ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
-------------------
BÙI THỊ KHÁNH LY
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ ĐIỆN TỬ NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1945 – 1954, LỚP 12 TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THƠNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRỊNH ĐÌNH TÙNG
HÀ NỘI - 2012
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, với xu thế phát triển của thời đại thông tin và công nghệ, giáo
dục có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh t ế - xã hội. Từ đa ̣i hô ̣i VI
của Đảng các nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương II khóa VIII đã xác
đinh:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục
̣
Trong hệ thống đồ dùng trực quan của bộ môn Lịch sử ở trường phổ
thông hiện nay, bản đồ là một trong những loại đồ dùng trực quan quy ước
phổ biến nhất. Cùng với những thành tựu của công nghệ thông tin ứng dụng
trong dạy học, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng bản đồ và tạo ra những bản
đồ điện tử có khả năng ứng dụng cao. Bản đồ điện tử không chỉ giúp người
học xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và không gian nhất định,
giúp những sự kiện đó trở nên sinh động hơn, trên cơ sở đó người học suy
nghĩ, giải thích các hiện tượng lịch sử về mối liên hệ nhân quả, về tính quy
luật và trình tự phát triển của quá trình lịch sử và củng cố kiến thức đã học.
Mặt khác, việc lưu giữ hình ảnh, sử dụng BĐĐT cũng khá đơn giản và thuận
tiện khi có sự hỗ trợ của CNTT. Những trên thực tế trong các trường phổ
thông hiện nay việc sử dụng bản đồ điện tử kết hợp với bài giảng vẫn còn hạn
chế: chủ yếu là giáo viên sử dụng ln những bản đồ có sẵn trong sách giáo
khoa, không cần tốn thời gian sưu tầm, chỉnh sửa… Tuy nhiên, do giới hạn
của khổ giấy nên kích thước bản đồ nhỏ, khó theo dõi chung cả lớp, và khó
thu hút sự chú ý của học sinh. Vì vậy, để bài giảng lịch sử sinh đợng, hấp dẫn,
giúp người học có những biểu tượng sinh đợng, cụ thể về các sự kiện, hiện
tượng lịch sử, trong quá trình dạy học, giáo viên cần sưu tầm, sử dụng đa
dạng hơn các loại bản đồ, đặc biệt là bản đồ điện tử với những hiệu ứng sinh
động để phát huy được thế mạnh, hiệu quả của nó trong dạy học Lịch sử, làm
cho giờ học sinh động, hấp dẫn, tạo được sự hứng thú cho người học và từ đó,
hiệu quả học tập sẽ được nâng lên rõ rệt. Chính vì vậy tơi xin mạnh dạn
nghiên cứu đề tài: “Sử dụng bản đồ điện tử nhằm năng cao chất lượng dạy
học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT
(chương trình chuẩn)” để đưa ra những biện pháp sử dụng bản đồ điện tử
hợp lý, giúp GV nâng cao chất lượng bài giảng và phát huy tính tích cực, sáng
tạo của học sinh trong học tập lịch sử.
2
3
học theo xu hướng cá biệt hóa có vai trị lớn trong phát huy tính tích cực học
tập của học sinh.
Bài viết “Phương pháp dạy học tích cực” của GS. TS Trần Bá Hồnh
(Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 4/2000) đã phác thảo bức tranh tổng quát về
phương pháp dạy học tích cực.
TS Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại: lí luận – biện
pháp – kĩ thuật” (Nxb ĐHQG, H, 2002) đề cập đến nhiều vấn đề của lí luận
dạy học hiện đại, trong đó có lí luận, biện pháp, và kĩ thuật phát huy tính tích
cực học tập của học sinh.
Nguồn tài liệu của các nhà giáo dục trong và ngoài nước dù không liên
quan trực tiếp đến vấn đề sử dụng bản đồ nhưng có vai trò quan trọng trong
định hướng việc phát huy tính tích cực của HS khi vận dụng cụ thể qua
phương tiện trực quan là bản đồ mà đề tài nghiên cứu, áp dụng.
* Tài liệu của các nhà phương pháp dạy học Lịch sử Việt Nam
Có thể khẳng định rằng, việc sử dụng đồ dùng trực quan nói chung và
việc sử dụng bản đồ trong dạy học lịch sử nói riêng luôn được các nhà giáo
dục Việt Nam quan tâm từ lâu. Cho đến nay, tác giả đã tiếp cận được những
cơng trình, bài viết chủ ́u liên quan đến đề tài như sau:
Trước hết là cuốn: “Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử” (Nxb
Giáo dục, H, 1975) của tác giả Phan Ngọc Liên, Phạm Kỳ Tá đã đề cập khá
căn bản về phân loại phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan có tính chất phở
biến trong dạy học Lịch sử, trong đó, cách sử dụng các loại bản đồ được đề
cập khá sâu sắc. Tuy nhiên, vì xuất bản từ những năm 70 của thé kỉ XX, do
điều kiện cụ thể lúc đó, phần ứng dụng các phương tiên kĩ thuật trong dạy học
lịch sử còn chưa được sách đề cập đến.
Giáo trình “Bản đồ giáo khoa (sách dùng cho sinh viên khoa Lịch sử)”
nguyên tắc chung về sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử theo
hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Bài viết “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát huy
tính tích cực của học sinh” của PGS. TS Trịnh Đình Tùng trong cuốn “Đổi
5
mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông (một số chuyên đề)” do
GS. TS Phan Ngọc Liên chủ biên (Nxb ĐHSP, H, 2005) đã phản ảnh một
cách tồn diện về quan niệm tính tích cực học tập của học sinh trong dạy hoc
lịch sử, về đặc điểm của quá trình dạy học lịch sử trong mối liên hệ với việc
phát huy tính tích cực của học sinh, về các biện pháp chủ yếu nhằm phát huy
tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử.
Bài viết “Thiết kế và sử bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử
ở trường phổ thông” của GS. TS Nguyễn Thị Cơi và Đoàn Văn Hưng trong
Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 35- 2008 đã đưa ra một số yêu cầu cơ bản của
việc thiết kế bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học lịch sử ở trường phổ
thông đồng thời thiết kế và sử dụng bản đồ giáo khoa điện tử trong dạy học
bài “Khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội miền Bắc, giải phóng hồn tồn
miền Nam (1973 -1975)” – lớp 12. Từ đó, phát huy năng lực ứng dụng CNTT
của GV và HS trong việc khắc phục những khó khăn về thiết bị dạy học và
đáp ứng kịp thời, hiệu quả những yêu cầu dạy học của bộ môn.
* Các luận văn về phương pháp dạy học lịch sử
Luận văn thạc sĩ “Thử nghiệm một loại bản đồ giáo khoa lịch sử treo
tường” của học viên Đoàn Văn Hưng (ĐHSP, H, 1998) đã phân tích cụ thể về
quan niệm, vai trò, ý nghĩa, biện pháp sử dụng, cách thức xây dựng của một
dạng bản đồ treo tường thử nghiệm trong dạy học Lịch sử.
Luận văn thạc sĩ “Sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường theo hướng
phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1945 –
1954 Lịch sử lớp 12, chương trình chuẩn.
- Đề xuất các biện pháp pháp sử dụng BĐĐT nhằm nâng cao chất
lượng dạy học lịch sử Việt Nam) giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường
THPT (chương trình chuẩn).
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi, tính đúng
đắn của đề tài nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu
7
Các biện pháp pháp sử dụng BĐĐT nhằm nâng cao chất lượng dạy học
lịch sử Việt Nam) giai đoạn 1945 – 1954 lớp 12 ở trường THPT (chương trình
chuẩn) áp dụng cho bài nghiên cứu kiến thức mới và tiến hành thực nghiệm sư
phạm nội dung một tiết học cụ thể ở trường THPT Hà Nội.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tác phẩm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, của Hồ Chí Minh,
các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta bàn về nhận thức, về giáo dục nói chung
và giáo dục lịch sử nói riêng.
- Nghiên cứu các cơng trình của các nhà giáo dục, các nhà giáo dục lịch
sử và các tài liệu khác.
- Nghiên cứu hệ thống các BĐĐT cùng những phầm mềm ứng dụng cơ
bản (PowerPoint, Plash 7.0,…) trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn
1945 – 1954 hiện có cả về nợi dung lịch sử và hình thức của BĐ.
- Phương pháp điều tra: kết hợp cả hai dạng điều tra cơ bản và điều tra
xã hội học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm tồn phần ở mợt số trường THPT
có tính điển hình trong cụm Ba Đình – Tây Hồ (Hà Nội).
7. Giả thuyết khoa học
Trong dạy học Lịch sử ở nhà trường THPT, nếu có được các biện pháp
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢN
ĐỒ ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THƠNG
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1. Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường trung học phổ thơng
Theo “Chương trình giáo dục phở thông môn Lịch sử” do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành năm 2006, về mục tiêu tổng quát, “nhằm giúp học sinh
có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế
giới; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng
yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các
năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội”
[1,tr. 5]. Các mục tiêu cụ thể của môn Lịch sử ở trường phổ thông được thể
hiện trên ba phương diện.
Về kiến thức:
- Biết được các sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu,
những chuyển biến quan trọng của lịch sử thế giới từ thời nguyên thủy đến
nay. Chú trọng đến những nội dung quan trọng nhất để hiểu biết về quá trình
phát triển của lịch sử loài người, những nền văn minh, những mơ hình xã hợi
tiêu biểu, lịch sử của các nước trong khu vực và các sự kiện lịch sử thế giới có
ảnh hưởng lớn, liên quan đến lịch sử nước ta.
- Hiểu rõ quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến nay,
trên cơ sở nắm vững những sự kiện tiêu biểu từng thời kì, những chuyển biến
lịch sử và sự phát triển hợp quy luật của lịch sử dân tộc trong sự phát triển
chung của thế giới.
- Hiểu biết về một số nội dung cơ bản, cần thiết về nhận thức xã hội
như: kết cấu xã hội loài người, mối quan hệ giữa các yếu tố trong cơ cấu hệ
10
Để thực hiện mục tiêu của môn Lịch sử nêu trên và nâng cao chất
lượng dạy và học môn Lịch sử ở trường THPT, cần tiến hành tổng thể các
biện pháp. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh là mợt trong những biện pháp hành đầu, có vai
trị quyết định.
1.1.2. Đặc điểm của kiến thức lịch sử.
Kiến thức lịch sử mang tính q khứ: Lịch sử là mợt một môn học đặc
thù, kiến thức lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ. Đặc trưng cơ bản
của mơn Lịch sử là đi nghiên cứu tìm hiểu từ xa đến gần, từ quá khứ đến hiện
tại, từ phức tạp đến đơn giản... Chính vì thế nhiệm vụ của dạy học lịch sử là
khôi phục lại bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ q khứ, vận dụng
nó vào trong c̣c sống hiện tại và tương lai. Trong việc khôi phục lại bức
tranh quá khứ một cách sinh động, phương tiện trực quan là một yếu tố hết
sức cần thiết. Để đảm bảo nguyên tắc trực quan trong dạy học lịch sử, GV
phải tạo được các biểu tượng lịch sử chân thực không những bằng ngôn ngữ
mà phải kết hợp với các phương tiên phi ngôn ngữ khác, trong đó không thể
không kể đến ĐDTQ mà BĐĐT là một trong những ĐDTQ quy ước tiêu biểu
và hiện đại nhất.
Kiến thức lịch sử mang tính không lặp lại. Mọi sự kiện, hiện tượng lịch
sử đều gắn với không gian, thời gian, nhân vật... nhất định nên nhìn chung
kiến thức lịch sử mang tính khơng lặp lại. Nếu có sự “lặp lại” thì cũng là sự
lặp lại trên cơ sở sự kế thừa, phát triển. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu: dạy học
Lịch sử phải xem xét tính cụ thể cả về thời gian, khơng gian, nhân vật... làm
nảy sinh, tác động đến sự kiện.
Kiến thức lịch sử mang tính cụ thể được biểu hiện ở mỗi sự kiện, hiện
tượng lịch sử đều gắn với những không gian, thời gian, nhân vật... riêng; lịch
sử của mỗi nước, mỗi dân tợc, vùng miền... có diện mạo riêng; tiến trình phát
triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tợc khơng giống nhau... Vì vậy, dạy học Lịch
cách máy móc mà rất cần tư duy, trí thông minh của HS.
13
Trong dạy học Lịch sử, tùy trình độ nhận thức của HS, GV không dừng
ở mức độ tái hiện bức tranh lịch sử khách quan một cách đơn thuần mà trên
cơ sở bức tranh hiện thực khách quan đó, GV phải hướng HS rút ra những
nhận xét, đánh giá, bình luận… xác đáng, hữu ích. Thực hiện yêu cầu này,
bên cạnh việc quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, của Đảng, Nhà nước về nhận thức, về giáo dục và giáo dục lịch sử
còn đòi hỏi ở người GV lịch sử phải phát huy tính tích cực của HS, phải định
hướng tư duy HS.
Những đặc điểm trên đây quy định con đường hình thành kiến thức lịch
sử cho HS được thực hiện thông qua việc cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng,
hình thành khái niệm, nêu quy luật, rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử cho
hiện tại và tương lai. Để thực hiện tốt con đường này trong dạy học Lịch sử,
người GV cần thiết phải sử dụng ĐDTQ nói chung, BĐĐT nói riêng khi có sự
đảm bảo của điều kiện vật chất trường lớp.
1.1.3. Đặc diểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Ở lứa tuổi này, do sự phát triển và hồn thiện dần về trí tuệ và thể chất,
dẫn đến những thay đổi lớn về tâm lý và sự định hình nhân cách. Trong đó
tâm lý muốn trở thành người lớn và năng lực tích cực, đợc lập suy nghĩ là đặc
điểm chủ đạo. Nếu như HS trung học cơ sở về nhận thức mới dừng lại ở nhận
thức cảm tính thì đến THPT (nhất là HS lớp 12), nhận thức lý tính ngày càng
biểu hiện rõ nét và đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động nhận thức. Nét độc
đáo là học sinh THPT luôn có xu hướng tiếp xúc với các mơn khoa học, thích
tìm hiểu và khám phá những kiến thức mới, đặc biệt là sự thích ứng rất nhanh
với cơng nghệ thơng tin mới. Vì vậy, với những phương pháp dạy học mới
hay những phương tiện học tập mới sẽ thu hút được sự hứng thú nhiều hơn từ
chưa đồng bợ, đặc biệt “chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của
người học. Giáo dục – đào tạo chưa kết hợp được với lao động sản xuất, nhà
trường chưa gắn liền với gia đình và xã hội”.
15
Bản chất của đổi mới phương pháp dạy học đã được Nghị quyết Trung
ương II khóa VIII chỉ rõ là phải: “khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các
phương pháp dạy học tiên tiến vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và
thời gian tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất
là thanh niên”. Với định hướng này, hiện nay, xu hướng đổi mới phương
pháp dạy học nói chung và đởi mới phương pháp dạy học Lịch sử nói riêng là
xu hướng chủn từ mơ hình dạy học lấy “giáo viên làm trung tâm” sang mơ
hình dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”. Thực chất của dạy học “lấy học
sinh làm trung tâm” chính là phát huy một cách cao nhất tính tích cực, chủ
đợng của học sinh trong học tập.
Trong thời đại “bùng nổ thông tin” như hiện nay, đổi mới phương pháp
dạy học bằng công nghệ thông tin (CNTT) được xem là một chủ đề lớn được
UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành đợng trước ngưỡng cửa
thế kỷ XXI. Trong thập niên cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế
kỷ này, nắm bắt kịp thời xu thế tất yếu của thời đại, Đảng và Nhà nước ta rất
quan tâm đến vấn để ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hợi,
trong đó có giáo dục. Vì vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học Lịch sử
cũng là một yêu cầu cấp thiết. Từ đó, việc tạo ra những bản đồ điện tử trong
dạy học lịch sử là cách tốt nhất để thu hút sự hứng thú của học sinh và nâng
cao chất lượng dạy và học Lịch sử với những nội dung phù hợp.
1.1.6. Quan niệm về bản đồ điện tử trong dạy học Lịch sử ở trường trung
học phổ thông
động và phong phú hơn phục vụ tốt cho tở chức dạy học tồn lớp. Đây là đặc
trưng quan trọng nhất của BĐGK – loại bản đồ dùng trong trường học.
Về nội dung, BĐGK khác với BĐ tra cứu ở chỗ, “trọng tải” của BĐ
không lớn và có nợi dung phù hợp với chương trình giảng dạy của từng lớp,
từng cấp học. Do vậy, BĐGK nói chung và BĐGK lịch sử nói riêng là mợt tư
liệu khoa học độc lập của nhà trường, nó được ví như “cuốn sách giáo khoa
thứ hai”. Tính sư phạm của BĐGK được thể hiện ở những điểm chủ yếu:
17
- BĐGK là loại bản đồ được thiết kế phù hợp với chương trình của từng
cấp học, từng lớp học, phù hợp với trình độ học sinh.
- Nội dung của bản đồ liên hệ chặt chẽ, thống nhất với nội dung sách
giáo khoa. Nội dung BĐ biểu hiện những nội dung cơ bản của bài học, phục
vụ mục đích, nhiệm vụ học tập. Nếu sách giáo khoa thay đởi thì nội dung của
BĐGK tương ứng cũng phải thay đổi theo. Nợi dung bản đồ cần đảm bảo tính
vừa sức, phù hợp với nội dung bài học, với yêu cầu học tập.
- Lưới chiếu, tỉ lệ của BĐGK không chỉ phù hợp với nợi dung bài học
mà cịn phải phù hợp với đối tượng học sinh từng cấp, từng lớp cụ thể.
- Hệ thống chữ viết, đường nét, kí hiệu giữa các BĐGK phải thống nhất
từ lớp đầu cấp đến cuối cấp.
- Bố cục BĐ hợp lý, trình bày đẹp không chỉ giúp học sinh hứng thú,
say mê làm việc với BĐ mà còn có tác dụng lớn trong việc giáo dục, phát
triển óc thẩm mĩ cho HS.
Có thể khẳng định, với những biểu hiện trên đây, tính sư phạm của
BĐGK còn được gọi là tính giáo khoa. Điểm nổi bật nhất của tính giáo khoa
thể hiện ở tính chuẩn mực, thống nhất với mục đích giáo dưỡng, giáo dục và
phát triển HS. Vì vậy, xét về mục đích sử dụng, trong các tính chất của
BĐGK, tính sư phạm – tính giáo khoa là đặc trưng quan trọng nhất.
gia và một số sự kiện chính sách đối ngoại và đối nội có liên quan đến những
sự thay đổi và biến động đó.
+ Bản đồ lịch sử phong trào cách mạng và đấu tranh giai cấp.
+ Bản đồ lịch sử quân sự thể hiện tiến trình chung của các hoạt động quân
sự cũng như các giai đoạn chiến tranh riêng biệt, đặc biệt và hữu ích nhất.
+ Bản đồ lịch sử văn hóa và các đề tài khác.
- Cách phân loại theo giai đoạn lịch sử (thời gian): Theo các giai đoạn
lịch sử có các BĐ lịch sử tương ứng như: BĐ lịch sử thế giới, BĐ lịch sử Việt
Nam: thời nguyên thủy, thời cổ đại, thời trung đại, thời cận đại, thời hiện đại.
- Cách phân loại theo mức đợ khái qt có:
+ Bản đồ LS tổng hợp, bản đồ chuyên đề LS.
19
+ Sơ đồ, lược đồ
- Cách phân loại theo tính chất dữ liệu có:
+ Bản đồ “tĩnh”: các dữ liệu trên BĐ khơng có sự tương tác với nhau,
các kí hiệu sử dụng đều được thể hiện đồng loạt và khơng thay đởi được vị trí.
BĐ “tĩnh” sử dụng trong DHLS thường là các BĐGK trong các SGK lịch sử
hay BĐ lịch sử giáo khoa treo tường.
+ Bản đồ “động”: dùng để chỉ các BĐ được sử dụng trực tiếp với sự hỗ
trợ của CNTT, các dữ liệu, sự kiện trên BĐ chuyển động phù hợp với nội
dung truyền tải. Hay nói cách khác, BĐ “động” được hiểu là các BĐĐT với
sự hỗ trợ của các phần mềm được xây dựng và đưa vào sử dụng.
Ngoài ra, BĐ lịch sử cũng có thể được phân loại theo các tiêu chí: lãnh
thở, theo phương pháp dùng (treo tường, để bàn, trình chiếu)… Các BĐ giáo
khoa LS cũng có thể lập thành Atlas lớn, vừa, nhỏ, theo hướng địa lý lịch sử
chung hoặc theo chuyên đề… Mọi khả năng mở rộng chủ yếu phụ thuộc vào
ngân hàng dữ liệu cũng như nội dung chương trình SGK và mục tiêu giáo dục
8.0… BĐĐT được xây dựng với sự hỗ trợ của phần mềm Macromedia Flash
nói chung thường được gọi là bản đồ Multimedia. Đây là một dạng bản đồ
được sử dụng trực tiếp trên máy tính và được hỗ trợ bởi các thành phần
Multimedia như âm thanh, hình ảnh, video… Các thành phần Multimedia
phải liên kết được với các kí hiệu mà nó hiển thị.
1.1.7. Vai trị, ý nghĩa của việc sử dụng bản đồ điện tử nhằm nâng cao chất
lượng dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Trước đây, các thiết bị công nghệ thơng tin cịn thiếu thốn, khả năng sử
dụng của giáo viên còn hạn chế. Trong các tiết dạy Lịch sử, giáo viên chủ yếu sử
dụng bản đồ treo tường của Nhà x́t bản Giáo dục, thậm chí khơng có giáo viên
còn phải tự vẽ để sử dụng. Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật đã phát triển, công
nghệ thông tin ngày càng được sử dụng rộng rãi trong dạy học thì việc sử dụng
bản đồ lịch sử với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin càng cần phải được giáo
viên hết sức quan tâm. Sử dụng BĐĐT, những bài giảng lịch sử trở nên sinh
động, hấp dẫn, người học có những biểu tượng, sinh đợng, cụ thể về các sự kiện,
21
hiện tượng lịch sử, trong quá trình dạy học, đối với các bài học lịch sử có liên
quan đến các c̣c khởi nghĩa, các trận đánh, các chiến dịch…
Vai trị của việc sử dụng bản đồ điện tử còn được thể hiện trên cả ba
phương diện:
Vê kiến thức (giáo dưỡng), cùng với việc cung cấp sự kiện, biểu tượng
lịch sử là một đơn vị kiến thức không thể thiếu, khởi đầu con đường hình
thành kiến thức trong dạy học Lịch sử ở nhà trường phổ thông. Trong các loại
biểu tượng lịch sử cần hình thành cho HS thì biểu tượng về không gian địa lý
là một trong những biểu tượng phở biến. Bởi vì, mỗi sự kiện lịch sử ln gắn
với địa danh xác định. Các địa danh này có không gian tọa độ riêng và được
quy ước trên BĐ nên sử dụng BĐĐT nói riêng là biện pháp có ưu thế lớn nhất
chiến dịch đó. Chiến thuật đánh quân Nam Hán của Ngô Quyền năm 938,
chiến thuật đánh giặc Mông – Nguyên của Trần Quốc Tuấn thời Trần đều trên
cơ sở chế độ thủy triều đặc biệt ở cửa sông Bạch Đằng lịch sử, chiến thuật
tiêu diệt viện binh nhà Minh đã được Lê Lợi khéo léo lựa chọn địa hình hiểm
yếu của ải Chi Lăng… cho đến chiến thuật “bông sen nở” ở Chiến dịch Tây
Nguyên, chiến thuật “thọc sườn” ở Chiến dịch Huế - Đà Nẵng, chiến dịch
“bóc vỏ” trong trận qút chiến giải phóng Sài Gịn – Gia Định trong thời đại
Hồ Chí Minh đều phải cân nhắc kĩ lưỡng từ điều kiện tự nhiên nơi diễn ra các
sự kiện lịch sử vĩ đại này. Thông qua sử dụng BĐĐT, GV bồi dưỡng cho HS
quan điểm duy vật này một cách phù hợp, tránh rơi vào tình trạng phủ định
sạch trơn vai trò hoàn cảnh địa lý tới sự kiện lịch sử. Đồng thời, việc sử dụng
BĐĐT kết hợp với những bài tường thuật, đoạn miêu tả giàu hình ảnh về diễn
biến một trận đánh hết sức ác liệt, về mợt địa danh cụ thể, HS khơng chỉ có
biểu tượng lịch sử sâu sắc mà còn tăng thêm tình yêu quê hương, đất nước –
nơi biết bao thế hệ cha anh đã đổ máu xương để bảo vệ từng mảnh đất quê
hương. Từ đó, ý thức tự hào, tự cường dân tộc ở các em được hun đúc và
ngày càng sâu sắc; ý thức về trách nhiệm của một công dân tương lai được
hình thành, củng cố và khơng ngừng nâng cao.
Thông qua việc sử dụng BĐĐT trong dạy học lịch sử, dưới sự hướng
dẫn của GV qua hệ thống câu hỏi mở, HS tự lực khai thác BĐ: quan sát tỉ mỉ
từng kí hiệu BĐ, phát hiện mối liên hệ lơgic giữa các kí hiệu sẽ hình thành ở
23
các em tinh thần, thái độ làm việc hăng hái, cần mẫn, nghiêm túc, khoa học.
Bên cạnh đó, sử dụng BĐĐT còn có tác dụng lớn trong việc bồi dưỡng, giáo
dục óc thẩm mĩ cho HS.
Về kĩ năng, mợt trong những nguyên tắc chỉ đạo quá trình dạy học là
“học đi đôi với hành”. Việc “hành” trong học tập lịch sử được hiểu ở nhiều