(Luận văn thạc sĩ) ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương III các nước á, phi và mĩ la tinh (1945 2000) lớp 12 trung học phổ thông (chương trình chuẩn) - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ ÁNH VÂN

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
DẠY HỌC “CHƢƠNG III: CÁC NƢỚC Á, PHI VÀ MĨ LATINH
(1945 – 2000)” LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THƠNG
(CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)

Chun ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. VŨ QUANG HIỂN

HÀ NỘI – 2013

i


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BGĐT

: Bài giảng điện tử

CNTT

: Công nghệ thông tin


: Phương pháp dạy học

SGK

: Sách giáo khoa

TBCN

: Tư bản chủ nghĩa

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

2


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng1.1: Thống kê tình hình sử dụng công nghệ thông tin trong dạy
học lịch sử .......................................................................................................
29
Bảng 2.1: Các tranh ảnh, bản đồ, lược đồ lịch sử của chương III: Các
nước Á, Phi và Mĩ Latinh (SGK Lịch sử lớp 12) ...........................................
51

1.2.1. Thực tiễn việc ứng dụng CNTT vào dạy học lịch sử ở trường
THPT hiện nay....................................................................................................26
1.2.2. Một số biện pháp khuyến khích giáo viên và học sinh sử CNTT
để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường THPT ........................................34
1.2.3. Một số lọai hình CNTT có thể ứng dụng trong dạy học lịch sử .............36
Chƣơng 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
DẠY HỌC CHƢƠNG III: CÁC NƢỚC Á, PHI VÀ MĨ LA TINH
(1945 – 2000 LỚP 12 THPT (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN) ...................42
2.1. Vị trí, mục tiêu của chương III trong chương trình bộ mơn Lịch sử
ở trường THPT ................................................................................................42
2.1.1. Vị trí ...........................................................................................................42
2.1.2. Mục tiêu .....................................................................................................44
2.2. Những nội dung cơ bản của chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ
Latinh cần khai thác để ứng dụng CNTT, nâng cao hiệu quả dạy học ...........45

4


2.3. Một số biện pháp ứng dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng dạy
học chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000) .......................48
2.3.1. Ứng dụng CNTT chuẩn bị tư liệu điện tử dạy học .................................48
2.3.2. Ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng các bước trong quá
trình dạy học....................................................................................................56
2.4. Những lưu ý khi giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin nhằm
nâng cao hiệu quả của chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh
(1945 - 2000) ...................................................................................................62
2.4.1. Giáo viên lựa chọn kênh hình để thiết kế các Slide hình ảnh trên
phần mềm PowerPoint, hỗ trợ cho bài giảng điện tử .........................................62
2.4.2. Dựa vào bài viết tham khảo khai thác được trên Internet để xây
dựng các bài miêu tả, tường thuật, giải thích, nêu đặc điểm..............................63

coi trọng phát triển. Đứng trước những thách thức to lớn của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ, Đảng đã xác định ứng dụng công nghệ khoa học hiện đại
vào giáo dục, đặc biệt là công nghệ thông tin là vấn đề cấp thiết.
Trong giáo dục, những môn khoa học xã hội và nhân văn trong đó có
Lịch sử ngày càng chiếm vị trí quan trọng đối với việc hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh. Bộ mơn Lịch sử ở trường phổ thơng có nhiều ưu thế
góp phần tích cực vào thực hiện mục tiêu giáo dục. Bằng việc cung cấp cho
học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, bộ môn
giúp học sinh khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách chân thực, hình thành
các phẩm chất tốt đẹp.
Trong những năm gần đây, việc học tập lịch sử ở trường phổ thông
(THPT) đã thu được những thành quả đáng khích lệ: xuất hiện nhiều giáo viên
dạy giỏi với những phương pháp dạy học (PPDH) tich cực làm cho chất lượng
dạy và học lịch sử được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên vẫn cịn khá phổ biến
tình trạng “thầy đọc – trò chép”, hoặc lối giảng giải một chiều nên chất lượng
bộ môn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước. Ngoài ra, tình
trạng “dạy chay”, dạy dàn trải kiến thức, khơng xác định được kiến thức cơ
bản, trọng tâm của bài dẫn đến dạy dập khuôn theo SGK cũng làm ảnh hưởng
đến chất lượng của bộ mơn. Thậm chí, ở nhiều nơi học sinh đã làm những câu
ca dao chế giễu giáo viên dạy sử “Thầy đọc giáo án, trị ngán vơ cùng, chúng
6


em phát khùng, chê thầy cơ dốt”,… Tình trạng trên còn xuất phát từ quan niệm
xã hội coi lịch sử là một trong những môn phụ trong hệ thống các môn khoa
học xã hội. Quan niệm này ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân, đặc biệt là thế
hệ đi trước, vì vậy mà việc dạy lịch sử của giáo viên và việc học tập lịch sử
của học sinh vẫn chưa được đầu tư một cách đúng đắn.
Tình hình trên cho thấy việc đổi mới, cải tiến để nâng cao chất lượng
dạy học môn lịch sử là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho toàn xã hội.

Thái Duy Tun trong cuốn “Những vấn đề cơ bản giáo dục hiện đại”
(NXB Giáo dục, 1998), khi đề cập tới tính hiệu quả của bài học trong dạy học
đã nêu rõ: “Trong giáo dục, khi đánh giá thực trạng, người ta thường sử dụng
hai khái niệm: Hiệu quả trong và hiệu quả ngồi. Hai hiệu quả này có liên quan
mật thiết với nhau, hiệu quả trong là tiền đề, là cơ sở tạo ra hiệu quả ngồi.
Hiệu quả ngồi là mục đích, vì rốt cuộc giáo dục là để phục vụ sự phát triển
kinh tế - xã hội cũng như sự phát triển bản thân”.[33, tr 367]
PGS.TS Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (cb) trong giáo trình “ Phương
pháp dạy học lịch sử”, NXB giáo dục, Hà Nội, 1998, cho rằng: “Hiệu quả dạy
học lịch sử được xác nhận không chỉ bằng việc hình thành kiến thức, kết quả
giáo dục mà cịn bằng việc phát triển tư duy, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh”
[20,tr 204]
Nhóm tác giả PGS.TS Trịnh Đình Tùng (cb), Trần Viết Thụ, Đặng Văn
Hồ, Trần Văn Cường trong cuốn “Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở các
trường phổ thông cơ sở”, NXB ĐHSP Hà Nội, 2005, đã trình bày có hệ thống
các phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan và phần ứng dụng công nghệ thông
tin vào dạy học. Các tác giả kết luận, khi nghiên cứu, học tập phương pháp dạy
học lịch sử không chỉ nắm vững lí luận mà quan trọng hơn phải biết vận dụng
một cách sáng tạo vào thực tiễn dạy học.
Cuốn “Con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường
Phổ thông” (NXB ĐHSP, Hà Nội, 2006) của GS.TS Nguyễn Thị Cơi thì đi sáu
vào phân tích bản chất của q trình dạy học lịch sử dựa trên những cơ sở lí luận và
thực tiễn khoa học, trong đó có phần tích hợp CNTT trong dạy học bộ mơn.
Liên quan đến đề tài cịn có các tài liệu như “Phát triển tư duy trong dạy
học lịch sử” (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1982), “Nâng cao hiệu quả bài học lịch

8


sử trong dạy học lịch sử ở nhà trường phổ thơng” của Phan Ngọc Liên, Trịnh


miền Bắc, giải phóng hồn tồn miền Nam (1973 – 1975)” – Lịch sử lớp 12”
(Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 236, 2010); Phan Trọng Luân với “ Công
nghệ thông tin với việc giảng dạy các môn khoa học và nhân văn trong nhà
trường” (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 8, 1998); “Cải cách phương pháp
dạy học theo hướng vận dụng công nghệ thông tin và các thiết bị dạy học hiện
đại” của Đỗ Thị Thanh Thiên (Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 1, 2004), Thiết
kế giáo án điện tử của Nguyễn Thị Thu Hà (Tạp chí Giáo dục số 201, 2008),
Nguyễn Huy Tú với bài viết “Về dạy học bằng máy tính điện tử” (Nghiến cứu
Giáo dục, số 4, tr7, 1987),…
Bên cạnh các bài viết về ứng dụng CNTT trên các bài báo khoa học và
tạp chí, cịn nhiều luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học đã đề cập đến đề tài
này. Mới đây nhất là đề tài nghiên cứu của TS. Nguyễn Mạnh Hưởng – ““Các
biện pháp nâng cao hiệu quả DH phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 –
1954 ở lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) với sự hỗ trợ của CNTT”- Hà Nội,
2011; các luận văn tốt nghiệp của sinh viên phương pháp của Bùi Thị Hương “Sử dụng CNTT đê nâng cao hiệu quả bài học phần lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1954 – 1975, lớp 12 THPT (Chương trình chuẩn)”- Hà Nội 2010;
Nguyễn Thị Diệu Linh – “Sử dụng CNTT để hướng dẫn HS khai thác kênh
hình khi DH phần LS thế giới 1917 – 1945 THPT (chương trình chuẩn)”. Hà
Nội, 2010; Vũ Thị Hoa Mai – “Sử dụng CNTT để tạo biểu tượng cho HS khi
DH chương III. LS Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, lớp 10 THPT
(chương trình chuẩn)” - Hà Nội, 2010.
2.3. Những vấn đề các cơng trình nghiên cứu chưa làm rõ
Các đề tài về ứng dụng CNTT rất phong phú và đa dạng, đã tập trung
nghiên cứu và làm rõ được:
+ Tính cấp thiết và vai trị của việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử
ở trường phổ thơng
+ Đi sâu vào tìm hiểu về thực trạng ứng dụng CNTT hiện nay ở các
trường THPT trên cả nước.
10

phần mềm có tính ứng dụng cao, có hiệu quả trong việc sưu tầm, xử lí các nguồn
11


tài liệu (tranh ảnh, bản đồ lịch sử và phim ảnh) và xây dựng các bước của quá
trình dạy học có ứng dụng CNTT nhằm nâng cao CLDH bộ mơn nói chung và
dạy học “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)” nói riêng.
4.2. Phạm vi thực nghiệm
Trường THPT Chuyên Trần Phú, trường THPT Thăng Long và trường
THPT Hàng Hải (Thành phố Hải Phòng).
5. Mục đích – Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.1. Mục đích
- Đề tài khẳng định thêm vai trị, ý nghĩa của CNTT trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông.
- Sử dụng CNTT để nâng cao hiệu quả các bài học Lịch sử Thế giới hiện đại từ
năm 1945 – 2000, vận dụng cụ thể vào “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La
tinh (1945 - 2000)” Lịch sử lớp 12 THPT.
5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lí luận dạy học, lí luận về ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung
và dạy học nói riêng.
- Xác định vị trí, mục tiêu của “Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ La tinh”
và nội dung để xây dựng quy trình khi sử dụng các phần mềm điện tử để xây
dựng hồ sơ tư liệu điện tử và thiết kế giáo án điện tử.
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của việc thực hiện quy trình trên.
- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận: Khai thác các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học,
phương pháp dạy học bộ môn, nghiên cứu chương trình, nội dung SGK Lịch
sử lớp 12 THPT – Chương III: Các nước Á, Phi và Mĩ Latinh (1945 - 2000),
CNTT trong dạy học Lịch sử.

- Đề xuất một số biện pháp sư phạm ứng dụng CNTT để sưu tập, xây
dựng nguồn tư liệu điện tử phục vụ cho việc thiết kế giáo án điện tử, xây dựng
bài giảng ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn.
13


10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính được trình bày trong 2 chương:
- Chương 1: Ứng dụng công nghê ̣ thông tin trong dạy học lịch sử ở trường
trung học phổ thông - Cơ sở lí luận và thực tiễn
- Chương 2: Ứng dụng cơng nghệ thông tin trong dạy học “Chương III: Các
nước Á, Phi và Mĩ La tinh (1945 - 2000)” lớp 12 trung học phổ thơng
(chương trình chuẩn)

14


CHƢƠNG 1
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – CƠ SỞ LÍ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luâ ̣n
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài
* Chất lượng dạy học
Dạy học là một hoạt động chủ yếu của hoạt động giáo dục, trong đó chất
lượng dạy học là một bộ phận quan trọng hợp thành chất lượng giáo dục.
Chất lượng dạy học (CLDH) thể hiện ở việc giáo viên truyền thụ cho học
sinh hiểu và biết được những kiến thức như thế nào? Kiến thức đó có tác dụng
thế nào tới sự phát triển tư duy của học sinh, có giúp các em ứng dụng vào

kiến thức mới soạn thảo trên các phần mềm (thường là phần mềm PowerPoint,
Violet) là “GAĐT”, hoặc “BGĐT”. Theo chúng tôi, GV không nên đồng nhất
hai khái niệm này vì:
Thứ nhất, “GAĐT” và “BGĐT” là hai khâu của quá trình DH ở trường
phổ thơng, nhưng đều có sự hỗ trợ của máy tính và các cơng cụ đa phương
tiện. Trong đó, để thực hiện một tiết dạy trên lớp với sự hỗ trợ của CNTT, GV
phải có sự chuẩn bị từ trước (ở nhà), phải thiết kế toàn bộ kế hoạch hoạt động
DH của mình trên các slide trình chiếu của máy tính, đó là“GAĐT”. Khi tổ
chức cho HS học tập trên lớp, GV sử dụng bản kế hoạch ấy với toàn bộ hoạt
động giảng dạy của mình đã được chương trình hóa một cách uyển chuyển,
linh hoạt và sinh động nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện cùng với
năng lực tổ chức, nghiệp vụ sư phạm vốn có, góp phần nâng cao hiệu quả bài
học – đó là “BGĐT”.
Thứ hai, nếu chúng ta đồng nhất khái niệm “GAĐT” với “BGĐT” sẽ dễ
gây ngộ nhận cho nhiều GV khi cho rằng có thể thay thế hồn tồn “giáo án
truyền thống”, thậm chí thay cho phấn trắng – bảng đen, các loại đồ dùng trực
quan khác và cả vai trò của GV trong khâu tổ chức, điều khiển hoạt động nhận
thức của HS. Vì, mọi thứ đã được thiết kế và lưu sẵn trên máy tính, khi DH
trên lớp, GV chỉ cần nhấn chuột trình chiếu slide, rồi “đọc lại” những nội
16


dung ấy trên màn hình cho HS chép (những nội dung đã được GV đánh máy
trên các slide ở nhà). Đây thực sự là một quan niệm sai lầm, không những
không từ bỏ được lối DH truyền thống “thầy đọc, trò chép”, mà còn sáng tạo
ra một PPDH mới tệ hại hơn là “thầy kích chuột và đọc”để “trị nhìn, chép”.
Ở đây, “BGĐT” nên được hiểu là một phương tiện DH hiện đại, trong
đó nội dung của bài học đã được số hóa, chương trình hóa trong mơi trường
Multimedia nhằm hỗ trợ cho bài giảng trên lớp của GV đạt hiệu quả cao theo
một kế hoạch giảng dạy đã chuẩn bị từ trước (GAĐT); đồng thời nó cũng là

việc sử dụng máy tính và Internet ở nước ta vẫn còn sơ khai do cơ sở hạ tầng
hạn chế và phí truy nhập Internet cao.
* Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử với sự hỗ trợ của CNTT
Việc nâng cao hiệu quả dạy – học với sự hỗ trợ của CNTT cần được xem
xét trong quan điểm của cơng nghệ giáo dục để có những chuyển đổi cần thiết
và đồng bộ về hình thức và nội dung. Giáo viên và học sinh cần được bồi
dưỡng về giáo dục điện tử, cách thức vận dụng công nghệ mới để nâng cao
hiệu quả của các phương pháp dạy học truyền thống.
Tích hợp những thành tựu của CNTT và truyền thơng vào q trình dạy
học sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả và đổi mới PPDHLS ở
trường THPT. ICT là một thành tựu lớn của cuộc cách mạng khoa học – kĩ
thuật hiện nay, nó thâm nhập và cho phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu
khoa học, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt
động chính trị, xã hội khác. Trong giáo dục – đào tạo, ICT được sử dụng vào
tất cả các môn học tự nhiên, kĩ thuật, xã hội và nhân văn. Hiệu quả rõ rệt là
chất lượng giáo dục tăng lên cả về mặt lí thuyết và thực hành. Vì thế, nó là chủ
đề lớn được tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học thế giới (UNESCO) chính
thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, dự
đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỉ XXI do
ảnh hưởng của CNTT”.
Theo các chuyên gia giáo dục, nếu việc ứng dụng CNTT trong DHLS có
hiệu quả thì sẽ có tác dụng lớn trên cả 3 mặt: giáo dưỡng, giáo dục và phát triển
tồn diện học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy - học của thầy và trò,
18


khắc phục tình trạng “dạy chay”, “học chay”, khá phổ biến ở nhiều nhà trường
phổ thơng hiện nay. Bởi vì, theo các chuyên gia giáo dục, nếu cứ áp dụng PPDH
truyền thống (thầy đọc – trị chép) thì 90% tri thức của học sinh được tiếp nhận
qua tai, 10% qua mắt sau một thời gian ngắn sẽ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, giảm

cách cơng dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu bộ môn Lịch sử ở trường THPT được xây dựng trên cơ sở
mục tiêu giáo dục của cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta
về sử học và giáo dục. Mục tiêu môn học cũng căn cứ vào nội dung, đặc trưng
của việc hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử, yêu cầu của tình hình và nhiệm
vụ cách mạng hiện nay.
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục, căn cứ vào đặc trưng cụ thể của từng môn
học ở nhà trường THPT, bộ môn lịch sử có mục tiêu:
- Về kiến thức: sẽ cung cấp cho học sinh:
+ Những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử trên cơ sở củng cố, phát
triển nội dung kiến thức đã học ở THCS, hợp thành nội dung giáo dục lịch sử
của bậc THPT.
+ Những nét chính về sự biến đổi trong mối quan hệ quốc tế từ sau Chiến
tranh thế giới thứ hai đến năm 2000, cũng như sự phát triển của lịch sử nhân
loại dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại.
+ Cung cấp những kiến thức sơ giản về phương pháp tìm hiểu, nghiên cứu
lịch sử để nâng cao, cải tiến phương pháp học tập, phát huy tính tích cực học
tập của học sinh.
Học lịch sử ở trường THPT học sinh sẽ có được biểu tượng chân thật về
quá khứ lịch sử: sự kiện lịch sử, không gian, thời gian, nhân vật quan trọng,
hình thành khái niệm, rút ra bài học và quy luật lịch sử. Trên cơ sở biểu tượng
chính xác và chân thực ấy, HS cịn phải hiểu được ý nghĩa, bản chất của tri
thức lịch sử, những mối liên hệ bên trong và bên ngoài của các sự kiện, qua
tiến hành các hoạt động tư duy (phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp, suy
luận,…).
- Về tư tưởng, tình cảm: sẽ nhằm giáo dục HS :
20



21


Các nhiệm vụ trên được hình thành và củng cố, tạo ra các năng lực chủ yếu
nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong thời kì cơng
nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta, đó là:
+ Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng và
phẩm chất đã hình thành trong việc dạy học và giáo dục, trong học tập, giao
tiếp, dám nghĩ, dám làm và biết chịu trách nhiệm.
+ Năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn để có thể chủ
động, linh hoạt và sáng tạo trong học tập, lao động, sinh sống cũng như hịa
nhập với mơi trường tự nhiên, cộng đồng xã hội.
+ Năng lực giao tiếp, ứng xứ với lòng nhân ái, có văn hóa và thể hiện tinh
thần trách nhiệm với gia đình cộng đồng xã hội.
+ Năng lực tự khẳng định, biểu hiện ở tinh thần phấn đấu học tập và lao
động, khơng ngừng rèn luyện bản thân, có khả năng tự đánh giá và phê phán
trong phạm vi môi trường hoạt động của bản thân.
1.1.3. Quan niệm về nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT và việc
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT có sự hỗ trợ của CNTT
Chúng ta đang sống trong thời kì phát triển như vũ bão của cách mạng
khoa học kĩ thuật mà đặc trưng của nó là khối lượng thơng tin khổng lồ ngày
càng tăng, mức độ lí thuyết ngày càng cao. Cuộc cách mạng khoa học công
nghệ thông tin đang nhảy vọt ở cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI dẫn tới khoảng
cách phát minh khoa học và áp dụng thực tiễn ngày càng rút ngắn, do đó địi
hỏi con người có trình độ khoa học và công nghệ ngày càng lớn.
Hiện nay CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo trên nhiều
khía cạnh, trong đó có cả việc đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới công
nghệ dạy và công nghệ học. Các thuật ngữ này được hiểu theo đúng nghĩa
công nghệ.
Công nghệ dạy học hay công nghệ đào tạo, công nghệ giáo dục đều được

biết tách thông tin hữu ích ra khỏi nhiễu, phải lưu giữ thơng tin trong bộ nhớ
trong (não) hay bộ nhớ ngoài (sách, vở,…). Mỗi một cửa vào này tiếp nhận
một loại mã hóa thơng tin riêng biệt. Vì vậy, muốn truyền lượng thông tin lớn,
ta phải biết tận dụng tất cả các phương tiện có thể đưa lượng thơng tin vào các
23


cửa này: có những thơng tin rất khó vào tai thì phải chuyển đổi dạng mã hóa,
chế biến để cho vào mắt.
Vì vậy, cùng một bài học viết dưới dạng văn bản, nếu ta chỉ truyền nội
dung văn bản tới người học thì lượng thơng tin sẽ rất ít, người học sẽ kém
hứng thú. Hoặc chỉ truyền thông tin bài học theo một chiều, khơng có sự hỏi
đáp, thì thơng tin thu được của người học sẽ méo mó, sai lệch dẫn đến người
học hiểu sai bài.
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo nghĩa của công nghệ thông
tin là “phương pháp làm tăng giá trị lượng thông tin, trao đổi thông tin nhanh
hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”.
Với vai trò của CNTT đối với giáo dục, nhiều nước phát triển như Nhật,
Anh,…. Đã xác định việc ứng dụng CNTT trong nhà trường là một phần rất quan
trọng trong giáo dục. Vì vậy, họ sẽ xây dựng các trung tâm máy tính điện tử cho
các viện nghiên cứu, cho các trường học, các thư viện,…Việc sử dụng tin học
vào các trường phổ thông trên thế giới hiện nay được xem xét ở 2 góc độ:
- Thứ nhất: Máy tính là đối tượng dạy học (học sinh sẽ được học về máy tính).
- Thứ hai: Sử dụng máy vi tính như cơng cụ dạy học.
Tùy từng điều kiện cụ thể, mỗi nước có cách đi và phương hướng phát
triển riêng. Tuy nhiên, các nước trên đều có xu hướng chung là từng bước
vững chắc đưa nội dung tin học vào phổ thông nhằm nâng cao chất lượng dạy
học và sử dụng máy tính điện tử như cơng cụ trợ giúp cho dạy – học.
Cùng với sự phát triển của máy tính điện tử là sự phát triển của các phần
mềm hệ thống và ứng dụng. Đặc biệt trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây sự

Khi HS học lịch sử, giáo viên không thể tiến hành các thí nghiệm về lịch sử để
dựng lại quá khứ cho các em quan sát.
Theo quy luật nhận thức khách quan của con người, q trình nhận thức
nói chung và q trình nhận thức lịch sử nói riêng bao giờ cũng đi “từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng " và " từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn"; cái gì càng gần thì càng nhớ lâu, càng xa thì càng nhanh quên. Nhưng
HS học lịch sử lại đi từ xa đến gần: các em học từ thời nguyên thuỷ đến cổ đại,
trung đại, cận đại và hiện đại. Vậy chúng ta phải làm gì, bằng phương pháp và
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status