851

95.881

95.896

c. Tình hình kinh tế
Cuối năm 2016 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt
11,95%/năm (Cơ cấu kinh tế: nông, lâm, nghiệp, thủy sản: 29,6%; Công
nghiệp – xây dựng: 23,5%; Dịch vụ: 46,9%).

Bảng 2.3. Cơ cấu các ngành kinh tế huyện Bố Trạch
giai đoạn 2011-2016
Đơn vị tính: %
Năm

Năm
2011

Năm
2012

Năm
2013

Năm

22,9

23,5

23,4

23,5

Dịch vụ:

39,4

40,6

43,8

44,5

46

46,9

d. Cơ sở hạ tầng
Đến nay 100% xã, thị trấn có điện (Trong đó 28/30 xã, thị trấn có
điện lưới Quốc gia, 02 xã dùng điện năng lượng mặt trời); 100% xã, thị
trấn có đường ô tô về tận trung tâm xã.
e. Tình hình văn hóa - xã hội
Tỷ lệ người lao động qua đào tạo đạt 47%/KH 47%, trong đó tỷ lệ
qua đào tạo nghề đạt 41,1%/KH 41%.
Bảng 2.4. Tình hình lao động qua đào tạo huyện Bố Trạch giai đoạn


32

37

46

47

18,6

20,4

22,3

28,7

32

41,1

Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 là 9.85%, giảm 11,89% so với năm 2011.
Bảng 2.5. Tỷ lệ hộ nghèo huyện Bố Trạch giai đoạn 2011-2016
Đơn vị tính: %
Năm

Năm
2011

Năm

21,74

18,53

16,59

13,99

8,81

12,74

2.2. Tình hình tổ chức thực hiện đào tạo nghề cho lao động
nông thôn tại huyện Bố Trạch
2.2.1. Mạng lưới tổ chức dạy nghề
Năm 2010 huyện đã thành lập TTDN theo Quyết định số 2156/QĐUBND ngày 15 tháng 7 năm 2010.
Trong giai đoạn 2011-2016 đã có 37 CSDN trên toàn tỉnh đã tham
gia ĐTN cho LĐNT tại huyện Bố Trạch.
Bảng 2.6. Số lượng cơ sở dạy nghề tham gia dạy nghề tại huyện
Bố Trạch giai đoạn 2011-2016
Đơn vị tính: Cơ sở
Năm

Năm
2011

Năm
2012

Năm


2

2

2

1

CSDN khác:

3

6

3

5

4

5

6

8

5

5

18 người, chiếm 3,02%; trung cấp 236 người, chiếm 39,5%... Trình độ lý
luận chính trị cao cấp có 2 người, chiếm 0,34%; trung cấp 329 người,
chiếm 55,11%; sơ cấp 95 người, chiếm 15,91%...
2.3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn tại huyện Bố Trạch
2.3.1. Về ban hành văn bản
Trên cơ sở quy định của Trung ương và tỉnh Quảng Bình, huyện Bố
trạch ban hành các văn bản quản lý để tổ chức thực hiện đào tạo nghề
cho LĐNT như Quyết định, kế hoạch, Đề án…
2.3.2. Về tổ chức bộ máy quản lý
UBND huyện phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông
thôn huyện Bố Trạch đến năm 2020” theo Quyết định số 4626a/QĐUBND ngày 20/9/2011. Quyết định cũng nêu rõ chức năng, nhiệm vụ
của từng cơ quan QLNN trong công tác ĐTN cho LĐNT như sau:
Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Phòng Nội vụ
Phòng Tài chính – Kế hoạch
Phòng Giáo dục và Đào tạo
Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện
Phòng Văn hóa Thông tin Thể thao, Đài truyền thanh huyện
Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn
Ủy ban Mặt trận và các hội đoàn thể từ huyện đến cơ sở
12


2.3.3. Giám sát, đánh giá tình hình thực hiện ĐTN cho LĐNT
Trong giai đoạn 2011-2016, Số đoàn của Ban chỉ đạo, các sở,
ngành cấp tỉnh: 31 đoàn, số đoàn của Hội đồng nhân dân, Đoàn Đại biểu
Quốc hội tỉnh: 14 đoàn, số đoàn của Ban chỉ đạo, Hội đồng nhân dân cấp
huyện, các phòng, ban cấp huyện: 342 đoàn, số đoàn của Ban chỉ đạo

Bảng 2.7. Số LĐNT được đào tạo nghề giai đoạn 2011-2016
Đơn vị tính: người

13


Năm
2011

Năm
2012

Năm
2013

Năm
2014

Năm
2015

Năm
2016

Tổng
cộng

Nông nghiệp:

480


0

14

14

28

684

638

4.214

Năm

Tổng cộng

784

708

675

725

Gần 75 % LĐNT sau khi học nghề đã tìm được việc làm mới hoặc có
thêm việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống góp phần giải quyết việc
làm, xóa đói giảm nghèo cho LĐNT; nhiều làng nghề đã được khôi phục và


trong khi ngân sách tỉnh, huyện còn nhiều khó khăn.
Trung tâm GD – DN huyện thiếu giáo viên cơ hữu.
Sự phối hợp giữa cơ sở ĐTN với địa phương, ngành và ở một số
cấp, ngành còn chưa chặt chẽ.
Chỉ tiêu ĐTN cho LĐNT chưa đáp ứng đủ so với nhu cầu đào tạo
của huyện.
Nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương về ĐTN cho
LĐNT chưa đầy đủ, nhất là về xã hội hoá ĐTN.
b. Nguyên nhân của những hạn chế
Về chính sách: chưa có chính sách mạnh để phát triển ĐTN thay
đổi cơ cấu nguồn nhân lực của huyện.
Chủ trương phân luồng và định hướng ĐTN chưa được thực hiện
một cách triệt để.
Đầu tư cho công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên còn hạn chế.
Về tổ chức bộ máy: bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực ĐTN
thiếu ổn định. Các cơ sở ĐTN công lập chưa phát huy hết tính năng động
và tự chủ của đơn vị, còn chồng chéo.
Quá trình tổ chức thực hiện: triển khai thực hiện các quy hoạch, kế
hoạch ĐTN chưa nghiêm túc. Doanh nghiệp chưa tham gia nhiều vào
công tác ĐTN, đây là yêu tố cần thiết sát thực trong ĐTN gắn với DN.
Thanh tra kiểm tra giám sát: công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
trong lĩnh vực ĐTN cho LĐNT chưa thường xuyên, chưa đáp ứng được
nhu cầu.
Nhu cầu ĐTN cho LĐNT: nhìn chung người LĐNT chưa thấy rõ
hết vai trò ĐNT vì đào tạo xong sẽ làm gì ở đâu, do vậy người dân vẫn
còn nhận thức xa rời thực tiễn.
Tiểu kết chương 2
Qua nghiên cứu thực tế, tác giả đã đánh giá thực trạng QLNN về
ĐTN cho LĐNT của huyện Bố Trạch giai đoạn 2011 – 2016, qua đó

Bình đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Khai thác và phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa
phương, gắn chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội;
xây dựng chiến lược vì con người, cho con người, góp phần giảm nghèo,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng tăng tỷ
trọng CN, dịch vụ.
Sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực tại chỗ, khai thác các nguồn
lực bên ngoài vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh và có
tính bền vững, đưa huyện Bố Trạch ngày càng phát triển.
b. Định hướng phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chú trọng công tác ĐTN theo địa chỉ, tạo việc làm ổn định, tăng
thu nhập của LĐNT; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh
tế đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn và mục tiêu
phát triển KT - XH của huyện đến năm 2020.
Tập trung đào tạo nguồn nhân lực để thực hiện tốt mục tiêu ĐTN
cho LĐNT đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH; chú trọng đào tạo
16


nghề, đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cho các khu công nghiệp,
khu kinh tế, phát triển ngành nghề nông thôn. Khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia ĐTN và phát triển dịch vụ giới thiệu việc làm.
Gắn mục tiêu ĐTN cho LĐNT với giải quyết việc làm, chuyển
dịch cơ cấu lao động, với xóa đói, giảm nghèo và góp phần đảm bảo
an sinh xã hội ở nông thôn. Thực hiện đào tạo có địa chỉ gắn với
doanh nghiệp, cơ sở SXKD, các khu CN, làng nghề.
Đa dạng hóa các hình thức đào tạo như: tập trung tại CSDN, lưu
động, tham gia thực hành nơi sản xuất, nhà máy, xí nghiệp, các công
trình xây dựng, làng nghề... và đổi mới phương thức tổ chức đào tạo


Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu và xây dựng danh mục
thiết bị ĐTN.
Phát triển giáo viên, cán bộ quản lý đào tạo nghề.
Giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án.
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Một là: Xây dựng, ban hành chính sách đào tạo nghề cho LĐNT
* Tăng quyền tự chủ cho các cấp quản lý ĐTN
Các cơ sở ĐTN được tự chủ trong xây dựng kế hoạch, tổ chức bộ
máy, chi thường xuyên và chi đầu tư, được giao quyền quyết định số
lượng người làm việc, được vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước hoặc
được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ
chức tín dụng theo quy định, được tự quyết định mức trích quỹ bổ sung
thu nhập.
Các CSDN không phân biệt hình thức sở hữu là công lập hay tư
nhân cần được đối xử bình đẳng về các chủ trương, chính sách ưu đãi
của nhà nước, các quy định pháp luật về DN.
* Thực hiện chủ trương xã hội hóa đào tạo nghề cho LĐNT
Nhà nước tạo cơ hội bình đẳng để mọi thành phần kinh tế và mọi
người dân tham gia ĐTN.
Nâng cấp, nâng cao năng lực các CSDN hiện có, thành lập thêm
các trung tâm đào tạo nghề ở huyện phù hợp với quy hoạch của huyện.
Mở rộng quy mô đào tạo theo hướng xã hội hoá nhằm huy động
các nguồn lực cho công tác ĐTN trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Tạo mối quan hệ giữa DN với cơ sở ĐTN và hướng tới đào tạo theo
nhu cầu của đơn vị sử dụng lao động, DN trực tiếp hợp đồng đào tạo với
cơ sở ĐTN.
Chuyển ĐTN từ đào tạo theo năng lực sẵn có của các cơ sở ĐTN
sang đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động và xã hội; gắn ĐTN

Ba là: Đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề cho LĐNT
Tăng cường biên chế giáo viên cơ hữu cho các CSDN.
Có chính sách khuyến khích và thu hút nghệ nhân, các nhà khoa
học, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các DN
và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyến nông - lâm - ngư,
nông dân sản xuất giỏi.
Chú trọng phát triển đội ngũ giáo viên có trình độ cao, có khả năng
tiếp thu các công nghệ tiên tiến để áp dụng vào giảng dạy. Xây dựng mới
và điều chỉnh các chính sách khuyến khích.
Bốn là: Đổi mới nội dung chương trình, giáo trình và phương pháp
giảng dạy
Do đặc trưng của ĐTN và đặc điểm người học nghề là LĐNT nên
các chương trình cần xây dựng đảm bào tính hệ thống, đơn giản, dễ hiểu,
ngắn gọn. Chương trình học nghề cần thường xuyên được cập nhật kỹ
thuật, công nghệ mới trong SX - KD, dịch vụ. Việc biên soạn chương
trình đào tạo cần có sự tham gia của các giáo viên có kinh nghiệm,
chuyên gia, kỹ sư làm việc trong trong các doanh nghiệp, nghệ nhân ở
các làng nghề, nông dân sản xuất giỏi, thợ lành nghề.
Chương trình đào tạo phải gắn với học liệu sinh động, đa dạng và
thiết thực, phù hợp với trình độ của người học.
Nội dung dạy cho LĐNT cần được xác định cho từng vùng cụ thể,
vì mỗi vùng không chỉ có cơ cấu ngành nghề khác nhau mà trình độ dân
19


trí cũng khác nhau.
Chương trình ĐTN theo hướng "cầm tay, chỉ việc” nhằm giúp
người học dễ hiểu, dễ nhớ.
Năm là: Nâng cao hiệu quả công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát
Các cơ quan chức năng xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn và

phát từ nhu cầu sử dụng lao động thực sự của các cơ SXKD dịch vụ trên
địa bàn huyện, tỉnh; từ nhu cầu phát triển KT – XH của huyện; đồng thời
dựa trên nhu cầu thực tế về nghề nghiệp của người dân.
Phát triển và nhân rộng mô hình gắn ĐTN với vùng nguyên liệu.
20


Kết nối với các DN, các hợp tác xã đến nói chuyện với người dân, vừa là
để tìm đầu ra cho sản phẩm của họ, vừa là để tăng sự liên kết của các bên
(nhà nông - nhà nước - nhà khoa học - nhà DN).
Do nhu cầu phát triển KT – XH của huyện, đặc biệt với lợi thế là
huyện có nhiều điểm du lịch hấp dẫn nên huyện Bố Trạch cần tăng cường
ĐTN cho LĐNT theo xu hướng mở các lớp đào tạo về dịch vụ, du lịch như:
Kỹ thuật chế biến món ăn, lễ tân, tiếp viên nhà hàng, tiếng anh bồi, may
công nghiệp… kết hợp với các làng nghề truyền thống như làm nón, thêu
ren, thủ công mỹ nghệ…
3.3. Một số đề xuất kiến nghị
3.3.1. Đề xuất với các cơ quan Trung ương
Sửa đổi, bổ sung Quyết định 1956 trên cơ sở tăng định mức hỗ trợ
học nghề cho LĐNT lên mức 6 triệu đồng/người, để người lao động có
thể tham gia các nghề kỹ thuật đòi hỏi trình độ chuyên sâu với khóa học
có thời gian dài hơn; hỗ trợ tiền ăn cho đối tượng cận nghèo vì phần lớn
lao động các hộ nghèo và cận nghèo đời sống còn khó khăn.
Sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 112/TTLT-BTC-BLĐTBXH
ngày 30/7/2010 của Liên Bộ Tài chính, Bộ LĐ – TB&XH hướng dẫn
quản lý và sử dụng nguồn kinh phí thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho
lao động nông thôn đến năm 2020”, cụ thể: bổ sung thêm một số nội
dung chi hỗ trợ học viên như nước uống, văn phòng phẩm cho học viên.
Quy định thống nhất cơ quan quản lý triển khai ĐTN cho LĐNT,
tránh tình trạng chồng chéo trong quản lý công tác ĐTN nông nghiệp,

huyện trong thời gian tới và đến năm 2020. Tác giả luận văn đề xuất
phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về
ĐTN cho LĐNT tai huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển KT - XH của huyện trong thời gian tới. Đồng thời, đề
xuất kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, ban hành
chính sách phù hợp với từng địa phương, từng thời kỳ, đáp ứng nhu cầu
về nguồn nhân lực lao động trong nước cũng như hội nhập kinh tế quốc
tế, tỉnh Quảng Bình nói chung, của huyện Bố Trạch nói riêng nhằm phát
triển KT- XH.

22


KẾT LUẬN
Với đặc thù của đất nước ta là nền sản xuất nông nghiệp lúa nước là
chính, phần lớn dân cư sống ở nông thôn, việc thực hiện CNH - HĐH
nông nghiệp và nông thôn là điều kiện tiên quyết để đưa nước ta thành
nước CNH - HĐH vào năm 2020. Do đó, ĐTN cho LĐNT là cần thiết
nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn gắn với sản uất, đáp ứng
yêu cầu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Luận văn đã hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN
về ĐTN cho LĐNT, sự cần thiết phải nâng cao QLNN đối với ĐTN cho
LĐNT, theo nội dung của QLNN. Luận văn cũng đã đưa ra các mô hình
tiêu biểu về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở các địa phương trong
nước để có thể nghiên cứu áp dụng thực hiện ĐTN cho LĐNT tại huyện
Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
Từ cơ sở khoa học quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT, những
nội dung đề cập trong Luận văn đã đánh giá thực trạng QLNN về ĐTN
cho LĐNT của huyện Bố Trạch từ năm 2011 đến năm 2016, đưa ra và
phân tích nội dung QLNN ĐTN cho LĐNT: công tác chỉ đạo điều hành;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status