VIỆN HÀN LẦM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________
NGUYỄN MINH TRIỆU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2020
VIỆN HÀN LẦM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
___________________
NGUYỄN MINH TRIỆU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN ANH HÙNG
2.2. Khái quát về đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn huyện Phù Mỹ,
tỉnh Bình Định ....................................................................................................... 45
2.3. Đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định ......................................................................... 56
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG
THÔN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH .................... 67
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao
động nông thôn từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định .................................. 67
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn .............................................................................................................. 70
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
STT
Nghĩa đầy đủ
1
CBCC
Cán bộ, công chức
7
LĐNT
Lao động nông thôn
8
NĐ
Nghị định
9
NQ
Nghị quyết
10
QLNN
Quản lý nhà nước
11
QĐ
Quyết định
Tên bảng
bảng
2.1
Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề trên địa bàn
huyện Phù Mỹ
Trang
50
Mức độ hài lòng thí điểm chính sách xuất khẩu lao
2.2
động đối với LĐNT năm 2018 của huyện Phù Mỹ, tỉnh
57
Bình Định
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Tên hình
hình
Trang
về Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt. Mục tiêu của công tác đào tạo nghề nhằm phục vụ nhân lực
cho xây dựng NTM, đồng thời phục vụ nhân lực cho tái cơ cấu sản xuất ngành nông
nghiệp. 10 năm thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm
2020”, các địa phương trong cả nước đã tích cực triển khai các lớp đào tạo nghề cho
lao động nông thôn. Nhận thức của các cấp chính quyền và người dân với công tác
ĐTN cho LĐNT có nhiều thay đổi theo hướng tích cực hơn. Nhiều địa phương đã
huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các cơ sở sản xuất kinh doanh,
dịch vụ và các nguồn lực xã hội đầu tư cho công tác đào tạo nghề và hỗ trợ, tạo điều
kiện giúp người sau học nghề tổ chức sản xuất, kinh doanh. “Mặc dù đạt được
những kết quả nhất định nhưng công tác ĐTN cho LĐNT vẫn gặp nhiều khó khăn
như: “Công tác ĐTN cho LĐNT chưa được coi trọng đúng mức; nhiều bộ, ngành,
địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về ĐTN cho LĐNT, coi đào
tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường
xuyên, liên tục và có hệ thống; hiệu quả ĐTN cho LĐNT không đồng đều giữa các
vùng trong cả nước; hoạt động đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề cho các trung
tâm cấp huyện chưa được quan tâm; việc xác định danh mục nghề đào tạo cho lao
động nông thôn vẫn còn dàn trải, nhất là danh mục nghề nông nghiệp; một số địa
phương chưa xây dựng, phê duyệt định mức chi phí đào tạo, xây dựng, phê duyệt
chuẩn đầu ra cho các nghề đào tạo... Bên cạnh đó, nhiều lao động nông thôn chưa
nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của đào tạo nghề; đối tượng lao động nông
thôn sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm còn rất hạn chế
nên việc phát huy hiệu quả học nghề chưa cao. Lao động học một số nghề phi nông
nghiệp chưa tìm được việc làm, do thị trường tại chỗ không có nhu cầu và do tay
1
nghề của người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế; một số lao động học
nghề nông nghiệp, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ rất khó
khăn… Công tác dự báo nhu cầu đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm và tiêu thụ sản phẩm
3
+ Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông
tin trong công tác quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT...
Bên cạnh đó, có đề tài như Cơ sở khoa học hoàn thiện quản lý nhà nước về
đào tạo nghề cho lao động nông thôn (Chủ nhiệm đề tài: Tiến sỹ Dương Xuân
Triệu, Giám đốc Trung tâm Thông tin Khoa học BLĐXH, năm 1999, Đề tài khoa
học); Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và một số biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hiện nay (Nông Hữu Tùng, Học viện Hành chính Quốc gia,
2015, Luận văn thạc sĩ Luật học); Hoàn thiện quản lý quản lý nhà nước về đào tạo
nghề cho lao động khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam (Trần Quốc
Túy, Luận văn thạc sĩ luật học ĐH Luật tp.HCM, năm 2015); Hoàn thiện công tác
quản lý đào tạo nghề cho lao động khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia
Lai (Trần Ngọc Tuấn, Đại học Đà Nẵng, 2017, Luận văn thạc sỹ); Công tác quản lý
quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn hiện nay Thực trạng và giải pháp (Lại Hữu Hiệp, Đại học Công đoàn, 2013, Chuyên đề tốt
nghiệp); Hoàn thiện công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh
Bình Định (Võ Năm, Đại học Đà Nẵng, 2016, Luận văn thạc sỹ).
Các công trình nghiên cứu khoa học kể trên hầu hết đề cập đến vấn đề quản
lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT trên phương diện kinh tế lao động, hành chính
công... Tuy nhiên, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước
về ĐTN cho LĐNT trên phương diện luật học, các công trình kể trên đều có đề cập
phần nào và đưa ra một số đánh giá, nhận định về ưu, nhược điểm của các quy định
của pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT.
Qua khảo sát, có rất ít các nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp về quản lý nhà
nước về ĐTN cho LĐNT từ thực tiễn của một huyện như huyện Phù Mỹ (Bình
Định). Do vậy, trên cơ sở thực tiễn công tác, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước
về đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình
Định" để nghiên cứu sâu vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Định. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu có đề cập một số tình hình, kết quả thực
hiện giai đoạn 2015 đến tháng 6 năm 2020 theo nhiệm kỳ Đại hội Đảng các cấp và
chiến lược phát triển KT-XH của huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cũng như tỉnh
Bình Định hiện nay.
5
Phạm vi nghiên cứu thời gian: Từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2020
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Muốn đáp ứng mục tiêu đề tài này, luận văn cần thực hiện từ cơ sở phương
pháp duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước - pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng ta và Nhà nước ta.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, luận văn cố gắng kết hợp việc sử dụng một số
phương pháp chủ yếu gồm có:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng trong hầu hết các nội
dung của luận văn nhằm phân tích làm rõ các khái niệm, làm rõ quy định của pháp
luật, dẫn chứng các số liệu cần phân tích,...
- Phương pháp thống kê - so sánh: nhằm làm rõ các quy định của luật pháp
có liên quan, thể hiện nội dung của Chương 2 luận văn.
- Phương pháp diễn giải và quy nạp: để diễn giải những nội dung và các số
liệu trích dẫn nhằm làm rõ các vấn đề nghiên cứu của luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc xây dựng luận cứ khoa học trong quá trình
hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật quản lý nhà nước về
ĐTN cho LĐNT từ thực tiễn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Góp phần giúp chính quyền và các cơ quan ban ngành nghiên cứu hoàn
thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý nhà nước về
năng nghề, có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của công nghệ thì đào
tạo nghề được xem là một trong những đích đến quan trọng. Với ý nghĩa đó, lao
động nông thôn đã được thừa nhận trong hành lang pháp lý quốc tế và trong hệ
thống pháp luật quốc gia của các nước. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban
hành rất nhiều văn bản điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến đào tạo nghề như:
Công ước số 168 về xúc tiến việc làm và bảo vệ việc chống lại thất nghiệp; Công
ước số 122 năm 1964 về chính sách việc làm; Công ước số 142 năm 1974 về vai trò
của hướng nghiệp và đào tạo nghề trong việc khai thác tài nguyên nhân lực; Công
ước số 140 năm 1974 về nghỉ việc để học tập có hưởng lương; Công ước số 159
năm 1983 về tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của những người có khuyết tật;
Khuyến nghị số 83 về tổ chức dịch vụ việc làm; Khuyến nghị số 136 về những
chương trình đặc biệt về việc làm và đào tạo cho thanh niên nhằm mục đích phát
triển; Khuyến nghị số 169 năm 1964 về chính sách việc làm; Khuyến nghị số 189
năm 1998 về các điều kiện chung khuyến trợ tạo việc làm tại các doanh nghiệp vừa
và nhỏ…
Đặc biệt là Công ước 142 năm 1974 về vai trò của hướng nghiệp và đào tạo
nghề trong việc khai thác tài nguyên nhân lực. Công ước này là một văn kiện pháp
8
lý quan trọng quy định về trách nhiệm Nhà nước trong việc chấp thuận và triển khai
các chính sách, chương trình hoàn chỉnh, có phối hợp về hướng nghiệp, ĐTN, mối
liên hệ chặt chẽ giữa hướng nghiệp, ĐTN với giải quyết việc làm cho người lao
động. Ngoài ra, Công ước cũng quy định việc hoàn thiện những hệ thống ĐTN, mở
rộng hệ thống hướng nghiệp và hệ thống thông tin truyền thông về việc làm. Công
ước cũng nhấn mạnh vai trò của thông tin và hướng nghiệp, mối quan hệ của người
sử dụng lao động và người lao động trong thực hiện chính sách ĐTN.
“Trong hành lang pháp lý của các quốc gia, ĐTN cho LĐNT có thể được các
quốc gia ghi nhận rõ trong Bộ luật Lao động như Philippin, Pháp, Trung Quốc,
Indonexia hoặc được quy định thông qua Luật đơn hành như Nhật Bản (Luật An
trao đổi và các hoạt động khác trong việc nâng cao các kỹ năng lao động”
[32;tr.41].
Đối với Việt Nam, thuật ngữ ĐTN cho LĐNT được tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, “đào tạo” được hiểu là làm cho trở thành
người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định.“Khái
niệm nghề cũng được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa. Qua đó xác định rằng, nghề
có thể được hiểu là chuyên làm công việc nào đó trên cơ sở phân công lao động xã
hội. Khái niệm nghề cũng được quan niệm là “những chuyên môn có những đặc
điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn. Nghề vốn dĩ là
tập hợp của một nhóm chuyên môn có cùng loại. Với thuật ngữ chuyên môn dung
để chỉ một dạng lao động đặc trưng mà con người sử dụng sức mạnh của mình
nhằm tác động các đối tượng cụ thể để làm thay đổi nó theo hướng phục vụ yêu cầu,
mục đích cũng như lợi ích mang lại.
Nghề là khái niệm dùng để chỉ một dạng xác định hoạt động trong hệ thống
phân công lao động xã hội của một người lao động, bao gồm sự hiểu biết kiến thức,
có kỹ năng cần thiết nhất định” [15;tr.24]
Theo đó, ĐTN cho LĐNT là quá trình hoạt động định hướng, chỉ dẫn giúp
cho người lao động nông thôn có kiến thức và năng lực, kỹ năng cần thiết nhằm đáp
ứng yêu cầu phát triển xã hội nhất định. ĐTN cho LĐNT cũng được hiểu là quá
trình trang bị cho người lao động các kiến thức, kỹ năng cần thiết để người lao động
thực hiện được một công việc đáp ứng yêu cầu chuyên môn.
10
Dưới góc độ pháp lý, ĐTN cho LĐNT được hiểu là hoạt động dạy và học
nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học
nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học.
Từ đây, đào tạo nghề cho lao động nông thôn được hiểu là hoạt động dạy học để trang bị cho người học sau tốt nghiệp đã có các kiến thức và kỹ năng căn
bản cùng tác phong, thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm tìm kiếm được việc làm
quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà
nước được trao quyền lực công; đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá
nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia khi tham gia
vào quan hệ pháp luật về ĐTN cho LĐNT theo tinh thần Luật Giáo dục nghề nghiệp
số 74/2014/QH13 và Nghị định 48/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục nghề
nghiệp đã quy định rõ về tổ chức bộ máy QLNN về ĐTN, theo đó Chính phủ thống
nhất thực hiện công tác QLNN về ĐTN trên cả nước; quản lý nhà nước về ĐTN cho
LĐNT có tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao... và mục tiêu của quản lý nhà
nước về ĐTN cho LĐNT là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển bền
vững trong xã hội.
Quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT ở nghĩa hẹp chủ yếu đó là quá trình tổ
chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với quá trình hoạt
động kinh tế - xã hội và các hành vi của con người theo luật định để đạt các mục
tiêu và yêu cầu nhiệm vụ của quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT. Ngoài ra, cơ
quan nhà nước về cơ bản là thực hiện những hoạt động chấp hành, điều hành với
tính chất hành chính nhà nước để xác lập tổ chức bộ máy, củng cố chế độ nội bộ
trong công tác của mình Ví như, việc ra quyết định chia tách, thành lập, sáp nhập
đối với những tổ chức thuộc bộ máy của mình; quy hoạch, đề bạt, khen thưởng, kỷ
luật đối với cán bộ, công chức… Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước về ĐTN cho
LĐNT đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước. Đây là một dạng đặc
trưng trong hoạt động mang tính quyền lực nhà nước về đào tạo nghề, chúng được
tiến hành bởi các chủ thể có quyền năng về hành pháp – với đặc trưng hoạt động
chấp hành và điều hành được tổ chức thống nhất, chặt chẽ.
Trên cơ sở các chủ thể có thẩm quyền và chủ thể tham gia theo nghĩa hẹp của
quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT, ta có thể hiểu: quản lý nhà nước về ĐTN cho
12
hoặc cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư
nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất;
- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở giáo dục
nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên
doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, mục tiêu quản lý là đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức
kỷ luật, tác phong công nghiệp cho LĐNT. “Khu vực nông thôn nước ta chiếm
khoảng 70% dân số và hơn 50% lực lượng lao động xã hội. LĐNT chủ yếu làm việc
trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; hằng năm cung cấp nguồn lương thực, thực
phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội và bảo đảm an ninh lương thực quốc
gia. Tuy nhiên, LĐNT trình độ nghề nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. LĐNT chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu lao động
cả nước và có vị trí trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Do đó,
ĐTN cho LĐNT là một nhiệm vụ quan trọng” [14,tr.48].
Mục tiêu quản lý là đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức kỷ luật,
tác phong công nghiệp cho LĐNT góp phần nâng cao chất lượng lao động, tạo cơ
hội việc làm, nâng cao thu nhập. Đồng thời, góp phần thay đổi vị thế của người lao
động ở nông thôn nước ta bởi LĐNT vốn không được đánh giá cao về vị thế chính
trị - xã hội, do chủ yếu sản xuất dựa trên cách thức lạc hậu, manh mún nên họ
không đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến. Trong quá trình ĐTN, người lao
động được trang bị kiến thức về sản xuất các ngành nghề, kiến thức về khoa học công nghệ, thị trường, hội nhập... Đó là những tri thức quan trọng giúp người nông
dân từng bước cải tiến phương thức sản xuất theo hướng tiên tiến, hiện đại; từ đó
thay đổi vị thế chính trị - xã hội của mình.
1.1.3. Ý nghĩa quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thứ nhất, quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là một nhu cầu khách quan
của hoạt động quản lý nhà nước về nguồn nhân lực.
“Không phải đến bây giờ vấn đề ĐTN cho LĐNT, học nghề mới được đề cập
đến mà theo một tư liệu nước ngoài từ thế kỷ XVIII trước công nguyên, chế độ
Phát triển ĐTN cho LĐNT là nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát
triển nhân lực quốc gia. Chính vì vậy, ĐTN cho LĐNT gắn với yêu cầu thực tế là
15
một nhu cầu mang tính khách quan. Do đó, nhà nước điều chỉnh hoạt động ĐTN
cho LĐNT trong hệ thống các văn bản pháp luật nhằm ghi nhận mối quan hệ ĐTN
cho LĐNT tồn tại giữa bên sử dụng lao động, người học nghề, nhà nước, các trung
tâm, các cơ sở ĐTN cho LĐNT…
Thứ hai, quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT hướng tới tạo lập một hành
lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi của cơ sở ĐTN cho LĐNT và người học nghề.
Hoạt động ĐTN cho LĐNT không chỉ được ghi nhận trong hệ thống pháp
luật quốc gia mà còn được thể hiện trong hệ thống pháp luật quốc tế. Ngay trong
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế xã hội và văn hoá năm 1966 cũng đã được
đề cập đến quyền được ĐTN cho LĐNT và coi đây là một trong những quyền cơ
bản của con người. Ngoài ra, Công ước số 142 năm 1975 về vai trò của hướng
nghiệp vào ĐTN cho LĐNT trong việc khai thác tài nguyên nguồn nhân lực cũng đề
cập đến trách nhiệm trong ĐTN cho LĐNT của các chủ thể tham gia quan hệ về
ĐTN cho LĐNT. Ở Việt Nam, nhà nước đã tạo lập hành lang pháp lý về ĐTN cho
LĐNT để bảo vệ quyền lợi của cơ sở ĐTN cho LĐNT và người học nghề. Theo đó,
pháp luật bảo vệ các cơ sở ĐTN cho LĐNT thông qua việc ghi nhận các điều kiện
pháp lý để thành lập các cơ sở ĐTN cho LĐNT và chế độ ưu đãi dành riêng cho các
cơ sở này. Pháp luật cũng cho phép người học nghề được quyền lựa chọn các cơ sở
ĐTN cho LĐNT, hình thức ĐTN cho LĐNT và có những chế độ, chính sách ưu đãi
dành cho người học nghề là đối tượng lao động đặc thù, người học nghề là thương
binh, người khuyết tật người dân tộc thiểu số, người học nghề thuộc các đối tượng
hưởng chế độ chính sách của nhà nước… Nhà nước cũng tạo lập cơ chế bảo vệ cơ
sở ĐTN cho LĐNT và người học nghề thông qua hoạt động quản lý nhà nước về
ĐTN cho LĐNT. Nhà nước Cơ chế kiểm tra giám sát và tạo mọi điều kiện hỗ trợ
1.2. Hình thức và nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao
động nông thôn
1.2.1. Hình thức quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho hoạt động nông
thôn
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ĐTN cho LĐNT là hình thức pháp
lý quan trọng nhất trong hoạt động của các chủ thể quản lý nhà nước về ĐTN cho
LĐNT nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Nhà nước thực hiện quản lý
hành chính thông qua các hình thức: ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ĐTN
17
cho LĐNT, ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật, thực hiện những hoạt
động khác mang tính chất pháp lý, áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp, thực
hiện những tác động về nghiệp vụ - kĩ thuật.
Theo quan điểm của học viên, thì ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
ĐTN cho LĐNT là hình thức pháp lý quan trọng nhất trong hoạt động của các chủ
thể quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
mình. Số lượng văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan quản lý nhà nước về
ĐTN cho LĐNT ban hành là rất lớn. Điều đó dường như không phù hợp với chức
năng cơ bản của bộ máy hành chính nhà nước là chức năng chấp hành luật. “Điều
đó được quyết định chủ yếu bởi các cơ quan quyền lực nhà nước các cấp không
phải là những cơ quan hoạt động thường xuyên và việc mở rộng phạm vi những vấn
đề các cơ quan quyền lực nhà nước mới được phép quyết định không phải là vô tận.
Mặt khác, pháp luật hiện hành và thực tiễn quản lý khẳng định khả năng lập quy
độc lập của các cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT. Những quy tắc xử sự
chung trong luật và các văn bản khác của các cơ quan quyền lực nhà nước không
bao hàm hết mọi vấn đề của đời sống xã hội. Chúng chỉ là những quy định chung
cần được cụ thể hóa trong từng lĩnh vực của quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT.
Nhiệm vụ cụ thể hóa đó được pháp luật trao cho các cơ quan quản lý nhà nước về