CÁC GIẢI PHÁP VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ - Pdf 70

- 1 -
CÁC GIẢI PHÁP VƯỢT QUA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI
HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
Sau khi phân tích thực trạng nhập khẩu của Mỹ đối với hàng dệt may Việt
Nam, các rào cản của Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam, rút ra các tồn tại,
hạn chế của các biện pháp mà Chính phủ, Hiệp hội và các doanh nghiệp Việt
Nam đang nỗ lực thực hiện để vượt qua các rào cản ở chương 2, chương 3 sẽ
đề xuất các giải pháp để vượt qua các rào cản đối với hàng dệt may Việt Nam
nhập khẩu vào thị trường Mỹ thông qua việc nghiên cứu chiến lược phát triển
dệt may của Chính phủ Việt Nam đến năm 2015, tiềm năng thị trường tiêu thụ
hàng dệt may của Mỹ cũng như những thuận lợi và khó khăn mà Việt Nam gặp
phải khi gia nhập WTO.
Cơ hội và thách thức của việc Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may sang thị
trường Mỹ khi là thành viên chính thức của WTO
Cơ hội xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ
- Khi Việt Nam gia nhập WTO, Mỹ buộc phải bãi bỏ hạn ngạch với hàng
dệt may của Việt Nam. Nhờ đó, các doanh nghiệp Việt Nam có nhiều
cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này, tăng quy mô sản xuất
từ đó hưởng tính lợi ích kinh tế nhờ quy mô
- Việc phân bổ hạn ngạch dệt may theo Hiệp định ATC đã làm tăng chi
phí xuất khẩu cho doanh nghiệp. Chi phí này chiếm một tỷ trọng đáng
kể trong tổng chi phí xuất khẩu đối với Việt Nam, chi phí do hạn ngạch
sinh ra đối với mặt hàng dệt xuất khẩu sang Mỹ chiếm 6.9% tổng chi
phí, đối với mặt hàng may mặc vào thị trường này là 7.1%. Với việc gia
nhập WTO, Mỹ phải xoá bỏ hạn ngạch đối với Việt Nam, hàng dệt may
xuất khẩu của Việt Nam sẽ có điều kiện giảm giá xuất khẩu do không
phải mất chi phí do việc cấp hạn ngạch gây ra
- Theo nguyên tắc minh bạch hóa chính sách, trong quá trình gia nhập
WTO, Việt Nam phải minh bạch hoá toàn bộ các chính sách liên quan
- 2 -
đến thương mại của mình và thông báo các kế hoạch hành động để tuân

với các nhà xuất khẩu và nhập khẩu do sản xuất bị dở dang. Bên cạnh
đó, Việt Nam lại chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường nên sẽ
có nhiều bất lợi khi Mỹ tiến hành điều tra về việc bán phá giá.
- Ngành dệt may chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng do các hình thức trợ cấp
hiện tại bị bãi bỏ hoặc cắt giảm: Việt Nam sẽ phải cam kết bãi bỏ ngay
từ thời điểm gia nhập hình thức trợ cấp dưới dạng cấp phát tiền trực
tiếp cho doanh nghiệp theo doanh số xuất khẩu khi tham gia các
chương trình xúc tiến thương mại và trên thực tế Việt Nam đã bỏ hình
thức trợ cấp này từ tháng 7/2005. Như vậy, tác động đối với ngành dệt
may đến từ việc Việt Nam sẽ phải cắt giảm 3 hình thức ưu đãi còn lại:
ưu đãi về tín dụng, ưu đãi về đầu tư, bảo lãnh tín dụng. Như vậy, ngành
dệt may sẽ nhận được ít hỗ trợ hơn từ phía Chính phủ, do đó sẽ bị ảnh
hưởng sau khi Việt Nam gia nhập. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng cụ thể
còn tùy thuộc vào khả năng chủ động, lường trước khó khăn và chủ
động điều chỉnh chính sách sản xuất và xuất nhập khẩu của các doanh
nghiệp.
Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến 2015
Ngày 10/03/2008, Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 36/2008/QĐ-
TTg phê duyệt chiến lược phát triển ngành dệt may đến 2015, định hướng
2020. Chiến lược đã nêu lên quan điểm phát triển, đề ra các mục tiêu, định
hướng phát triển và nêu ra các giải pháp thực hiện chiến lược.
Quan điểm phát triển của ngành dệt may
- Phát triển ngành Dệt May theo hướng chuyên môn hoá, hiện đại hóa,
nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm. Tạo điều kiện
cho ngành Dệt May Việt Nam tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững và
hiệu quả. Khắc phục những điểm yếu của ngành dệt may là thương hiệu
- 4 -
của các doanh nghiệp còn yếu, mẫu mã thời trang chưa được quan tâm,
công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, cung cấp nguyên phụ liệu vừa
thiếu, vừa không kịp thời.

- Tăng trưởng xuất khẩu hàng năm 20 % 15 %
Các chỉ tiêu chủ yếu trong Chiến lược phát triển ngành Dệt May Việt Nam
đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 như sau:
Chỉ tiêu Đơn vị tính
Thực hiện
2006
Mục tiêu toàn ngành đến
2010 2015 2020
1. Doanh thu triệu USD 7.800 14.800 22.500 31.000
2. Xuất khẩu triệu USD 5.834 12.000 18.000 25.000
3. Sử dụng lao động nghìn người 2.150 2.500 2.750 3.000
4. Tỷ lệ nội địa hoá % 32 50 60 70
5. Sản phẩm chính:
- Bông xơ 1000 tấn 8 20 40 60
- Xơ, Sợi tổng hợp 1000 tấn - 120 210 300
- Sợi các loại 1000 tấn 265 350 500 650
- Vải triệu m
2
575 1.000 1.500 2.000
- Sản phẩm may triệu SP 1.212 1.800 2.850 4.000
Định hướng phát triển cho ngành dệt may
Nghị định cũng đưa ra những định hướng phát triển cho ngành dệt may.
Các định hướng này tập trung vào ba khía cạnh chính: sản phẩm, đầu tư và
phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường. Trong đó, định hướng về bảo vệ môi
trường cho thấy sự quan tâm lớn của chính phủ trong việc vượt qua những rào
cản thương mại của các nước nhập khẩu nói chung và của Mỹ nói riêng.
Nội dung của định hướng bảo vệ môi trường:
 Xây dựng Báo cáo đánh giá tác động môi trường phù hợp với Chiến
lược phát triển ngành Dệt May và các quy định pháp luật về môi
trường.

đình, trong đó khoảng 1 triệu hộ có tài sản trên 1 triệu USD, 5% số hộ có thu
nhập hàng năm trên 10.000 USD. Số hộ còn lại có thể chia thành bốn nhóm:
- 7 -
nhóm một: nhóm có thu nhập thấp nhất, khoảng 17000 USD/năm; nhóm hai:
gồm những hộ có thu nhập khoảng 30.000 USD/năm; nhóm ba: gồm những
hộ có thu nhập khoảng 45.000 USD/năm; và nhóm bốn: nhóm có thu nhập
cao nhất, khoảng 67.000 USD/năm.
Qua các số liệu trên, có thể thấy rằng các hộ thuộc nhóm một (nhóm nghèo
nhất) chỉ chiếm 15% dân số. Nhưng ngay cả nhóm này cũng có thu nhập cao
hơn thu nhập bình quân của Việt Nam tới hơn 40 lần. Họ vẫn có sức mua
đáng kể đối với hàng tiêu dùng các loại, đặc biệt là các hàng hoá bình dân có
xuất xứ từ các nước đang phát triển. Người dân Mỹ có mức sống rất khác
nhau nên nhu cầu tiêu dùng cũng khác nhau. Bởi vậy, hàng hoá nhập vào Mỹ
cũng rất đa dạng về chủng loại và chất lượng, có cả hàng cao cấp và bình dân.
Mỹ cũng nhập hàng và nguyên liệu từ nhiều nước khác, cả nước phát triển và
nước đang phát triển, phục vụ cho những yêu cầu tiêu dùng khác nhau. Mỹ
nhập khẩu hàng hoá từ hầu hết các nước trên thế giới. Trong số 170 nước xuất
khẩu hàng hoá vào Mỹ, Việt Nam đứng thứ 72. Các nước đứng đầu về xuất
khẩu hàng hoá sang Mỹ năm 1998 là Canađa, Nhật Bản, Mêhicô, Đức, Trung
Quốc, Anh, Hàn Quốc, Đài Loan. Những loại hàng hoá Việt Nam đã xuất
sang Mỹ và có tiềm năng khai thác thế mạnh của mình là thuỷ, hải sản, quần
áo, giầy dép, hàng mây tre đan, đồ gốm, cao su, cà phê, dầu và khí đốt… Mỗi
năm Mỹ nhập khoảng 50 tỷ USD giá trị nông sản; 200 tỷ USD nguyên liệu
công nghiệp; 280 tỷ USD máy móc thiết bị; 150 tỷ USD ôtô, xe tải; 220 tỷ
USD hàng tiêu dùng. Chỉ riêng hàng tiêu dùng, mỗi năm Mỹ nhập tới khoảng
200 tỷ USD.
Nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ tăng đều đặn trong suốt thời kỳ từ 1990
đến 2007 với tốc độ tăng bình quân khoảng 7,25%/năm. Với tốc độ này, dự
báo nhập khẩu hàng dệt may Mỹ trong đến năm 2010 sẽ vào khoảng 103,31
tỷ USD. Hiện nay, nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam mới chỉ chiếm gần 3%

Một số giải pháp vượt qua các rào cản thương mại đối với hàng dệt may
của các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ
Việc gia nhập WTO mang lại cho ngành dệt may nhiều cơ hội cũng như
thách thức khi muốn mở rộng thị trường tại Mỹ. Với tốc độ tăng trưởng, mức
thu nhập bình quân đầu người cũng như nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm về
dệt may ngày càng gia tăng, thị trường Mỹ sẽ là một thị trường đầy tiềm năng
đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Dựa trên quan điểm phát triển
của Chính phủ Việt Nam là phát triển ngành dệt may thành ngành công
nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, việc đề ra những giải pháp để
vượt qua các rào cản về hàng dệt may của thị trường Mỹ - thị trường xuất
khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết.
Giải pháp từ phía Chính phủ
- Căn cứ vào các tiêu chuẩn và các yêu cầu sinh thái của hàng dệt- may
nhập khẩu vào thị trường Mỹ, Chính phủ cần xây dựng ngay những tiêu
chuẩn cấp nhà nước hoặc cấp Bộ, cấp ngành để làm cơ sở phấn đấu cho
các doanh nghiệp xuất khẩu, để nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của
hàng dệt may Việt Nam. Những tiêu chuẩn như thế sẽ tạo ra những sức
ép “bên trong” nhằm tạo ra các sản phẩm “xanh” phù hợp.
- Ban hành những quy định cụ thể về việc áp dụng các tiêu chuẩn môi
trường đối với các doanh nghiệp dệt may, đặc biệt là các doanh nghiệp
sử dụng nhiều loại hoá chất độc hại trong khâu nhuộm, xử lý vải,… Có
chế tài đối với những doanh nghiệp không tuân thủ các quy định đã đề
ra về môi trường, trách nhiệm xã hội và những doanh nghiệp cố tình hạ
giá thành sản phẩm nhằm thu lợi cục bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
lợi ích toàn ngành, gây ra nguy cơ bị kiện bán phá giá đối với sản phẩm
dệt may.
- Quy định rõ ràng, cụ thể về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hiệp hội.
Khẳng định Hiệp hội không phải là cơ quan thực hiện các biện pháp
- 10 -
của Chính phủ nhằm đối phó với các rào cản thương mại của Mỹ mà là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status