ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN NGỌC DUY
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN XUÂN TOẢN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được cơng bố trong bất kỳ cơng
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tất cả các mơn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tơi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Ngọc Duy
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC Y TẾ TỪ NĂM 2005
ĐẾN NAY .......................................................................................... 43
2.1.
Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực y tế ............................................................................................... 43
2.1.1. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực y tế ............................................................ 43
2.1.2. Nội dung các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực y tế ............................................................................................... 48
2.2.
Thực trạng tổ chức hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực y tế ............................................................................. 53
2.2.1. Hệ thống tổ chức của thanh tra về y tế ............................................... 54
2.2.2. Đội ngũ thanh tra viên y tế ................................................................. 60
2.2.3. Điều kiện bảo đảm cho hoạt động thanh tra y tế ................................ 63
2.2.4. Phương thức và hiệu quả thanh tra y tế .............................................. 65
2.2.5. Kết quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế ................... 66
2.3.
Nguyên nhân, hạn chế việc xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực y tế ............................................................................. 69
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ
Trang
Bảng 2.1: Phân loại thanh tra viên, chuyên viên thanh tra và
tình hình cấp thẻ thanh tra viên
61
Bảng 2.2: Phân loại thanh tra viên, cán bộ thanh tra Sở Y tế
chuyên trách theo trình độ chun mơn
Bảng 2.3:
62
Trình độ chun mơn nghiệp vụ của cán bộ đảm
nhiệm công tác thanh tra y tế tại địa phương
63
Bảng 2.4: Kết quả xử phạt vi phạm hành chính về an tồn thực
phẩm trong 9 năm (2005 - 2013)
67
Bảng 2.5: Kết quả xử phạt vi phạm hành chính về dược trong 9
năm (2005 - 2013)
68
Bảng 2.6: Kết quả xử phạt vi phạm hành chính về khám bệnh,
chữa bệnh trong 9 năm (2005 - 2013)
văn cao học của mình.
1
2. Tình hình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực y tế
Trên thế giới các đề tài nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính nói
chung và có liên quan đến vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
y tế bói riêng đã được thực hiện trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, vấn đề xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế dường như vẫn chưa nhận được
sự quan tâm, nghiên cứu nhiều.
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có một số tác giả quan tâm
nghiên cứu đến vấn đề quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối
với ngành, lĩnh vực nói riêng nhưng lại ít nghiên cứu đến vấn đề xử phạt vi
phạm hành chính - một cơng cụ trong hoạt động quản lý nhà nước.
Với cấp độ luận văn thạc sỹ luật học, đây là cơng trình tập trung vào
nghiên cứu các vấn đề cả về lý luận và thực tiễn pháp luật liên quan đến hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu, luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực y tế để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế trong
thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến xử phạt vi phạm hành
chính nói chung và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế nói riêng.
- Đánh giá thực trạng soạn thảo, ban hành pháp luật và tổ chức triển
khai thi hành văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Quán triệt đường lối, quy định nghị quyết Đại hội
Đảng Cộng sản Việt Nam về cơng tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe
nhân dân trong tình hình mới.
3
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu tập
trung nghiên cứu, tham khảo, phân tích các sách, tài liệu, cơng trình nghiên
cứu khoa học, các số liệu khoa học đã được cơng bố ở trong và ngồi nước có
liên quan đến luận văn.
- Phương pháp khảo sát thực tiến: Để đánh giá thực trạng công tác xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế một cách khách quan, trung thực
và đánh giá tính khả thi của các giải pháp được xây dựng.
- Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác: Để tăng thêm độ tin cậy
của các thông tin đã thu thập được từ các phương pháp khác, Luận văn còn sử
dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như so sánh, quy nạp diễn giải và
tiến hành thu thập, phân tích ý kiến của các chun gia có kinh nghiệm về
quản lý, chính sách, pháp luật về y tế …
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo và
mục lục, nội dung của Luận văn được kết cấu thành 03 chương sau đây:
Chương 1. Cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
y tế.
Chương 2. Thực trạng hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực y tế từ năm 2005 đến nay.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực y tế.
5
bởi cá nhân nhưng dưới danh nghĩa tổ chức (do tổ chức giao, phân công hoặc
thực hiện hành vi nhân danh tổ chức đó). Các chủ thể thực hiện hành vi vi
phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành
chính. Theo quy định của pháp luật hiện hành, tổ chức vi phạm hành chính là
pháp nhân, tổ hợp tác và hộ gia đình theo quy định của Bộ luật dân sự thực
hiện hành vi vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức nước ngồi vi phạm hành
chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay
mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ Việt Nam thì bị xử phạt hành
chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Trách nhiệm pháp lý hành chính phát sinh như một tất yếu khách
quan, có nghĩa là khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính cá nhân, tổ chức
phải chịu những hình thức xử lý do pháp luật quy định. Trách nhiệm hành
chính tồn tại dưới hình thức các chế tài hành chính, thơng thường là phạt
tiền, cảnh cáo và có thể đồng thời còn áp dụng các biện pháp hành chính
khác. So với trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính phong phú hơn,
song ít nghiêm khắc hơn.
Ba là, mức độ nguy hiểm của hành vi thấp hơn tội phạm. Đây là dấu
hiệu cơ bản nhất để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm. Tuy nhiên,
tính chất và mức độ xâm hại của hành vi vi phạm hành chính mặc dù nguy
hiểm cho xã hội song chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định
tại Bộ luật hình sự.
Bốn là, pháp luật quy định hành vi đó phải bị xử phạt vi phạm hành
chính. Vi phạm hành chính cũng như mọi hành vi vi phạm pháp luật khác đều
xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Nói cách khác, khách
thể của vi phạm hành chính là quan hệ xã hội về quản lý nhà nước trong các
nhà nước nào được Nhà nước trao thẩm quyền xử lý hành chính và được ghi
7
rõ trong các văn bản pháp luật có quy định về xử lý hành chính mới có
quyền quyết định xử lý. Xử lý hành chính là phản ứng của Nhà nước trước
các hành vi xâm hại quy tắc quản lý nhà nước. Biểu hiện của phản ứng đó
chính là việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Việc áp dụng các biện
pháp xử phạt này có tác dụng trực tiếp điều chỉnh hành vi xử sự của con
người vi phạm, tức là buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi trước
Nhà nước và có tác dụng đình chỉ vi phạm hành chính qua đó mà bảo vệ và
duy trì trật tự quản lý nhà nước.
Hai là, cơ sở để xử phạt hành chính là vi phạm hành chính. Chỉ có hành
vi nào xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức phải truy cứu
trách nhiệm hình sự do các cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với
lỗi cố ý hay vơ ý mới bị xử phạt hành chính. Đặc điểm có tính ngun tắc trên
đây đã được khẳng định tại Điểm d Khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành
chính: "Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính
do pháp luật quy định".
Từ quy định trên, khi áp dụng các biện pháp xử phạt đòi hỏi các cơ
quan hoặc cán bộ nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có vi phạm hành
chính xảy ra hay khơng, tính chất và mức độ của vi phạm như thế nào, hành vi
vi phạm đó có quy định trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành
chính hay chưa.
Ba là, hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành qua nhiều khâu,
nhiều giai đoạn nhưng kết quả của hoạt động này phải được thể hiện bằng
quyết định xử phạt hành chính. Trong xử phạt hành chính, các chủ thể có
thẩm quyền tiến hành xử phạt luôn được thực hiện hai loại hành vi: 1- hành vi
ban hành quyết định xử phạt. Quyết định xử phạt hành chính phải được thể
quyết số 46-NQ/TW ngày 23/ 02/2005 của Bộ Chính trị về cơng tác bảo vệ,
9
chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Nghị quyết Đại
hội Đảng tồn quốc lần thứ X và các văn kiện khác của Đảng đã chỉ ra là:
Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khỏe, tăng
tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nịi, góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống
chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen
giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng u cầu cơng nghiệp hố,
hiện đại hố, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [1, tr.3].
Từ khái niệm vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật hành chính cùng
với những phân tích ở trên có thể hiểu khái niệm vi phạm hành chính trong
lĩnh vực y tế như sau: vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế là những hành
vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế mà không phải là tội phạm và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Vi phạm các quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế được quy
định cụ thể tại Điều 1 của Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 (sau
đây viết tắt là Nghị định 176/2013/NĐ-CP) của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, Điều 1 Nghị định số 178/2013/NĐ-CP
ngày 14/11/2013 (sau đây viết tắt là Nghị định 176/2013/NĐ-CP) của Chính
phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an tồn thực phẩm và các văn bản
pháp luật khác có quy định hành vi và chế tài xử phạt mà văn bản đó có xác lập
thẩm quyền xử phạt cho cơ quan y tế, bao gồm:
+ Vi phạm các quy định về y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS;
+ Vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh;
+ Vi phạm các quy định về dược, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế;
+ Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về
dân số là 30.000.000 đồng đối với cá nhân và 60.000.000 đồng đối
với tổ chức.
+ Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về
11
y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS là 50.000.000 đồng đối
với cá nhân và 100.000.000 đồng đối với tổ chức.
+ Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về
bảo hiểm y tế là 75.000.000 đồng đối với cá nhân và 150.000.000
đồng đối với tổ chức.
+ Mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm hành chính về
khám bệnh, chữa bệnh, dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế và an toàn
thực phẩm là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng
đối với tổ chức [19, Khoản 1, 2, 3, 4, Điều 1].
- Chính phủ ban hành các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật xử
phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước (51 Nghị định),
trong đó có lĩnh vực quản lý nhà nước về y tế, các nghị định quy định về chế
độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Cụ thể như Nghị định số
176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực y tế, Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày
14/11/2014 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an tồn
thực phẩm, Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2014 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch
và quảng cáo, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất,
buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng...
Hai là, vi phạm pháp luật hành chính diễn ra phổ biến hàng ngày, hàng
xử lý hành chính. Điều này đã cho thấy, việc ban hành quy định xử phạt vi
phạm hành chính chỉ thuộc về thẩm quyền của cơ quan Nhà nước ở trung
ương, các cơ quan nhà nước ở địa phương có trách nhiệm thực hiện những
quy định, xử phạt vi phạm hành chính về y tế do các cơ quan quản lý nhà
nước ở Trung ương quy định.
Bốn là, khi thực hiện xử phạt vi phạm pháp luật hành chính, người có
13
thẩm quyền xử phạt chỉ được thực hiện quyền xử phạt của mình trong phạm
vi mà pháp luật đã quy định.Trong trường hợp quyết định xử phạt hoặc quyết
định áp dụng biện pháp hành chính khác vượt thẩm quyền được pháp luật quy
định cho phép là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý. Ví dụ như khoản 1 Điều
46 của Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
1. Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh
tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực
tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá
500.000 đồng;.... [32, Khoản 1, Điều 46].
Năm là, kết quả của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y
tế thể hiện ở các quyết định xử phạt hành chính, quyết định áp dụng các biện
pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra. Việc quyết định áp
dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành
chính thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ
chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, qua đó giáo dục ý thức tuân thủ
pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế.
Biện pháp xử lý hành chính khác trong lĩnh vực y tế như các biện pháp
khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính về y tế gây ra. Về bản chất, biện
chênh lệch do kê khai sai hoặc khoản tiền nộp chậm; Buộc hoàn trả chi phí
khám bệnh, chữa bệnh theo phạm vi quyền lợi và mức hưởng bảo hiểm y tế
mà đối tượng đã phải tự chi trả. Trường hợp khơng hồn trả được cho đối
tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước; Buộc xóa bỏ, gỡ bỏ nội dung về
phương pháp để có được giới tính thai nhi theo ý muốn; Buộc tháo dụng cụ tử
cung, thuốc cấy tránh thai; Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu
hồi thẻ nhân viên tiếp cận cộng đồng, thẻ bảo hiểm y tế, số tiếp nhận phiếu
công bố, rút số đăng ký lưu hành thuốc [19, Điều 3]; Buộc thực hiện kiểm tra
15
vệ sinh thú y đối với sản phẩm động vật trên cạn chưa qua kiểm tra vệ sinh
thú y trước khi sản xuất, chế biến thực phẩm; Buộc chuyển đổi mục đích sử
dụng hàng hóa vi phạm; Buộc hủy bỏ kết quả kiểm nghiệm được thực hiện từ
mẫu thực phẩm bị đánh tráo hoặc giả mạo hoặc phiếu kết quả kiểm nghiệm
được cấp sai quy định; Buộc tiêu hủy giấy tờ giả; Buộc chịu mọi chi phí cho
việc xử lý ngộ độc thực phẩm, khám, điều trị người bị ngộ độc thực phẩm
trong trường hợp xảy ra ngộ độc thực phẩm [20, Khoản 3 Điều 3].
1.1.3. Vai trò của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế
Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế là một bộ
phận của pháp luật xử lý vi phạm hành chính, và là tổng thể các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh do có hành vi vi phạm hành chính về y tế, bao gồm các quy phạm quy
định hình thức xử phạt vi phạm và một số biện pháp xử lý hành chính trong
lĩnh vực y tế.
Với tư cách là một yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có
vai trị quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội. Điều
này được thể hiện cụ thể đối với pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong
Các chủ thể được nhà nước trao cho thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính và được ghi rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Việc xử phạt vi
phạm hành chính được giao cho nhiều chức danh cụ thể có thẩm quyền khác
nhau thực hiện theo quy định của pháp luật.
Các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong tất cả các
lĩnh vực quản lý nhà nước gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, chiến sĩ
Công an nhân dân đang thi hành công vụ, trạm trưởng, đội trưởng, trưởng
Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu,
khu chế xuất, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở Cảnh sát phòng cháy,
chữa cháy, Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục trưởng Cục An ninh
kinh tế, Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng, Cục trưởng Cục An ninh
17
thông tin, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục
trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh
sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục trưởng Cục
Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông
đường bộ, đường sắt, Cục trưởng Cục Cảnh sát đường thủy, Cục trưởng Cục
Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn, Cục trưởng Cục Cảnh
sát bảo vệ, Cục trưởng Cục Theo dõi thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp,
Cục trưởng Cục Cảnh sát phịng chống tội phạm về mơi trường, Cục trưởng
Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Cục trưởng Cục
Quản lý xuất nhập cảnh, Chiến sĩ Bộ đội biên phịng đang thi hành cơng vụ,
Trạm trưởng, Đội trưởng, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Hải đội trưởng Hải
đội biên phòng, Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng, Chỉ huy trưởng biên
phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng cấp tỉnh, Chỉ huy
trưởng Hải đồn biên phịng trực thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Cảnh
sát viên Cảnh sát biển đang thi hành công vụ, Tổ trưởng Tổ nghiệp vụ Cảnh
bức xạ và hạt nhân, Chánh thanh tra Ủy ban chứng khoán Nhà nước; Chi cục
trưởng Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục trưởng Chi cục Dân số Kế hoạch hóa gia đình thuộc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục về bảo vệ thực
vật, thú y, thủy sản, quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, thủy lợi, đê
điều, lâm nghiệp, phát triển nông thôn thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Giám đốc Trung tâm Tần số khu vực và các chức danh tương
đương được Chính phủ giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, Cục
trưởng Cục Dự trữ Nhà nước khu vực, Cục trưởng Cục Thống kê, Cục trưởng
Cục kiểm sốt ơ nhiễm, Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và các chức danh tương đương được Chính phủ giao thực
hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, Chánh Thanh tra bộ, cơ quan ngang
bộ, Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Tổng cục trưởng Tổng
cục Thống kê, Tổng cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng,
19
Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi,
Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản,
Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Tổng cục trưởng Tổng
cục Môi trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, Giám đốc Kho
bạc Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Tổng cục trưởng
Tổng cục Dự trữ Nhà nước, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch
hóa gia đình, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài,
Trưởng Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Trưởng Ban Tơn giáo Chính
phủ, Cục trưởng Cục Hóa chất, Cục trưởng Cục Kỹ thuật an tồn và mơi
trường cơng nghiệp, Cục trưởng Cục Đường sắt Việt Nam, Cục trưởng Cục
Đường thủy nội địa Việt Nam, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, Cục
trưởng Cục Hàng khơng Việt Nam, Cục trưởng Cục An tồn bức xạ và hạt
nhân, Cục trưởng Cục Thú y, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, Cục trưởng
Cục Trồng trọt, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Cục trưởng Cục Quản lý chất