(Luận văn thạc sĩ) pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở việt nam - Pdf 70

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ VÂN HOÀI

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2004


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ VÂN HOÀI

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT
NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số:
601.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS Luật học Lê Thị Thu Thủy

Hà Nội - 2004



1.2. Khái niệm và mục tiêu của bảo hiểm tiền gửi

15

1.2.1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi

15

1.2.2. Mục tiêu của bảo hiểm tiền gửi

20

1.3. Vai trò và đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi

21

1.3.1. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi

21

1.3.2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi

26

1.3.3. Phân biệt bảo hiểm tiền gửi với các loại hình bảo hiểm khác

27

1.4. Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

2.2.1. Các quy định về tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

35

2.2.2. Các quy định về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

49

2.2.3. Các quy định về chủ thể được hưởng quyền lợi bảo hiểm

53

2.3. Các quy định về loại tiền gửi và hạn mức tiền gửi tối đa

59

đƣợc bảo hiểm, mức phí bảo hiểm tiền gửi
2.3.1. Các loại tiền gửi được bảo hiểm

59

2.3.2. Hạn mức tiền gửi tối đa được bảo hiểm

63

2.3.3. Mức phí bảo hiểm tiền gửi

66

2.4. Sự kiện bảo hiểm tiền gửi và thủ tục chi trả tiền bảo hiểm


78

về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
3.2.2. Về chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm tiền gửi

79

3.2.3. Về loại tiền gửi được bảo hiểm và hạn mức tiền gửi tối đa

86

được bảo hiểm, mức phí bảo hiểm tiền gửi
3.2.4. Về sự kiện bảo hiểm bảo hiểm tiền gửi và thủ tục chi trả tiền bảo

89

hiểm
3.2.5. Về cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh

93

trong lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi
3.3. Định hƣớng hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liên

94

quan
KẾT LUẬN




5

LỜI NĨI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX về Chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2001 - 2010 đã nhấn mạnh: "Phải đảm bảo sự phát triển an toàn,
lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ trong tồn bộ nền kinh tế", theo đó
nhiệm vụ trước mắt là "Hình thành đồng bộ khn khổ pháp lý, áp dụng đầy
đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong kinh doanh tiền
tệ- ngân hàng" 1,tr.197 . Để thực hiện nhiệm vụ này, việc nghiên cứu và
hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi - một thiết chế mới hình thành ở
Việt Nam về an toàn trong kinh doanh tiền tệ - ngân hàng là một việc làm hết
sức cần thiết.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động của ngân hàng đều phải
tuân thủ theo quy luật thị trường, những rủi ro trong hoạt động ngân hàng là
điều khó tránh khỏi, khơng chỉ đối với các nước chậm phát triển mà còn đối
với tất cả các quốc gia trên thế giới. Để đối phó lại vấn đề này, Chính phủ ở
nhiều quốc gia đã thực hiện các biện pháp hoặc hành động can thiệp nhằm
đưa hệ thống ngân hàng hoạt động trở lại trạng thái ổn định và phát triển lành
mạnh thông qua việc tăng cường các cơ chế phòng ngừa hữu hiệu. Một trong
những cơ chế phịng ngừa thơng dụng trên thế giới hiện nay là bảo hiểm tiền gửi.
Đối với những rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, nếu
khơng có các cơ chế phịng ngừa từ chính tổ chức tín dụng và trong chính
sách vĩ mơ của Nhà nước thì những rủi ro trong hoạt động ngân hàng đưa tới
là khơng thể lường hết được. Do tính đặc thù của hoạt động kinh doanh tiền tệ
- ngân hàng là kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác, tức là bằng tiền
đi vay để cho vay nên hậu quả của việc sụp đổ một ngân hàng không chỉ bó
gọn trong một ngân hàng riêng lẻ mà nó cịn có thể tạo ra phản ứng dây
chuyền dẫn tới sụp đổ cả hệ thống ngân hàng và chính điều này lại tác động

218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Sau văn


7

bản này là hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã
được ban hành để điều chỉnh hoạt động bảo hiểm tiền gửi.
Như vậy, cùng với sự ra đời của hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt
nam thì pháp luật về bảo hiểm tiền gửi cũng được hình thành nhằm điều chỉnh
các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi .
Tuy nhiên, vì đây là lĩnh vực hồn tồn mới nên pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi trong giai đoạn hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: các quy định
của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi chưa thống nhất, đồng bộ, chưa đầy đủ và
không rõ ràng nên đã gây khó khăn cho việc áp dụng các quy định về bảo
hiểm tiền gửi vào thực tiễn. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nghiên cứu
và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm tiền gửi cho thống nhất và đồng
bộ, tạo môi trường pháp lý đầy đủ cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Nam đạt được hiệu quả, thực hiện được mục tiêu trọng tâm là đảm bảo sự ổn
định cho cả hệ thống tài chính.
Với những lý do trên đây, chúng tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến bảo hiểm tiền gửi đến nay đã có một số cơng trình
nghiên cứu, báo cáo khoa học và một số bài báo tìm hiểu về hoạt động bảo
hiểm tiền gửi như: Luận án thạc sĩ kinh tế "Những giải pháp nhằm hồn
thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam" của tác giả Đào Văn Tuấn;
Luận án tiến sĩ kinh tế "Các giải pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi
ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh; Đề tài khoa học cấp ngành
"Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam"
của Viện Khoa học nghiên cứu Ngân hàng; một số khóa luận cử nhân luật

quy định này trong tổng thể hệ thống pháp luật về tài chính ngân hàng và sự
tác động của hệ thống pháp luật đối với thực tiễn hoạt động bảo hiểm tiền gửi.


9

Trong khuôn khổ Luận văn này, chúng tôi không đi sâu vào tìm hiểu tất
cả các vấn đề về bảo hiểm tiền gửi mà chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh
pháp lý, cơ sở lý luận, thực tiễn và nội dung pháp luật về bảo hiểm tiền gửi,
đồng thời có tham khảo quy định của một số nước trên thế giới về bảo hiểm
tiền gửi, chẳng hạn như pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của Mỹ, Đài Loan...
Trên cơ sở phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra những khuyến nghị c ụ
thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử
làm cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu và thực hiện đề tài này.
Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong việc nghiên cứu và thực
hiện Luận án gồm: phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp nhằm
làm sáng tỏ vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu đề tài.
6. Những đóng góp của đề tài
Với việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Nam", chúng tơi hy vọng góp phần vào việc nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, cụ thể:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về bản chất, đặc điểm, vai
trò của bảo hiểm tiền gửi cũng như sự cần thiết và yêu cầu của pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
- Nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể thực trạng pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi ở Việt nam. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tìm ra những điểm
tích cực và hạn chế của thực trạng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
- Đưa ra những khuyến nghị nhằm góp phần hồn thiện pháp luật về

đó vẫn chưa đủ tạo niềm tin cho người gửi tiền cũng như đảm bảo an toàn đến
mức cao nhất cho các tổ chức tín dụng. Bởi vì, trên thực tế mặc dù các tổ
chức tín dụng đã thực hiện những biện pháp bảo đảm an toàn mà pháp luật
đưa ra nhưng vẫn có rất nhiều tổ chức tín dụng bị phá sản và người gửi tiền có
nguy cơ mất trắng số tiền họ đã gửi vào tổ chức tín dụng hoặc chỉ thu lại
được một số tiền rất nhỏ. Những biện pháp bảo đảm đó vẫn chưa đủ tạo niềm
tin cho người gửi tiền - số đơng là những người gửi tiền với mục đích tiết
kiệm, có những người số tiền họ gửi vào ngân hàng là cả một gia tài đối với
họ. Chính vì vậy, cho dù đã đưa tiền gửi vào ngân hàng nhưng họ vẫn chưa
n tâm vì khơng biết liệu số tiền mình gửi đó được sử dụng như thế nào, nếu
ngân hàng phá sản thì có được trả lại tiền gửi hay khơng? Đó là nỗi lo lắng,
băn khoăn của hầu hết người gửi tiền, do tâm lý như vậy, chỉ cần một tác


12

động nhỏ hay một thông tin về biểu hiện bất thường của bất kỳ một tổ chức
tín dụng nào cũng có thể tạo ra một cuộc chạy đua đến ngân hàng để rút tiền
của những người gửi tiền. Người ta khơng chỉ rút tiền ra khỏi "ngân hàng có
vấn đề", mà sự nghi ngờ còn lan nhanh sang các ngân hàng khác đang hoạt
động lành mạnh và họ sẽ tìm cách rút tiền ra khỏi các ngân hàng khiến cho
các ngân hàng đó sẽ nhanh chóng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán,
nguy cơ đổ vỡ dây chuyền là khó tránh khỏi. Hơn nữa, với mong muốn cứu
vãn số tiền mà mình dành dụm được, những người gửi tiền có khả năng gây ra
những hành động q khích, có thể đẩy một quốc gia rơi vào tình trạng hỗn
loạn về kinh tế, an ninh xã hội và chính trị.
Nhận thức được rằng ổn định tài chính khơng những là lợi ích của
cơng chúng mà cịn có ý nghĩa quan trọng đối với cả nền kinh tế quốc gia nên
việc bảo vệ tiền gửi từ lâu đã được nhiều quốc gia quan tâm. Khi hoạt động
bảo hiểm tiền gửi cơng khai chưa ra đời thì bảo vệ tiền gửi đã được nhiều

việc bảo hiểm có mức đối với tiền gửi của cơng chúng trong hệ thống ngân hàng.
Tiếp theo FDIC, trong những năm 1960, trên thế giới có thêm 6 quốc
gia thành lập bảo hiểm tiền gửi, những năm 1970 có thêm 4 quốc gia thành
lập bảo hiểm tiền gửi. Đến thập kỷ 90, có tới 30 hệ thống bảo hiểm tiền gửi
được thành lập. Việc tu chỉnh các hệ thống bảo hiểm tiền gửi được thực hiện
phổ biến hơn kể từ khi có Chỉ thị Liên Minh Châu Âu năm 1994. Tính đến
đầu năm 2002, trên thế giới đã có 74 hệ thống bảo hiểm tiền gửi 45 , 46 .
Đặc biệt, ngày 6/5/2002 Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi Quốc tế được thành lập,
có trụ sở tại Thụy Sỹ với sự tham gia của nhiều hệ thống bảo hiểm trên thế
giới. Điều đó, đánh dấu tầm quan trọng của bảo hiểm tiền gửi đã được các
quốc gia cùng quan tâm và cùng phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi trên
tồn thế giới.
1.1.2. Các mơ hình bảo hiểm tiền gửi


14

Hiện nay, trên thế giới có nhiều mơ hình bảo hiểm tiền gửi, phù hợp với
nền tảng pháp luật và đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Song tựu
chung, có thể phân thành hai loại chính, bao gồm:
- Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính Nhà nước, ví dụ như ở
Mỹ, Canada...;
- Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tương hỗ nghề nghiệp tư, ví dụ như
ở Đức, Thụy Sỹ... ;
Ngồi hai mơ hình chủ yếu trên, có thể có những mơ hình khác được
kết hợp giữa hai loại này áp dụng theo nhiều mức độ ở nhiều nước khác nhau.
1.1.2.1. Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính Nhà nước
*Đặc trưng chủ yếu:
- Được Nhà nước cấp vốn ban đầu khi thành lập.
- Thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước chịu trách nhiệm giám sát,

chức tín dụng thành viên thực sự bị phá sản. Quá trình giải quyết khi có vụ
phá sản ngân hàng xảy ra thường phải tuân theo các thủ tục rườm rà, nghiêm
ngặt nên mất nhiều thời gian.
1.1.2.2. Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tương hỗ nghề nghiệp tư
*Đặc trưng chủ yếu:
- Khơng có sự hỗ trợ về vốn của Nhà nước khi thành lập mà vốn hoạt
động ban đầu chủ yếu do các thành viên góp vốn và bằng cách thu phí của các
thành viên như mơ hình bảo hiểm tiền gửi tư nhân của Đức, Ý, Hà Lan, Thụy Sỹ...
- Nhà nước không can thiệp trực tiếp mà chỉ định ra các điều kiện pháp
lý cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi thành lập và hoạt động. Tổ chức này thuộc
sở hữu của các ngân hàng thành viên trong một Hiệp hội, hoạt động mang
tính tương hỗ vì lợi ích chung của các thành viên khơng vì mục tiêu kinh
doanh chia lợi nhuận. Sự can thiệp này thể hiện quan tâm của từng thành viên
hiệp hội đến những người gửi tiền.


16

- Hiệp hội có thể quyết định một cách chủ động để cứu vãn tình hình
hoặc chủ động can thiệp trước khi một thành viên xảy ra tình trạng mất khả năng
trả nợ.
- Quy mơ can thiệp có giới hạn tùy theo mức độ phát triển của tổ chức
nhận bảo hiểm, song có cơ hội mở rộng tùy thuộc vào sự chủ động của Hiệp
hội và khả năng phát triển của hội viên.
- Hỗ trợ, giám sát mang tính tự quản với mục tiêu để tự cứu mình của
các ngân hàng thành viên.
*Ưu điểm:
Mơ hình này phát huy được quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm của
các tổ chức tín dụng thành viên, khơng dựa vào Nhà nước, vì vậy các tổ chức
tín dụng thành viên tự mình có ý thức giữ cho hoạt động của tổ chức mình lành

vay tiền. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, người gửi tiền và người vay tiền
khơng có mối liên hệ pháp lý nào. Họ chỉ biết có tổ chức tín dụng là "người
đối thoại" duy nhất, nên tổ chức tín dụng phải có trách nhiệm trả tiền cho
người gửi tiền và được tự mình sử dụng số tiền đó, muốn cho ai vay là tự
mình quyết định và tự chịu trách nhiệm đối với khoản vay đó.
Tiền gửi là thuật ngữ đã được sử dụng từ rất lâu, và việc nhận tiền gửi
được coi là một trong những nghiệp vụ đầu tiên của ngân hàng, nó gắn liền
với sự hình thành và phát triển của hoạt động Ngân hàng. Trước đây, thuật
ngữ tiền gửi chỉ được hiểu một cách đơn giản là các khoản tiền nhàn rỗi của
dân chúng nhưng không biết đầu tư vào đâu nên đem gửi vào ngân hàng để
tiết kiệm cũng như để đảm bảo an toàn tài sản. Sau này khi các nghiệp vụ
ngân hàng càng phát triển kéo theo sự phát triển của hàng loạt nghiệp vụ khác
như cho vay, thanh tốn thì những khoản tiền của dân chúng gửi tại Ngân
hàng đã được hưởng lãi.
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì hoạt động ngân
hàng cũng phát triển đa dạng, phong phú hơn về hình thức huy động các


18

nguồn vốn nhàn rỗi, dư thừa trong xã hội và đồng thời để động viên khuyến
khích việc gửi tiền vào ngân hàng thì các ngân hàng phải quy định mức lãi
suất phù hợp và hình thức trả lãi thỏa đáng phù hợp với từng hình thức huy
động, cung cấp các dịch vụ thanh tốn có chất lượng, hạch tốn nhanh chóng
chính xác kịp thời, đảm bảo nhu cầu thanh tốn bằng mọi hình thức khi khách
hàng có nhu cầu. Do đó, thuật ngữ tiền gửi cũng được hiểu rộng hơn và được
ghi nhận trong các văn bản pháp luật về tài chính ngân hàng của mỗi quốc gia
và ở mỗi quốc gia khác nhau lại có sự phân loại và định nghĩa khác nhau về
tiền gửi.
Chẳng hạn, Đạo luật 372 Luật về các tổ chức tài chính ngân hàng năm

khơng được coi là tiền gửi. Tuy nhiên, theo Luật sửa đổi và bổ sung một số
điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004 thì định nghĩa về tiền gửi đã có
sự thay đổi lớn về phạm vi gửi tiền và chủ thể gửi tiền, cụ thể “tiền gửi là số
tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có
hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc
không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền” (Điều 2 khoản 3).
Ngồi định nghĩa tại Luật các TCTD nói trên thì tại Nghị định số
70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ về giữ bí mật thơng tin liên
quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng gửi tại các TCTD cũng có
quy định về tiền gửi như sau: "Tiền gửi của khách hàng bao gồm tiền đồng
Việt Nam và các loại ngoại tệ của các tổ chức và cá nhân dưới hình thức tiền
gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn (kể cả tiền gửi tiết kiệm và các hình thức
tiền gửi khác)". Như vậy, cả hai định nghĩa nêu trên về tiền gửi theo các quy
định pháp luật hiện hành của Việt Nam đều không nêu được bản chất thế nào
là tiền gửi mà chỉ là định nghĩa mang tính liệt kê các loại tiền gửi mà thơi.
Qua phần dẫn chiếu ở trên có thể thấy pháp luật của mỗi quốc gia khác
nhau sẽ có các khái niệm khác nhau về tiền gửi. Tuy nhiên, có thể khái quát


20

khái niệm về tiền gửi một cách ngắn gọn như sau: Tiền gửi là các khoản tiền
của khách hàng gửi tại TCTD hoặc tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới
các hình thức được pháp luật cơng nhận.
Một trong những thông tin quan trọng mà công chúng cần là phải có
một định nghĩa khả thi, rõ ràng về tiền gửi để từ đó họ xác định khoản tiền
của họ có được bảo hiểm hay khơng. Do vậy, định nghĩa về tiền gửi cần phải
quy định rõ ràng trong văn bản pháp luật, chính sự định nghĩa rõ ràng, chính
xác và khả năng thực thi pháp luật có vai trị rất quan trọng để tạo ra sự ổn

người dân nghèo. Vì lo lắng sẽ bị ảnh hưởng khi có đổ bể ngân hàng và vì bị
hạn chế về khả năng có được thơng tin chính xác về hoạt động của các tổ
chức tín dụng nên tầng lớp người gửi tiền có thu nhập thấp thường hay có các
"ứng xử q đỗi" khi có thơng tin đồn đại thất thiệt về ngân hàng. Chẳng hạn,
khi có một thơng tin đồn đại xấu về ngân hàng nào đó thì họ có thể ồ ạt rút tất
cả tiền gửi tại ngân hàng khi mà nhu cầu chi tiêu chủ quan chưa nhất thiết
phải làm như vậy. Hiện tượng rút tiền ồ ạt vì một thơng tin thất thiệt ở Ngân
hàng Thương mại cổ phần Á Châu tại Việt Nam trong tháng 10/2003 là một
minh chứng cụ thể. Các hiện tượng đó nếu khơng được xử lý kịp thời có thể là
nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ ngân hàng hàng loạt và đây là một trong các
nhiệm vụ chính mà hoạt động bảo hiểm tiền gửi cần ngăn chặn.
1.3. Vai trò và đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi
1.3.1. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với quốc gia được thể hiện trên nhiều
góc độ. Nếu xuất phát từ bản chất của bảo hiểm tiền gửi là bảo hiểm rủi ro về
tiền gửi tại các ngân hàng thì vai trị nổi bật của bảo hiểm tiền gửi là có tác
dụng thúc đẩy sự kết hợp hài hòa giữa nỗ lực nâng cao chất lượng hoạt động
ngân hàng hướng tới thu hút được tối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
cộng đồng và sự cộng tác tích cực của các thành viên trong xã hội trên cơ sở
các bên cùng có lợi, từ đó tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Với ý nghĩa đó, bảo hiểm tiền gửi có các vai trị sau:



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status