(Luận văn thạc sĩ) biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện lập thạch tỉnh vĩnh phúc - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

Học viên: Lê Minh Tiến
Cao học quản lý giáo dục khóa 6
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS.Nguyễn Đức Trí

HÀ NỘI – 2008


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 đã được
khẳng định tại Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam là: “Đưa đất nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh
thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[29].
Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Giáo dục và
Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”[30]. Phát triển
giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố, là yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững [60].
Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương

chuyển biến mạnh mẽ, nhưng nhìn chung đội ngũ CBQL trường Trung học cơ sở
của huyện Lập Thạch hiện nay xét về số lượng, cơ cấu và chất lượng nhiều mặt
chưa ngang tầm đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm vụ. Cơng tác cán bộ cịn chậm
đổi mới, việc tham mưu đề xuất để xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ CBQL
còn nhiều hạn chế, bất cập, yếu kém, chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ đặt
ra của thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hố. Vì vậy, việc xây dựng, bồi dưỡng
phát triển đội ngũ CBQL các trường Trung học cơ sở hiện nay là một vấn đề hết
sức quan trọng và cấp bách đối với ngành Giáo dục-Đào tạo huyện Lập Thạch.
Do đó tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS trên
địa bàn huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh
Phúc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở trên địa
bàn huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.

2


4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục
nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở nói riêng.
- Điều tra, khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học cơ sở
và thực trạng các biện pháp của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch
tỉnh Vĩnh Phúc trong việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học

Sử dụng các cơng thức tốn học để tổng hợp, thống kê xử lý số liệu
8. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cơng tác quản lý của Phịng
Giáo dục- Đào tạo huyện trong việc phát triển đội ngũ CBQL trường THCS.
Luận văn đề xuất các biện pháp của Phòng Giáo dục và Đào tạo trong việc
phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung học cơ sở trong thời kỳ cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường
Trung học cơ sở ở huyện.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung
học cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc.
Chƣơng 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường Trung
học cơ sở trên địa bàn huyện Lập Thạch trong giai đoạn hiện nay.

4


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở HUYỆN
1.1. Các khái niệm công cụ cơ bản của đề tài
1.1.1. Quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thuật ngữ quản lý được định nghĩa là:
“Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”[42].
Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý
nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của cơng
tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo

triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của mọi tổ chức, từ một nhóm nhỏ
đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu
một sự quản lý nào đó.
Khái niệm quản lý có ngoại diên rất rộng, từ việc ăn uống đến sinh bệnh lão
tử, từ cá nhân đến gia đình, từ quốc gia đến thế giới, từ vật chất đến tinh thần, nơi
nào có sự hiện diện của con người thì đều cần đến quản lý. C.Mác đã coi việc
xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động
cá biệt, tản mạt, độc lập với nhau thành một q trình xã hội được phối hợp lại.
Ơng viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều
hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ
sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí
quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điểu khiển lấy mình, cịn
một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [44].
Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định
nghĩa thống nhất. Có người cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hồn
thành cơng việc qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho quản lý là một
hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đặt
được mục đích của nhóm. Tuy nhiên theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có
chủ đích của con người, cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là các
hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác
nhằm thu được kết quả mong muốn. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét
quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động

6


có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt
mục tiêu đề ra.
1.1.2. Quản lý giáo dục


học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng
thái mới về chất” [58].
Theo Đỗ Ngọc Đạt: “ QLGD là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhất
tiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra theo đúng luật
định và thông lệ hiện hành” [33].
Trong giáo dục nảy sinh việc phân biệt quản lý giáo dục và quản lý nhà nước
về giáo dục, một mặt, là do sự ra đời các loại hình cơ sở giáo dục không thuộc sở
hữu nhà nước, mặt khác, ngay các cơ sở giáo dục thuộc nhà nước cũng cần có
mức độ tự chủ cao hơn để đáp ứng nhu cầu của những đối tác không thuộc phạm
vi sở hữu nhà nước. Thông qua quản lý nhà nước về giáo dục, việc thực hiện các
chủ trương chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục,
chú ý thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục v.v. mới
được triển khai, thực hiện có hiệu quả. Quản lý nhà nước về giáo dục có thể được
coi là khâu then chốt của then chốt nhằm đảm bảo sự thắng lợi của mọi hoạt động
giáo dục.
Theo tự điển Bách khoa về Giáo dục học, khái niệm quản lý nhà nước về giáo
dục được giải nghĩa là: “Thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động giáo
dục trong phạm vi toàn xã hội”. Như vậy có thể hiểu: Quản lý nhà nước về giáo
dục là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ
các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo
dục quốc gia [44].
Có thể hiểu khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục một cách đầy đủ hơn như
sau:
Quản lý nhà nước về giáo dục là sự quản lý của các cơ quan quyền lực nhà
nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương lên các thành
tố của hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm
đạt được các mục tiêu giáo dục đã xác định [34].
Nếu xem quản lý nhà nước như là một hệ thống, thì quản lý nhà nước về giáo

công việc được phân công.
1.1.4. Đội ngũ
Theo Từ điển Tiếng Việt “Đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức
năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng” [36].

9


Khái niệm đội ngũ dùng cho các tổ chức trong xã hội một cách khá rộng rãi
như: Đội ngũ tri thức, đội ngũ giáo viên, đội ngũ thanh niên tình nguyện v.v. Ở
một nghĩa chung nhất ta thường hiểu: Đội ngũ là tập hợp một số đông người
thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề
nghiệp hoặc khác nghề nhưng có chung mục đích xác định, họ làm việc theo kế
hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và tinh thần cụ thể.
Như vậy đội ngũ CBQL chính là một bộ phận của đội ngũ. Trong một nhà
trường thì, đội ngũ CBQL chính là tập hợp những người đứng đầu nhà trường,
đứng đầu một đơn vị, phòng ban, các chuyên viên, cùng chung một nhiệm vụ quản
lí trường học.
Đội ngũ CBQL giáo dục được đề cập trong luận văn này là đội ngũ CBQL
các trường trung học cơ sở bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường
trung học cơ sở CBQL của mỗi trường THCS, là người chịu trách nhiệm trước
Nhà nước về trọng trách quản lý trường THCS nhằm thực hiện mục đích giáo
dục học sinh THCS phát triển toàn diện theo định hướng, mục tiêu giáo dục trung
học nằm trong sự vận hành của hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo Khoản 1, Điều 54, Luật Giáo dục năm 2005 thì: Hiệu trưởng là người
chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền bổ nhiệm, cơng nhận [61].
Phó hiệu trưởng là người thực hiện và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về
nhiệm vụ được hiệu trưởng phân công; cùng với hiệu trưởng chịu trách nhiệm
trước cấp trên về phần việc được giao.

trong cương vị công tác hiện tại của họ và chuẩn bị cho họ đảm nhận những trách
nhiệm cao hơn, nặng nề hơn và phức tạp hơn.
Phát triển đội ngũ CBQL là một bộ phận của hệ thống PTNNL. Phát triển đội ngũ
CBQL là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nghề
nghiệp, cả tăng tiến về số lượng lẫn chất lượng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ này.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và cơng nghệ đã dẫn tới
xu hướng hội nhập và tồn cầu hóa và vậy là địi hỏi phải có sự thay đổi trong
mọi lĩnh vực. Với ngành giáo dục thì đổi mới và phát triển đội ngũ CBQL là một
sự đột phá cho phát triển chất lượng giáo dục. Đề án xây dựng, nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005 - 2010 của Chính phủ
đã nhấn mạnh “Xây dựng và thực hiện chuẩn hóa đội ngũ CBQL giáo dục. Đào
tạo, bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ CBQLGD các cấp về kiến thức, kỹ năng

11


quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh sắp xếp lại cán bộ
theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất của từng người. Sử dụng các
phương tiện, thiết bị kỹ thuật thích hợp để nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý” [65].
Phát triển đội ngũ CBQL giáo dục ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay phải
quán triệt các yêu cầu về PTNNL. Đó là xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL
giáo dục trên cả ba nội dung: quy mô, chất lượng và cơ cấu.
Quy mô thể hiện bằng số lượng. Phát triển đội ngũ nhằm đủ về số lượng.
Cơ cấu thể hiện sự hợp lý trong sự bố trí về cơ cấu chun ngành, độ tuổi,
giới, chun mơn, nghiệp vụ v.v. hay nói cách khác tạo ra ê kíp đồng bộ, đồng
tâm nhất trí có khả năng hỗ trợ bù đắp cho nhau về mọi mặt.
Chất lượng thể hiện bằng phẩm chất, năng lực, trình độ chun mơn, nghiệp
vụ sư phạm, đây là nhân tố quan trọng nhất trong công tác xây dựng đội ngũ.
Chất lượng CBQL giáo dục ở các nhà trường phổ thông là phẩ m chấ t và năng
lực của người CBQL trường phổ thông mà những phẩ m chấ t và năng lực đó phải

thực hiê ̣n có chất lượng viê ̣c tuyể n cho ̣n, đề bạt và sử dụng theo một cơ cấu thích
hơ ̣p; đờ ng thời tăng cường đào tạo , bồ i dưỡng để nân g cao phẩ m chấ t chin
́ h tri ̣ ,
đa ̣o đức và trình đô ̣ nhà giáo [70].
Trên cơ sở thu thập thơng tin thực tế, từ điều tra thực trạng tình hình phát triển đội
ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý, lập kế hoạch dự báo, trong phạm vi các cấp
học đã được phân cấp quản lý, phòng GD-ĐT huyện sẽ tiến hành quy hoạch đội ngũ
CBQL sao cho đồng bộ về cơ cấu, thể hiện sự sự cân đối về độ tuổi, về giới, về dân tộc,
về trình độ, về chun mơn đào tạo v.v.
1.1.7. Trường Trung học cơ sở
Điều 2, Điều lệ Trường trung học quy định: Trường Trung học cơ sở là cơ sở
giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục
quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thơng. Trường trung học cơ sở có tư
cách pháp nhân và có con dấu riêng [10].
Điều 43, Điều lệ trường trung học quy định nhà trường phải chủ động phối hợp
thường xuyên và chặt chẽ với gia đình và xã hội để xây dựng mơi trường giáo dục
thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục [10].
Trường THCS thực hiện nội dung giáo dục trung học cơ sở. Giáo dục THCS là bậc
học sau giáo dục tiểu học, được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín.
Học sinh vào học lớp sáu phải hồn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một
tuổi. Giáo dục THCS là bước kế tiếp giáo dục tiểu học, kế thừa và phát triển những kết
quả đã đạt được trong bậc giáo dục tiểu học, đồng thời cung cấp những hiểu biết ban
đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để người học sinh có thể tiếp tục học lên giáo dục
THPT hoặc tham gia lao động.
Giáo dục THCS là một bậc học quan trọng, mang tính phổ thơng, tồn diện và
hướng nghiệp. Giáo dục THCS chuẩn bị cho một phần học sinh sau khi học xong
chương trình giáo dục THCS sẽ học tiếp lên THPT, một phần sẽ đi vào cuộc sống
lao động hoặc các trường trung học chuyên nghiệp, các trường dạy nghề. Do đó
trong nội dung của chương trình giáo dục THCS phải đổi mới theo hướng chủ
động hơn, thực tế hơn, tập trung vào hình thành và phát triển khả năng thích

hằng ngày của giáo viên và học sinh, thực hiện tôn trọng quy chế dân chủ, và lấy
quy chế dân chủ làm chỗ dựa cho công tác quản lý.
Đội ngũ CBQL trường Trung học cơ sở là thành phần, nhân tố cơ bản và quan
trọng nhất của hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp THCS có tác động trực

14


tiếp đến chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp THCS.
Đội ngũ này có vai trị rất quan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp giáo dục.
Sản phẩm của đội ngũ giáo viên và đội ngũ CBQL giáo dục khác với với sản
phẩm của các loại hình lao động khác ở chỗ: Sản phẩm này tích hợp cả nhân tố
tinh thần và vật chất, đó là “Nhân cách – sức lao động”.
Thành quả lao động của họ vừa tác động vào hình thái ý thức xã hội (giá trị
văn hóa tinh thần của dân tộc, tình đồn kết đồng thuận của đất nước), vừa hình
thành sức lao động kĩ thuật thúc đẩy sự năng động của đời sống thị trường, ở đây
là thị trường sức lao động [44].
Sứ mệnh của đội ngũ CBQL giáo dục THCS có ý nghĩa cao cả đặc biệt. Họ là
bộ phận lao động tinh hoa của đất nước. Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp
thúc đẩy sự phát triển đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững.
Một ngày thiếu giáo dục đất nước không thể tồn tại được và giáo dục khơng có
người thầy khơng thể vận động được.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thiện Nhân cũng đã nhấn
mạnh: “Sự nghiệp đổi mới giáo dục thành công hay không một phần quan trọng
phụ thuộc ở năng lực quản lý, điều hành của người hiệu trưởng”. Khi đã được
phân cấp, trách nhiệm của hiệu trưởng lại càng nặng nề hơn. Bên cạnh năng lực
chun mơn tốt, hiệu trưởng cịn phải có khả năng quản lý kinh tế, có trình độ tin
học và ngoại ngữ nhất định. Nếu không, trong thời kỳ hội nhập, khó mà nói đến
chuyện ứng dụng có hiệu quả cơng nghệ thơng tin và tận dụng cơ hội để hiện đại
hóa giáo dục thơng qua sự hợp tác quốc tế [52].

năng quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh, sắp xếp lại cán bộ
theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất từng người”.
Ngày 9/7/2001 Chính phủ có Nghị định 35/2001/NĐ-CP, sau đó là Nghị định
số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 về chính sách đối với nhà giáo, CBQL giáo
dục cơng tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt
khó khăn.
Ngày 15/6/2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khố IX có Chỉ
thị số 40-CT/TW Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL
giáo dục. Từ Chỉ thị này, ngày 11/1/2005 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định phê
duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai
đoạn 2005-2010” với mục tiêu là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục được

16


chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng
nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo;
thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục
để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao
của sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước” [65].
Trong các nhiệm vụ nêu ra đã lưu ý việc: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của tồn xã hội về vai trị,
trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo
dục có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức,
tận tụy với nghề nghiệp, là trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [65].
1.3. Nội dung công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trƣờng Trung học
cơ sở của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện
Phát triển đội ngũ CBQL là một bộ phận của hệ thống PTNNL. Bởi vậy, các

ích kinh tế thì kết quả lao động của con người mới có chất lượng và bền vững.
Con người tham gia vào q trình đó một cách tích cực và có trách nhiệm, sáng
tạo, trung thực và phải được hưởng hạnh phúc. Tác động vào nhu cầu, lợi ích con
người là biện pháp thường xuyên thỏa mãn nhu cầu và lợi ích của họ là mục tiêu
của quản lý. Giữ gìn và phát huy thường xuyên tính tích cực sáng tạo của họ là
yêu cầu trung tâm của QLNNL.
Để khai thác tối đa tiềm năng của con người tạo ra lợi thế cạnh tranh đòi hỏi
tập trung vào ba khía cạnh: Thiết kế cơ cấu, sắp xếp và tổ chức cơng việc; quản
lý văn hóa tổ chức; quản lý chính sách và nhân sự [50].
Việc đầu tiên là để khai thác tối đa tiềm năng của con người đó là sắp xếp
cơng việc phù hợp với khả năng để tạo ra động cơ tích cực; Phải lưu ý đến văn
hóa tổ chức tạo ra mơi trường dân chủ và có sự chia sẻ đồng thuận.
Theo Nguyễn Minh Đường, PTNNL có thể hiểu theo nghĩa: “Phát triển nguồn nhân
lực bao gồm ba mặt: Phát triển sinh thể, phát triển nhân cách đồng thời tạo môi trường
thuận lợi cho nguồn lực phát triển” [35]. Nói một cách tổng quát, PTNNL là tăng giá trị
vật chất, giá trị tinh thần, đạo đức và giá trị thể chất cho con người.
Theo lý thuyết QLNNL, phát triển đội ngũ bao gồm ba vấn đề:
Thứ nhất, xây dựng đội ngũ gồm: Qui hoạch, tuyển dụng, sắp xếp bố trí.
Thứ hai là sử dụng đội ngũ: bao gồm triển khai việc thực hiện các quy định về
chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ, đánh giá sàng lọc.
Thứ ba là phát triển đội ngũ, bao gồm việc thực hiện các chế độ chính sách
đối với đội ngũ CBQL, quan tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng

18


CBQL tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát huy tiềm năng của họ, tạo điều
kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ được thăng tiến.
PTNNL được đặt trong nhiệm vụ QLNNL và là một nội dung quan trọng của
QLNNL.

Nội dung PTNNL có thể hướng đến các mục tiêu về số lượng, cơ cấu, chất lượng và
sự đồng thuận của các thành viên trong tổ chức. Có thể khái quát nội dung phát triển
nguồn nhân thông qua sơ đồ dưới đây.
Sơ đồ 1.2. Phát triển nguồn nhân lực
Số lượng

Cơ cấu

Phát triển
nguồn nhân lực

Đồng thuận

Chất lượng

Như vậy, công tác phát triển đội ngũ CBQL nghĩa là quan tâm đến đội ngũ đủ về
số lượng, vững mạnh về trình độ, một đội ngũ đa dạng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

19


trong giai đoạn mới. Đội ngũ khơng chỉ có năng lực chun mơn mà cịn tận tâm với
nghề. Một điều quan trọng nữa là xây dựng đội ngũ CBQL đoàn kết, hợp tác và hữu
nghị. Một tập thể toàn tâm tồn ý vì sự nghiệp chung, cống hiến sức lực và trí tuệ
cho nhiệm vụ trồng người. Một tập thể chan hồ tình u thương, mọi người gắn bó
với nhau, biết hy sinh vì lợi ích chung. Một tập thể biết đấu tranh cho lẽ phải, bảo vệ
cái đúng, yêu chuộng cơng bằng, thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ. Một tập thể
biết vươn lên học tập bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ
“Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,

về trình độ. Bố trí hợp lý, sắp xếp khoa học, thuận lợi về đi lại cho đội ngũ, đồng
thời phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của các vùng trong huyện. Đặc biệt
cần tính đến ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để có sự ưu tiên phân
cơng các cán bộ có bề dày kinh nghiệm, am hiểu về thực tế công tác giáo dục ở
các địa phương. Công tác luân chuyển CBQL cần đảm bảo tính ổn định, khoa
học, cần ưu tiên bổ sung các CBQL có bề dày kinh nghiệm trong công tác quản
lý, nhiệt huyết với sự nghiệp giáo dục cho các trường có chất lượng các mặt giáo
dục thấp, phong trào giáo dục của địa phương chưa phát triển.
Phát triển đội ngũ CBQL ở các nhà trường phổ thơng nói chung và ở cấp
THCS nói riêng cần hướng đến ba nội dung, đó là: đủ về số lượng, đạt chuẩn về
chất lượng và đồng bộ cơ cấu.
Số lượng CBQL nhìn trên sự điều hành vĩ mơ phải cân đối với số lượng đội
ngũ giáo viên trong toàn huyện. Đáp ứng được những yêu cầu, nhiệm vụ giáo
dục đặt ra trong tình hình mới.
Số lượng CBQL nhìn trên sự điều hành vi mơ (trong một nhà trường) tính theo số
lớp của trường đó. Theo thơng tư Số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23 tháng 8
năm 2006 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ “Hướng dẫn định mức biên chế
viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông cơng lập” thì tùy theo từng vùng trung du,
đồng bằng, thành phố, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, căn cứ vào số lớp, các
trường phổ thông được phân thành từng hạng, bao gồm hạng I, hạng II và hạng III. Biên
chế CBQL của mỗi trường trung học cơ sở gồm có một hiệu trưởng và một số phó hiệu
trưởng, cụ thể là trường hạng 1 có khơng q 2 phó hiệu trưởng; trường hạng 2, hạng 3
có 1 phó hiệu trưởng [11]. Theo đó thì nhìn cục bộ ở các nhà trường thuộc từng vùng,
từng cụm khác nhau trong địa bàn một huyện có nơi cịn chưa cân đối, mặc dù nhìn trên
tồn cục có thể số lượng CBQL giáo dục của một huyện về cơ bản đã đủ về số lượng.

21


Vấn đề này đỏi hỏi khâu luân chuyển, điều động và bổ nhiệm CBQL cần giải quyết một

22


Phát triển đội ngũ CBQL cấp THCS nhằm đạt tới sự tương thích, hài hịa về giới,
tương thích giữa các bộ mơn của Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng trong cùng một nhà
trường cũng như trên bình diện tồn huyện, tương thích về độ tuổi, tương thích về năng
lực quản lý v.v. Nếu trong một nhà trường cũng như trên địa bàn toàn huyện đội ngũ
CBQL chỉ gồm một giới, một lứa tuổi, nhiều khi lại dẫn đến những khó khăn, phức tạp.
Trong phạm vi một huyện, công tác phát triển đội ngũ CBQL cấp THCS cần
vận dụng các chức năng của quản lý đó là kế hoạch, tổ chức-chỉ đạo và kiểm tra
vào ba nội dung chủ yếu của công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, đó là: số
lượng, chất lượng và cơ cấu.
Khâu kế hoạch cần lưu ý: tính tốn quy mơ phát triển giáo dục THCS của huyện
theo số lượng học sinh, số lớp của từng trường từ đó phân hạng các trường, từ đó
tính ra số lượng CBQL cần có. Căn cứ vào số CBQL đang có và xác định số CBQL
sẽ về hưu, thuyên chuyển để lập kế hoạch bổ sung CBQL cho từng năm. Bên cạnh
đó cần dự báo quy mơ phát triển giáo dục THCS theo từng giai đoạn, từ đó làm cơ
sở cho cơng tác quy hoạch đội ngũ CBQL. Thơng qua số liệu điều tra về trình độ
CBQL, giáo viên từ đó lập kế hoạch bồi dưỡng CBQL về chun mơn, nghiệp vụ
quản lý để chuẩn hóa hoặc nâng chuẩn về chuyên môn và nâng cao năng lực
quản lý, điều hành cho CBQL ở các nhà trường THCS. Đồng thời từ dự báo số
lượng CBQL cần có so với nhu cầu, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về
chuyên môn và nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ giáo viên trong diện quy hoạch
làm nguồn bổ sung CBQL cho ngành. Xây dựng kế hoạch cải tiến, hoàn thiện cơ
cấu đội ngũ CBQL cấp THCS đảm bảo sự thuận lợi cho việc thực hiện điều hành
các nhà trường, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của các nhà trường THCS.
Đối với khâu tổ chức-chỉ đạo cần lưu ý khâu tuyển chọn, sàng lọc. Khâu này
liên quan đến cả việc tuyển dụng đội ngũ giáo viên cho các trường THCS trên địa
bàn tồn huyện. Bởi vì đội ngũ giáo viên là nguồn bổ sung chủ yếu cho đội ngũ
CBQL của các nhà trường trong ngành học. Dựa trên thành tích cơng tác của đội

Đánh giá đúng cán bộ mới có cơ sở để bố trí, sắp xếp và sử dụng cán bộ có hiệu
quả. Thơng thường, trước khi tuyển chọn, bố trí, đề bạt cán bộ cần đánh giá
đúng, khách quan theo những nội dung cơ bản sau đây:
Một là: Tiểu sử và những cứ liệu bên ngồi của cán bộ.
Tiểu sử đó là những cứ liệu mô tả chung về con người, là những thông tin rất quan
trọng. Tuy nhiên, bản thân những thông tin này chưa cung cấp cho chủ thể đánh giá một
ý niệm đầy đủ về cán bộ.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status