(Luận văn thạc sĩ) tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội nghiên cứu trường hợp công ty cổ phần sông đà 6 - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

LÊ ANH HƢNG

TĂNG CƢỜNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN
SÔNG ĐÀ 6

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------

LÊ ANH HƢNG

TĂNG CƢƠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN
SÔNG ĐÀ 6
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số
: 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

4.1 Tổng quan về công ty cổ phần Sông Đà 6........................................................... 32
4.2 Mô tả tổng quan mẫu khảo sát ............................................................................. 34
4.3 Kết quả từ phương pháp nghiên cứu định lượng ................................................ 35


4.4 Kết quả từ phương pháp nghiên cứu định tính.................................................... 44
Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................. 50
5.1 Nhóm giải pháp từ phía nhà nước........................................................................ 50
5.2 Nhóm giải pháp từ phía Cơng ty cổ phần Sơng Đà 6 ......................................... 54
5.3 Gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai ............................................................. 58
5.4 Kết luận.................................................................................................................. 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 60
DANH MỤC PHỤ LỤC............................................................................................ 62


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Nguyên nghĩa
Chữ viết tắt
Tiếng Anh

Tiếng Việt

CBCNV
CSR
CoC
ISO

VCCI
WTO


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Nội dung

Trang

Bảng 4.1

Đặc điểm mẫu khảo sát

34

Bảng 4.2

Đặc điểm về giới trên tồn Cơng ty

34

Bảng 4.3

Đánh giá thực hiện các chính sách tại nơi làm việc tiếp cận từ
phía người lao động

Bảng 4.4

Đánh giá thực hiện các chính sách về mơi trường tiếp cận từ
phía người lao động



Biểu đồ 2.1

Mơ hình “kim tự tháp” CSR của Carroll 1991

22

Biểu đồ 3.1

Mơ hình nghiên cứu

26

Biểu đồ 4.1

Mơ hình tổ chức Cơng ty cổ phần Sông Đà 6

33

Biểu đồ 4.2

Hiểu biết và nhận thức của người lao động về trách nhiệm
kinh tế

35

Biểu đồ 4.3

Hiểu biết và nhận thức của người lao động về trách nhiệm
pháp lý

Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức
WTO (World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế giới); đánh dấu một
bước tiến quan trọng trong sự hội nhập với kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế quốc
tế là một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa có nhiều cơ hội và cũng khơng ít
thách thức. Tham gia vào sân chơi thế giới đồng nghĩa Việt Nam phải tuân thủ
những qui định của luật pháp quốc tế trong đó việc đẩy mạnh thực hiện CSR là một
trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết.
Không thể phủ nhận những thành quả to lớn mà cộng đồng doanh nghiệp Việt
đã đóng góp cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, tuy nhiên trong cuộc chạy đua
của lợi nhuận và tăng trưởng, một số lượng lớn các doanh nghiệp đã bộc lộ những
mặt trái của nền kinh tế thị trường. Tình trạng các doanh nghiệp xả thải chưa qua xử
lý ra môi trường như trường hợp Vedan; hay những hành vi gian lận thương mại,
công bố sai hoặc khơng minh bạch về nguồn gốc sản phẩm, tính năng công dụng,
thực phẩm nhiễm độc, hàng tiêu dùng kém chất lượng…
Kết quả khảo sát gần đây do viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên
24 doanh nghiệp thuộc ngành da giầy và Dệt may chỉ ra rằng, nhờ thực hiện các
chương trình CSR, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%; năng suất lao
động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8/ 1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu
tăng từ 94% lên 97%. Kết quả trên cho thấy thực hiện tốt CSR; có chiến lược phát
triển các hoạt động CSR hợp lý và dài hạn sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần

1


nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường và trong tiềm thức người
tiêu dùng. Nhận thức được lợi ích to lớn mà các chương trình CSR mang lại, ngày
nay nhiều doanh nghiệp Việt đã đăng ký thực hiện CSR coi đó như là sự cam kết
của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người
lao động, gia đình họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc
sống, vừa tốt cho doanh nghiệp vừa lợi cho phát triển xã hội.

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về CSR cho thấy tầm quan
trọng của CSR đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Trong cuốn “Corporate
Social Responsibility and the Shaping of Global Public Policy“, Hardcover (Dec.
12, 2006), tác giả matthew J.Hischland đã đề cập đến các quy định kinh doanh tồn
cầu mới – sự hiểu biết của Cơng ty về CSR; và CSR thực hành đáp ứng lý thuyết –
quản trị tồn cầu và mạng lưới chính sách tồn cầu. Muhammad Yunus trong
“Building Social Business: The New Kind of Capitalism That Serves Humanity's
Most Pressing Needs” lại thông qua những gương điển hình của các doanh nghiệp
đã thành cơng nhờ biết quan tâm nhiều đến CSR. Qua đó giúp các doanh nghiệp
thấy được lợi ích mà CSR mang lại cho sự thành công của doanh nghiệp.
Oyvind Ihlen, Betteke Van Ruler, Magnus Fredriksson khi bàn về vấn đề:
Quan hệ công chúng và lý thuyết xã hội nới rộng phạm vi lý thuyết của quan hệ
công chúng trong “Public Relations and Social Theory: Key Figures and
Concepts” (Routledge Communication Series) tập trung chủ yếu vào các khái niệm
như niềm tin, tính hợp pháp, sự hiểu biết, phản xạ, cũng như về các vấn đề về hành
vi, năng lượng, và ngôn ngữ.
Carroll, A. B. (1979), A three-dimensional conceptual model of orporate
Performance, Academy of Management Review 1979, Vol.4, No.4, 497-505. Đã
cung cấp một mơ hình khái niệm mơ tả tồn diện các khía cạnh thiết yếu trong hoạt
động xã hội của doanh nghiệp. Đồng thời giải đáp các câu hỏi : (1) CSR bao gồm
những thành phần nào?; (2) Tổ chức phải giải quyết các vấn đề xã hội như thế nào?;
và (3) Mơ hình của tổ chức đáp ứng xã hội là gì?. Hoạt động CSR đòi hỏi (1) Đánh
giá được CSR; (2) Nhận biết một cách rõ ràng các vấn đề xã hội; và (3) Lựa chọn
một triết lý kinh doanh phù hợp. Các mơ hình được trình bày nhằm nỗ lực làm rõ
hơn các khía cạnh quan trọng trong khung lý thuyết điều mà sẽ giúp ích rất nhiều
cho các học giả cũng như các nhà quản lý. Ngồi ra nó cũng trình bày các khái niệm
về đạo đức và trách nhiệm thi hành khi xét thấy cần trong bối cảnh mà có lẽ sẽ dễ
chấp nhận hơn cho những người nghĩ rằng vấn đề kinh tế đã biến mất trong cuộc


hành động cho các nhà quản lý đó là: (1) Chế tạo các sản phẩm và quy trình sáng
tạo giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho phép bạn dễ dàng tiếp cận thị trường

4


mới. (2) Đẩu tư vào các hoạt động CSR để nâng cao hình ảnh thương hiệu, chủ
động về giá thành và cải thiện mối quan hệ với các bên liên quan. Khi thực hiện tốt
CSR sẽ cho phép Công ty dễ dàng thương lượng các điều khoản tốt hơn với nhà
cung cấp và các tổ chức tài chính, xây dựng lịng trug thành của khách hàng. (3) Cải
thiện văn hóa Công ty bằng cách đối xử với nhân viên một cách trung thực và công
bằng. Xây dựng và ban hành các chính sách quy định về đạo đức kinh doanh, sức
khỏe và an tồn lao động, việc làm cơng bằng, tự do lập và tham gia các hiệp hội,
chính sách lao động và tiền lương. Văn hóa doanh nghiệp tốt tạo ra lòng trung thành
của nhân viên cao hơn, nâng cao tinh thần và năng suất lao động, giúp doanh nghiệp
thu hút được nhiều lao động có trình độ. Tất cả những lợi ích trên sẽ lần lượt cải
thiện kết quả tài chính của doanh nghiệp. (4) Tạo mơi trường làm việc lành mạnh,
an toàn, chế độ phúc lợi, y tề giáo dục và các chương trình đào tạo. Đầu tư nguồn
lực giúp nâng cao vị thế nhân viên, tăng động lực và sự hài lòng, tăng năng suất lao
động. Nghiên cứu cũng còn hạn chế do cách định nghĩa về tài sản vơ hình cịn chưa
thống nhất, Tại các nền kinh tế khác nhau, thì biến tài sản vơ hình cũng khác nhau
nên rất khó để đưa hết các biến tài sản vơ hình vào trong nghiên cứu đánh giá.
Turker, D. (2009a). Measuring corporate social responsibility: A scale
development study. Journal of Business Ethics, 85, 411-427. Trong nghiên cứu của
mình Turker đã đề xuất một công cụ gồm bốn yếu tố. Nó cho phép đo mức độ nhận
thức CSR đối với các bên liên quan: xã hội, nhân viên, khách hàng và chính phủ.
Nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu vào đối tượng là các chuyên gia kinh
tế trẻ, những người có trình độ học vấn cao và thực hiện cơng việc lao động trí óc.
1.2.2


hiện CSR. Thực tế, CSR không chỉ đơn thuần là thực hiện các hoạt động từ thiện
như cách hiểu của nhiều doanh nghiệp mà còn bao gồm trách nhiệm bảo đảm tăng
trưởng kinh tế hiệu quả, tuân thủ pháp luật, đạo đức kinh doanh, chia sẻ khó khăn
với cộng đồng và quan trọng hơn là vì sự tồn tại của chính doanh nghiệp đó. Chính
vì chưa hiểu rõ vai trị quan trọng cũng như lợi ích từ việc thực hiện CSR đem lại
nên nhiều doanh nghiệp đã không thực hiện nghiêm túc CSR. Điều này thể hiện rõ
ràng nhất ở các hành vi như: gian lận trong kinh doanh, sản xuất hàng kém chất
lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường để tối đa hóa lợi nhuận... Ngồi ra, nhiều doanh
nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an
toàn lao động cho người lao động… Những vấn đề nêu trên đã và đang gây bức xúc
lớn trong xã hội.

6


Với vai trò là thành viên tham gia trong dự án “ Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và
nhỏ thích ứng, áp dụng CSR nhằm cải thiện mối liên kết trong chuỗi cung ứng toàn
cầu, đảm bảo sản xuất bền vững”, Viện Khoa học Lao động Xã hội đã tiến hành
nghiên cứu khung pháp lý, rà sốt các chính sách hiện hành có liên quan đến vấn đề
CSR trong lĩnh vực lao động. Cuộc điều tra được tiến hành với 400 doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Việt Nam thuộc các ngành: Da giày, dệt may và điện tử nhằm khảo
sát nhận thức, hiểu biết và thực hiện CSR tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh nghiệp này bước đầu đã nhận thức
được việc đầu tư vào thực hiện CSR sẽ là cơ sở cho sự phát triển bền vững của
doanh nghiệp, ổn định lao động và tăng năng suất. Tuy nhiên q trình thực hiện
đơi khi cịn mang tính thụ động. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện
chưa có các hiểu biết đầy đủ về bản chất cũng như phương pháp áp dụng hiệu quả
các chương trình CSR. Nghiên cứu cũng đề cập đến một số rào cản, thách thức
trong quá trình thực hiện CSR ở Việt Nam. Rào cản đầu tiên đến từ sự hiểu biết
chưa đầy đủ do đó chưa có bước đi và cách làm hiệu quả; thêm vào đó là khả năng

then chốt như tài chính – ngân hàng, viễn thơng, các nguồn năng lượng mới và tái
tạo được. Lê Thanh Hà (2006) lại tiếp cận CSR từ vấn đề tiền lương của doanh
nghiệp. Nghiên cứu “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong vấn đề tiền lương”,
Báo Lao động xã hội, số 290, ngày 15/05/2006 đề cập đến vai trò của tiền lương
như: các mức lương vừa thể hiện vị trí, cơng việc vừa thể hiện sự chia sẻ lợi ích
giữa các tổ chức, các doanh nghiệp và người lao động vừa thể hiện sự phát triển
nghề nghiệp của mỗi cá nhân người lao động.
Đạo đức kinh doanh và CSR rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong
sản xuất, kinh doanh. Đó là tài sản quý giá góp phần quan trọng quyết định sự thành
bại của mỗi doanh nghiệp. Hồng Minh (2007) cho rằng thật khó mà thuyết phục
doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ
dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt. Nguyễn Mạnh Quân (2004) trong Giáo trình
“Đạo đức kinh doanh và văn hố doanh nghiệp” thì lại coi CSR là một hệ thống các
giá trị, chuẩn mực, phương pháp tư duy ảnh hưởng lớn tới hành động của các thành
viên trong doanh nghiệp.
1.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xem xét, đánh giá mức độ hiểu biết và nhận
thức và thực hiện CSR tại Công ty cổ phần Sông Đà 6. Nhằm giải quyết các câu hỏi
nghiên cứu:

8


(1) Tại sao CSR lại có vai trị quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nền
kinh tế?
(2) CBCNV Công ty cổ phần Sơng Đà 6 đã có nhận thức, hiểu biết và thực thi
CSR trong các hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào?
(3) Trong thời gian tới Cơng ty cần có những giải pháp gì để tăng cường thực
hiện CSR?
Từ kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tác giả đưa ra một số đề xuất,

- Phương pháp nghiên cứu sử dụng các thơng tin có sẵn: đây là các thông tin
dựa trên các báo cáo thường niên của Cơng ty (báo cáo tài chính, báo cáo quản trị,
báo cáo kiểm toán …).
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Phỏng vấn trực tiếp người lao động hiện
đang làm việc tại trụ sở Công ty cổ phần Sông Đà 6 theo bảng hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn sâu đối với ban lãnh đạo Công ty theo các bảng
câu hỏi bán cấu trúc.
- Sử dụng phần mềm SPSS 16 để nhập dữ liệu, kết quả khảo sát, và xử lý các
kết quả thu về từ phiếu điều tra.
(Cách thức sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên để triển khai luận văn
sẽ được trình bày chi tiết ở chương 3)
1.6 Những hạn chế của nghiên cứu
Trong nghiên cứu định lượng (bảng hỏi) đối với người lao động hiện đang làm
việc tại trụ sở chính của Cơng ty vẫn tồn tại một số vấn đề liên quan đến chất lượng
của cuộc khảo sát nghiên cứu. Đó là một số CBCNV (cán bộ công nhân viên) Công
ty chưa thể trả lời được câu hỏi của cuộc điều tra do thiếu kiến thức. Hoặc ngay cả
khi không hiểu câu hỏi điều tra họ vẫn thực hiện cuộc điều tra bằng cách đánh dấu
ngẫu nhiên dựa theo ý nghĩ chủ quan của bản thân.
Trong nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu), đối tượng phỏng vấn là những
người làm công tác quản lý, lãnh đạo tại Cơng ty. Những đối tượng này có đặc thù
cơng việc vơ cùng bận rộn do đó việc sắp xếp bố trí thời gian, địa điểm phỏng vấn
gặp nhiều khó khăn. Đồng thời do vai trò quản lý nên nhiều khi các câu trả lời của
họ có phần thiên vị, nói tốt cho doanh nghiệp. Hơn nữa, một vài người có thể không
muốn trả lời những câu phỏng vấn mà họ khơng có kiến thức và về các vấn đề mà
họ cho là nhạy cảm. Và do đó một số người có thể từ chối dành thời gian để trả lời
các câu hỏi phỏng vấn (Amstrong & Kolter, 2007).

10



Các học giả khác cũng xem xét CSR là một trong những mục tiêu quan trọng
cho các doanh nghiệp. Peter Drucker là một trong những người đầu tiên giải quyết
một cách rõ ràng vấn đề CSR. Trong cuốn sách Thực tiễn quản lý năm 1954, ông
chỉ ra rằng “trách nhiệm xã hội đầu tiên của các nhà quản lý doanh nghiệp liên
quan đến việc tạo ra lợi nhuận ", (Joyner & Payne 2002).
Những năm 1960 chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc trong nỗ lực hình thành
nhận thức và định nghĩa về CSR. Sự tăng trưởng của CSR dẫn đến một sự thay đổi
xã hội tích cực: giá trị đạo đức và xã hội được ưu tiên hơn các giá trị kinh tế. Davis,
Frederick và Walton là 3 học giả nổi tiếng người Đức, những người có những quan
điểm giống nhau về CSR khi cho rằng việc quản lý doanh nghiệp phải nhằm tới
mục tiêu dài hạn, các quyết định quản trị cần phải được mở rộng không chỉ dừng lại
ở lợi ích doanh nghiệp mà cịn phải giải quyết tốt các vấn đề xã hội (Carroll, 2008).
Davis (1960) định nghĩa CSR là quyết định kinh doanh, phản ánh các mục tiêu dài
hạn của một tổ chức và khách hàng tiềm năng có trách nhiệm với xã hội hơn là lợi
ích kinh tế. Theo ơng CSR là có liên quan với những kết quả đạo đức (Davis 1967)..
Ngoài ra, Frederick (1960) cho rằng "CSR nên bao hàm việc bố trí các nguồn nhân

12


lực, vật lực cho mục đích xã hội rộng lớn, khơng chỉ đơn thuần là vì lợi ích nhỏ hẹp
của bản thân một số cá nhân hay doanh nghiệp”. (Frederick theo Carroll 1999, p.
271). Walton (1967, trích dẫn trong Carroll, 2008) nói thêm rằng các hành động
CSR nên mang tính tự nguyện, thường xuyên và các tổ chức nên tham gia, khơng vì
mục đích kinh tế; ngay cả khi việc đó có thể phát sinh chi phí.
Đầu những năm 1970 xuất hiện một vài quan điểm hoài nghi về CSR. Tạp chí
New York Times đăng một bài viết của Milton Friedman trong đó ơng tun bố
rằng "có một và chỉ một CSR – sử dụng nguồn lực của mình và tham gia vào các
hoạt động được thiết kế nhằm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp miễn là tuân thủ
theo các quy tắc của luật chơi "(Friedman, 1970)

theo đó:
“Phát triển có nghĩa là chỉ tập trung thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không cam kết đảm bảo nguồn tài nguyên cho những thế hệ trong tương lai. Còn
phát triển bền vững là khơng chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội đơn
thuần mà còn cam kết, đảm bảo nhu cầu của những người nghèo và thừa nhận giới
hạn về nguồn tài nguyên thiên nhiên của thế giới”. (Ủy ban Môi trường và Phát
triển Thế giới, năm 1987).
Thế kỷ 21, CSR đã trở thành một khái niệm quan trọng trong học viện và giới
kinh doanh. CSR đã được tranh luận trong nền kinh tế toàn cầu và tập trung vào các
tập đồn đa quốc gia. Do đó, một cái nhìn tích hợp của CSR trong kinh doanh là cần
thiết, nó bao gồm: kinh tế, mơi trường, phúc lợi xã hội và cộng đồng. Với trường
hợp phá sản của Enron, Windsor (2001) đã cho rằng hoạt động tài chính khơng bao
giờ cơ lập với CSR trong một mơi trường kinh doanh cạnh tranh toàn cầu.
McWilliams và Siegel (2001) cũng tin rằng CSR có thể đem lại lợi ích hiệu suất
hoạt động tài chính và nhiều bên liên quan đồng thời họ quan niệm CSR là một
nguồn tài nguyên chiến lược hơn là một mối đe dọa đến lợi nhuận.
2.2 Khái niệm và bản chất về CSR
2.2.1 Khái niệm CSR
Thuật ngữ CSR xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1953 khi H.R.Bowen cơng bố
cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social
Responsibilities of the Businessmen) (1953) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu
gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người

14


khác, kêu gọi lịng từ thiện nhằm bồi hồn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm
tổn hại cho xã hội. Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ CSR đang được hiểu theo
nhiều cách khác nhau. Một số người xác định “CSR hàm ý nâng hành vi của doanh
nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ

Bohdanowicz và Zientara (2008) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất:
“ CSR, trên thực tế chính là thái độ của doanh nghiệp đối với các bên liên
quan như người lao động, người tiêu dùng và xã hội nói chung hoặc thế hệ tương
lai. Do vậy, có rất nhiều khía cạnh liên quan đến CSR. Một mặt doanh nghiệp cần
tập trung vào đối xử công bằng với người lao động, nhà cung cấp và khách hàng,
mặt khác cần nỗ lực hỗ trợ cộng đồng địa phương, giúp đỡ các tổ chức từ thiện và
thúc đẩy xây dựng môi trường bền vững”.
Định nghĩa này đã chạm đến tính bền vững vì nó đề cập đến trách nhiệm của
doanh nghiệp đối với thế hệ tương lai. Phát triển môi trường bền vững cũng được đề
cập đến nhưng chỉ dừng ở mức thúc đẩy, chưa phải là các hành động. Định nghĩa
này cũng nhấn mạnh rằng CSR cần đi xa hơn, không chỉ dừng lại ở việc đối phó
trách nhiệm đạo đức với các bên liên quan mà cần có các nỗ lực hành động nhằm
nâng cao hơn nữa lợi ích cho các bên liên quan. Định nghĩa này được sử dụng cho
mục đích nghiên cứu vì nó áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời
thừa nhận các kiến thức liên quan và tập trung vào CSR. Các khía cạnh về CSR nêu
trong định nghĩa sẽ được làm rõ hơn trong mục bản chất CSR ở mục tiếp theo.
2.2.2 Bản chất của CSR
Theo cách hiểu truyền thống, các Công ty chỉ theo đuổi một mục tiêu duy nhất
là tạo ra lợi nhuận. Nhưng các khái niệm về CSR chỉ ra rằng các doanh nghiệp cần
phải có trách nhiệm lớn hơn, khơng chỉ giới hạn ở lợi ích bản thân doanh nghiệp.
CSR cho rằng có nhiều khía cạnh tác động đến hoạt động của doanh nghiệp. Cần
hiểu rõ những khía cạnh này khi nỗ lực lập kế hoạch CSR cho Công ty bạn. Với tư
cách là một trong những chủ thể của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã sử
dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong q trình
đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên. Vì vậy, ngồi việc
đóng thuế, doanh nghiệp cịn phải có trách nhiệm đối với mơi trường, cộng đồng,
người lao động, v.v…Theo đó bản chất của CSR bao gồm 5 khía cạnh cơ bản sau:

16



17


nghiệp có thể tăng doanh thu bằng việc tăng giờ làm của nhân viên, nhưng cũng
phải xem xét đến tác động của nó đối với người lao động, khơng phải chỉ vì lợi ích
của Cơng ty.
Khía cạnh tự nguyện (The voluntariness dimension)
Đây là những hành động mà Doanh nghiệp không bị yêu cầu hay bắt buộc
phải thực hiện. Những hành động này dựa trên hệ tư tưởng, giá trị đạo đức mà
Doanh nghiệp đang theo đuổi, Cái mà Doanh nghiệp cho là đúng và nên làm. Ví dụ
việc thay thế các bao gói nilong, túi bóng kính sang sản phẩm hữu cơ dễ phân hủy
là điều doanh nghiệp nên làm ngay cả khi doanh nghiệp bạn không bị bắt buộc phải
thực hiện điều đó.
2.3 Lợi ích của việc thực hiện CSR
Thực tế đã cho thấy thực hiện tốt CSR sẽ mang lại nhiều lợi ích to lớn cho bản
thân doanh nghiệp, người lao động, người tiêu dùng, cộng đồng và xã hội. Nhưng
những tranh cãi xung quanh việc ủng hộ hay không ủng hộ CSR vẫn luôn tồn tại. Dưới
đây tác giả xin được liệt kê một số lợi ích chính mà việc thực hiện CSR mang lại.
2.3.1 Lợi ích của việc thực hiện CSR đối với doanh nghiệp
Thực hiện tốt CSR có thể giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị thương hiệu và
uy tín, hấp dẫn các nhà đầu tư, tăng doanh thu, người lao động gắn bó và cống hiến
hết mình cho doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp…
Dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn
CSR giúp các doanh nghiệp đáp ứng với các nhu cầu mới và những yêu cầu từ
phía các ngân hàng, hãng bảo hiểm và các nhà đầu tư. Những nhu cầu này chính là
động lực giúp cho các doanh nghiệp cam kết thực hiện CSR tốt hơn khi mà cộng đồng
tài chính thực sự coi trọng những rủi ro và cơ hội mà các vấn đề về CSR mang lại.
Tăng cường năng lực cạnh tranh
Nghiên cứu mới đây từ Đan Mạch cho thấy, có hai lĩnh vực mà CSR có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status