PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG - Pdf 70

Trần Phước Cường

53
CHƯƠNG 6. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG

6.1. Quan trắc môi trường (QTMT)
6.1.1. Khái niệm
- Quan trắc môi trường (Environmental monitoring) là các biện pháp khoa học,
công nghệ và tổ chức, bảo đảm kiểm soát một cách hệ thống các trạng thái và khuynh
hướng phát triển của các quá trình tự nhiên hoặc nhân tạo với nhiều quy mô và nhiều loại
đối tượng.
- Điều khác biệt cơ bản của môi trường với các trạm khí tượng thủy văn là ở các
thông số, đối tượng và mục đích. Bên cạnh đó, QTMT còn là các biện pháp tổng hợp để
kiểm soát đối tượng ô nhiễm.
- QTMT bao gồm việc đo đạc, ghi nhận và kiểm soát thường xuyên liên tục các
hiện tượng tự nhiên và nhân tạo (các loại hình và nguồn gốc các chất ô nhiễm trong môi
trường cũng như công tác quản lý môi trường và kế hoạch sử dụng tài nguyên).
6.1.2. Mục đích QTMT
(1) Tạo hệ thống dữ liệu về chất các thành phần môi trường phục vụ cho quy hoạch
và phát triển kinh tế xã hội.
(2) Tạo hệ thống dữ liệu cho việc kiểm soát chất lượng các thành phần môi trường
và ô nhiễm môi trường phát sinh bởi các hiện tượng tự nhiên và nhân tạo.
(3) Đảm bảo các tác động không vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
(4) Kiểm tra các biện pháp giảm thiểu đã được đề nghị trong báo cáo ĐTM
(5) Cảnh báo sớm về những thiệt hại môi trường tiềm năng có thể xảy ra.
6.1.3. Mức độ thể hiện
(1) Phát hiện các dấu hiệu thay đổi của các thông số hoặc thành phần môi trường.
(2) Xác định các giá trị định lượng của các thông số và thành phần môi trường.
(3) Kiểm soát sự thay đổi bằng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ và tổ chức.
6.1.4. Hệ thống quan trắc môi trường
(1) Vị trí đặt các điểm quan trắc (cố định, không cố định)

- Tính đại diện của số liệu đo: số liệu đo được phải đại diện cho khu vực được khảo
sát về mặt không gian và thời gian, số liệu phản ánh chất lượng môi trường nền hay môi
trường bị tác động.
- Tính tập trung vào các vấn đề chủ yếu của khu vực. Có rất nhiều các yếu tố môi
trường cần được quan trắc, tuy nhiên các số liệu quan trắc của một vùng, của quốc gia
trong từng giai đoạn phải căn cứ vào những vấn đề chủ yếu về môi trường, của vùng và
quốc gia. Cụ thể là phải tập trung vào nguồn và nguyên nhân gây suy thoái môi trường khu
vực trong một giai đoạn xác định.

Trần Phước Cường

55
6.1.7. Yêu cầu kỹ thuật của QTMT
- Các máy móc và thiết bị quan trắc cần thống nhất về tiêu chuẩn kỹ thuật và
thường xuyên được kiểm định theo tiêu chuẩn quốc gia hay quốc tế.
- Các cơ sở phân tích mẫu quan trắc phải có trang thiết bị đồng nhất và thường
xuyên được kiểm định bởi phòng phân tích chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế.
6.1.8. Nguyên tắc và các yêu cầu giám sát
- Giám sát phải liên kết với công tác dự báo môi trường trong bước đánh giá tác
động và đảm bảo cung cấp những thông tin về những vấn đề sau:
+ Bản chất của tác động
+ Cường độ tác động
+ Quy mô lãnh thổ của tác động
+ Thời gian tác động
+ Tần suất tác động
+ Ý nghĩa của tác động
+ Độ tin cậy của các dự báo về tác động
- Các chương trình quan trắc cần phải được xem xét tổng kết một cách thường
xuyên để đảm bảo tính hiệu quả, đồng thời giúp xác định thời điểm cần ngừng quan trắc.
6.1.9. Tổ chức và báo cáo giám sát

hại đến cơ sở vật chất (nhà cửa, công xưởng, đường sá, hồ đập, sân bay, bến cảng,…) hoặc
sức khoẻ cộng đồng (bệnh dịch, khí độc, nước bẩn,…) hoặc đến nguồn tài nguyên thiên
nhiên (rừng, sông hồ, nguồn nước, khoáng sản và đa dạng sinh học).
Để tiến hành đánh giá rủi ro, chúng ta có thể theo hướng dẫn sau.

Hình 6.1. Các bước trong đánh giá rủi ro được sử dụng ở Mỹ
Nghiên cứu Đánh giá rủi ro Quản lý rủi ro
Phòng thí nghiệm và
quan sát thực địa về
ảnh hưởng xấu đối
với sức khoẻ và tiếp
xúc đối với từng
chất độc.
Thông tin về các
phương pháp ngoại

đã biết
Phát triển các
biện pháp lựa
chọn điều
chỉnh
Đánh giá hậu
quả sức khoẻ,
kinh tế, xã hội,
chính trị của các
phương án lựa
chọn điều chỉnh
Cơ quan quyết
định và hành
động
Trần Phước Cường

57
- Xác định khu vực đòi hỏi phải có sự nâng cấp, bổ sung (đặc biệt đối với các nhà
mày mới xây dựng và có sự thay đổi công nghệ).
- Trình bày được rằng: hoạt động của công trình là an toàn.
- Bảo đảm được “giá trị tiền tệ” việc cung cấp an toàn. Về bản chất đánh giá rồi
được sử dụng để xác dịnh ưu tiên đối với chi phí các biện pháp làm giảm thiểu rủi ro.
- Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ (1983) đã đề xuất và phát triển một cơ cấu
đánh giá rủi ro, và cơ cấu đó được cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA) sử dụng từ
năm 1986, nhưng đáng tiếc nó còn có nhiều hạn chế đối với ADB. Ở sơ đồ hình 6.3 có mô
tả hệ thống và thời gian, bước này rất cần thiết để xác định những điểm quan trọng xảy ra
các hiểm họa và các chất độc hại.
6.2.2. Cơ cấu rủi ro được đề xuất cho các dự án phát triển
Năm 1983, Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ đã trình bày các bước đánh giá rủi ro
trong một cơ cấu thích hợp và nó được cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA) sử dụng

Trần Phước Cường

58

Hình 6.3. Mối quan hệ khái niệm đánh giá rủi ro
Trong ĐGRR, người ra thường sử dụng một bộ 3 câu hỏi sau:
1. Cái gì sẽ xảy ra đối với dự án?
Ảnh hưởng gì có thể xảy ra và tác động đến sức khoẻ của cong người? Ảnh hưởng
này có thể lan truyền qua môi trường (nước, không khí, đất, thực phẩm)?
Các hậu quả làm chết người, tai nạn có thể xảy ra?
2. Phạm vi và mức độ quan trọng của các hậu quả xấu là gi?
Số lượng người bị ảnh hưởng, số lượng tiền tiêu phí, của cải bị hư hại, vùng địa lý
bị tàn phá?
3. Hậu quả xấu ra sao?
Với tần suất nào gây ra các hậu quả xấu đó, bằng chứng lịch sử và thực tế kinh

- Thiên tai làm tăng mức độ hư hại kỹ thuật.
- Tàn phá hệ sinh thái (phú dưỡng hoá, xói mòn đất…).
Thông tin về các hiểm hoạ trên nếu không chắc chắn thì có thể cần đến ĐGRRMT.
- Tiềm năng gây ra các hoá chất độc hại. Tỷ lệ và số lượng.
- Hoả hoạn và gây nổ.
- Vận chuyển và sự huỷ hoại của chất gây ô nhiễm có trong môi trường.
- Hoà tan, phân tán một cách cơ học.
- Tiếp xúc với độc tố, ai tiếp xúc, bao nhiêu người, bao lâu.
- Dự đoán liểu lượng xâm nhập vào người dựa trên thí nghiệm động vật.
- Tỷ lệ hư hỏng các trạm thiết bị, nhà máy cơ khí, kiến trúc.
- Tác phong làm việc của con người, thiếu sót của công nhân, phản ứng của xã
hội.
- Tai biến thiên nhiên (động đất, bão, sóng thần).
- Sự phân bố hệ thống thoát nước, mực nước, thực vật và vi khí hậu.
Những sự không chắc chắn nảy sinh từ:
- Thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của mối quan hệ: nhân-quả, thiếu kiến thức
khoa học (lý thuyết). Ví dụ về sự tích tụ sinh học của các hoá chất độc hại trong
chuỗi thức ăn, phản ứng của cây trồng đối với ô nhiễm không khí.
- Số liệu kém do lấy mẫu, đo đạc và xử lý.
- Thiếu số liệu, số liệu không đồng bộ và khi đo đạc không tuân thủ các nguyên
tắc và điều kiện môi trường của dự án.
- Từ tài liệu về độc tố sinh thái được ngoại suy từ động vật sang người và từ liều
lượng cao trong thí nghiệm đến liều lượng thấp khi tiếp xúc.
- Tưng thành phần môi trường thiên nhiên có sự biến động (biến động thời tiết,
khí hậu, chế độ thuỷ văn,…).
- Các giả thiết tính toán, đánh giá độ chính xác, nhạy bén của giả thiết và kết quả
thực tế, sự ăn khớp giữa xét đoán và kết quả thực tế xảy ra.
- Điểm mới lạ của dự án (áp dụng công nghệ, hoá chất, sự thay đổi địa điểm,
thiếu kinh nghiệm, lịch sử số liệu…).
6.2.4. Quá trình đánh giá rủi ro (Risk Assessment)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status