Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Chuyên đề tốt nghiệp
Một số giải pháp góp phần xây dựng
chiến lược kinh doanh tại cty TNHH
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
- 1 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Mở đầu
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh của nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay một
doanh nghiệp muốn thành công không thể bị động trước những thay đổi của môi
trường. Một doanh nghiệp muốn thành công chắc chắn phải biết mình đang làm
gì ?, mình sẽ làm gì ? và nếu làm như vậy thì kết quả sẽ là gì ?. Để trả lời được
những câu hỏi trên đòi hỏi phải có những kiến thức nhất định chứ không phải
bằng cảm tính một cách chủ quan.
Đã từ lâu các doanh nghiệp nước ngoài đã có được tầm nhìn xa và rộng
trong kinh doanh và họ đã chứng tỏ sự thành công của họ bằng việc chiếm lĩnh
được phần lớn các thị trường “béo bở” tại các nước sở tại. Tuy nhiên, đối với
các doanh nghiệp Việt Nam, vấn đề bị động trước biến động của môi trường,
chậm biến đổi, không có tầm nhìn xa vẫn luôn tồn tại ở nhiều doanh nghiệp. Tại
sao các doanh nghiệp nước ngoài lại có được một sự linh hoạt trong kinh doanh
đến như vậy? Câu trả lời đó là hầu hết các doanh nghiệp nước ngoài khi bước
chân vào một thị trường mới đều được trang bị những chiến lược kinh doanh
nhất định.
Chính vì những lý do trên, cho nên việc tiếp xúc với những kiến thức về
chiến lược kinh doanh là vô cùng cần thiết đối với các doanh nghiệp Việt Nam
nói chung và các doanh nghiệp thuộc ngành thương mại nói riêng.
những tư tưởng chiến lược đã hình thành tại Công ty TNHH Dịch vụ Hỗ trợ
Doanh nghiệp.
Chương III: Một số biện pháp nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh
tại Công ty TNHH Dịch vụ Hỗ trợ Doanh nghiệp đến năm 2010.
- 3 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Do thời gian có hạn và trình độ hạn chế, chắc chắn chuyên đề còn có
nhiều sai sót, em rất mong nhận được sự phê bình và góp ý để có thể hoàn chỉnh
hơn .
chương i
Lý luận chung về xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
I. chiến lược kinh doanh và quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp:
1. Các quan điểm về chiến lược:
Thuật ngữ chiến lược xuất hiện cách đây khá lâu nó có nguồn gốc từ trong
lĩnh vực quân sự và bắt nguồn từ nước Hy lạp cổ đại. Chiến lược ra đời và phát
triển gắn liền với các cuộc chinh phạt của các đế quốc và nó được coi như là một
nghệ thuật để dành phần thắng trong cuộc chiến. Nguồn gốc quân sự của khái
niệm được thể hiện ngay trong định nghĩa cổ điển nhất của thuật ngữ này :
Theo từ điển di sản văn hoá Mỹ, chiến lược được định nghĩa như là một
“Khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân sự, được ứng dụng để lập tổng thể và tiến
hành những chiến dịch quy mô lớn”.
Và từ điển Larouse thì cho rằng: “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các
phương tiện để chiến thắng”.
Trong lĩnh vực kinh tế, sau cuộc chiến tranh thế giới lần II, nền kinh tế thế
giới phục hồi một cách nhanh chóng, môi trường kinh doanh biến đổi vô cùng
mạnh mẽ. Hoạt động kinh doanh lúc này không có tính manh mún, sản xuất quy
mô nhỏ và sản xuất thủ công như trước đây. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
luôn là một kết quả của quá trình kế hoạch có tính toán, dự tính từ trước. Thời
gian đầu quan điểm này đã được sự ủng hộ của các nhà nghiên cứu cũng như các
nhà quản trị. Tuy nhiên, môi trường kinh doanh ngày càng biến đổi một cách
nhanh chóng và phức tạp, việc ra chiến lược vốn khó khăn nay lại càng khó
khăn thêm. Việc xây dựng chiến lược theo phương pháp kế hoạch hoá cũng
không còn phù hợp nữa. Vì thực tế đã chứng minh rằng đôi khi có những kế
hoạch chính thức được xây dựng cụ thể lại không thành công, bởi thế cần có
những kế hoạch đối phó trong quá trình kinh doanh. Chính vì vậy, các quan
điểm truyền thống đã bộc lộ những yếu điểm của nó. Bản chất của chiến lược là
một khoa học và là một nghệ thuật để đạt được mục tiêu cũng không được
khẳng định.
Trong bối cảnh đó các quan điểm về chiến lược hiện đại ra đời dần thay
thế các quan điểm chiến lược truyền thống. Các quan điểm chiến lược hiện đại
đã cố gắng trở lại với bản chất của thuật ngữ chiến lược đồng thời vẫn đảm bảo
sự thích nghi của thuật ngữ này với môi trường kinh doanh đang biến động. Do
đó, các quan điểm chiến lược hiện đại không nhấn mạnh vào việc tính toán,
hoạch định mà nhấn mạnh vào việc lựa chọn các chiến lược phù hợp với mục
tiêu của tổ chức đặt ra.
Rõ ràng rằng để có một định nghĩa đơn giản về chiến lược không phải là
một vấn đề dễ dàng. Tuy nhiên, vấn đề có thể được giải quyết nếu chúng ta đi
vào nghiên cứu từng nhân tố của chiến lược, những nhân tố này có giá trị bao
trùm đối với bất cứ một tổ chức nào. Dù thế nào chăng nữa, các nhân tố này vẫn
phụ thuộc chặt chẽ vào bối cảnh của từng doanh nghiệp, các thành viên của
- 5 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
doanh nghiệp đó cũng như cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp đó. Để xác định
được một định nghĩa chung về chiến lược, một việc làm cần thiết là nên xem
khái niệm chiến lược tách rời ra khỏi quá trình lập chiến lược. Đầu tiên cần giả
và việc gì không nên làm trong thời kỳ kế hoạch. Vì kế hoạch thường được xây
dựng trong thời kỳ ngắn hạn, kế hoạch được xây dựng trên những căn cứ chính
xác, các số liệu cụ thể và có thể dự đoán khá chính xác. Còn chiến lược được
xây dựng trong thời kỳ dài, các dữ liệu rất khó dự đoán, hơn thế nữa trong thời
kỳ kinh tế hiện đại, môi trường kinh doanh luôn biến đổi, việc thực hiện chính
- 6 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
xác việc gì phải làm trong thời gian dài là một việc không thể thực hiện. Chính
vì vậy, chiến lược luôn chỉ mang tính định hướng. Khi triển khai chiến lược có
chủ định và chiến lược phát khởi trong quá trình kinh doanh, giữa mục tiêu
chiến lược và mục tiêu tình thế. Thực hiện chiến lược cần luôn phải uyển chuyển
không cứng nhắc.
+ Chiến lược kinh doanh luôn có tư tưởng tấn công dành thắng lợi trên
thương trường. Chiến lược được hoạch định và thực thi dựa trên sự phát hiện và
sử dụng các cơ hội kinh doanh, các lợi thế so sánh của doanh nghiệp nhằm đạt
được hiệu quả kinh tế cao.
+ Chiến lược kinh doanh xác định rõ phạm vi cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Rõ ràng rằng mối quan tâm lớn nhất trong việc hình thành chiến lược
chính là việc xác định rõ lĩnh vực kinh doanh nào doanh nghiệp có dự định tham
gia, nó đòi hỏi các nhà lập định chiến lược phải chỉ rõ được những vấn đề như:
tỷ lệ tăng trưởng, đa dạng hoá và tiến hành các hoạt động đầu tư.
Một vấn đề then chốt của đặc điểm này đó là xác định rõ phạm vi kinh
doanh của doanh nghiệp. Đây là một bước đi quan trọng của doanh nghiệp trong
việc phân tích môi trường kinh doanh, định hướng chiến lược, phân bổ nguồn
lực, và quản trị danh mục đầu tư. Hai câu hỏi cơ bản cần đặt ra đó là:
Chúng ta đang kinh doanh cái gì ? và chúng ta nên kinh doanh cái gì?
Đây là một vấn đề tương đối phức tạp vì quá trình phân đoạn thị trường có
hướng và biện pháp để đạt tới cái đích đó.
+ Chiến lược cấp kinh doanh (lĩnh vực): được xây dựng cho một ngành
kinh doanh chuyên môn hoá hẹp. Trong trường hợp công ty chỉ tham gia kinh
doanh trên một lĩnh vực thì chiến lược kinh doanh cũng là chiến lược cấp công
ty.
+ Chiến lược cấp chức năng: đây là chiến lược của từng chức năng riêng
biệt trong công ty như: tài chính, marketing, nhân sự... có thể xem các chiến
lược cấp chức năng là chiến lược hỗ trợ nhằm thực hiện thành công chiến lược
cấp kinh doanh và chiến lược cấp công ty.
3.2. Phân loại chiến lược kinh doanh theo nội dung chiến lược:
Căn cứ vào nội dung của các chiến lược, các nhà quản lý người Pháp cho
rằng chiến lược kinh doanh bao gồm các loại:
+ Chiến lược thương mại: là chiến lược áp dụng cho toàn bộ các hoạt động
thương mại của công ty từ việc thu mua cung cấp các yếu tố đầu vào đến việc
phân phối tiêu thụ các sản phẩm đầu ra của công ty đó.
+ Chiến lược công nghệ và kỹ thuật: định hướng cho công tác nghiên cứu
phát triển đổi mới công nghệ, sản phẩm... trong điều kiện khoa học công nghệ
phát triển như hiện nay thì chiến lược công nghệ và kỹ thuật đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp đây chính là công cụ hữu ích tạo lợi
thế cạch tranh cho doanh nghiệp.
+ Chiến lược tài chính: bao gồm các định hướng về quy mô nguồn hình
thành và hiệu quả hình thành các định hướng đầu tư.
+ Chiến lược con người: thể hiện phương hướng, biện pháp huy động và
sử dụng nguồn nhân lực nhằm thực hiện thành công các bộ phận chiến lược trên.
- 8 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
3.3. Phân loại chiến lược kinh doanh theo quá trình chiến lược:
Chiến lược kinh doanh bao gồm:
thể làm lệch pha và làm triệt tiêu sự phát triển lâu dài. Chính chiến lược với các
mục tiêu chiến lược sẽ đem lại cho các nhà quản trị một định hướng dài hạn. Và
như vậy, việc giải quyết các vấn đề ngắn hạn trong khuôn khổ của định hướng
dài hạn sẽ đem lại sự phát triển vững chắc cho doanh nghiệp. Các mục tiêu dài
hạn cũng là cơ sở quan trọng cho các mục tiêu ngắn hạn.
- 9 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
+ Chiến lược góp phần đảm bảo cho việc thống nhất và định hướng các
hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình tồn tại và phát triển, với xu hướng
phân công lao động ngày càng mạnh mẽ theo cả chiều sâu và bề rộng, chính vì
vậy các công việc của tổ chức được thực hiện ở nhiều bộ phận khác nhau. Sự
chuyên môn hoá đó cho phép nâng cao hiệu quả của công việc, tuy nhiên các bộ
phận chỉ quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của bộ phận mình làm và lại thiếu
sự liên kết tổng thể và thường không đi theo mục tiêu chung của tổ chức. Chính
vì thế có khi các hoạt động lại cản trở nhau gây thiệt hại cho mục tiêu của tổ
chức, đó là nguyên nhân của tình trạng thiếu một chiến lược của tổ chức. Do đó
chiến lược góp phần cung cấp một quan điểm toàn diện và hệ thống trong việc
xử lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn kinh doanh nhằm tạo nên một sức
mạnh cộng hưởng của toàn bộ các bộ phận, các cá nhân trong doanh nghiệp
hướng tới một mục tiêu duy nhất đó là mục tiêu chung của doanh nghiệp.
+ Chiến lược giúp cho các doanh nghiệp, các tổ chức nắm bắt được các cơ
hội thị trường và tạo thế cạnh tranh trên thương trường.Thống nhất quá trình
hoạt động nhằm đạt đến các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược của doanh nghiệp,
và như vậy sẽ thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hữu hạn có hiệu
quả nhất. Do đó các doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhanh nhất các cơ hội
trên thương trường, tận dụng tối đa khả năng sẵn có để tạo ra các lợi thế cạnh
tranh mới.
Những vai trò cơ bản của chiến lược đã khẳng định sự cần thiết khách
Như ta đã biết, rõ ràng rằng trên thực tế các nhà thiết lập chiến lược khi
tìm kiếm các giải pháp và quyết định sự lựa chọn phải dựa trên cơ sở hiểu được
rõ những gì doanh nghiệp dự định làm. Các nhà thiết lập chiến lược phải đối mặt
với rất nhiều đòi hỏi khác nhau mà những người đưa ra những đòi hỏi này tin
rằng sự ra đời của doanh nghiệp là nhằm phục vụ lợi ích của họ. Các đòi hỏi
này xuất phát từ phía cổ đông, người lao động, nhà cung ứng, khách hàng, chính
phủ, và các cộng đồng. Chính vì thế, các đòi hỏi này phải được đánh giá, xắp
xếp theo trình tự ưu tiên, vì vậy nó có vai trò định hướng hoạt động quá trình ra
quyết định của tổ chức. Xác định mục tiêu của tổ chức không phải là vấn đề
mang tính lý thuyết đơn thuần, đó là vấn đề mà các nhà lập chiến lược phải đối
đầu thường xuyên. Do đó, việc tìm hiểu về vấn đề này là rất cần thiết cho các
nhà thiết lập chiến lược và cả những người nghiên cứu.
- 11 -
Hình th nhà
(quyết định l m gì)à
Thực hiện
( đạt tới kết quả)
Xác định cơ hội v rà ủi ro
Xác định nguồn lực về vật
tư, kỹ thuật, t i chính, v à à
quản lý của doanh nghiệp
Các giá trị con người v à
quyết tâm của ban lãnh
đạo
Khẳng định trách nhiệm
phi kinh tế với xã hội
Chiến lược
công ty:
Kiểu mục
tiêu v à
Sứ mệnh của tổ chức bao gồm tất cả các quan điểm cơ bản của giai đoạn xuất
phát và nó sẽ định hướng tổ chức theo một hướng nhất định (Latin Mittere to
send; Cumming and Davies, 1994). Mục tiêu của tổ chức là điểm quan trọng
nhất của giai đoạn mở đầu cho sự hình thành chiến lược, và nó chịu sự ảnh
hưởng rất mạnh bởi các giá trị văn hoá thuộc tổ chức đó (Mc Coy,1985; Collins
and Porras, 1994). Một số quan điểm khác cho rằng tham vọng cạnh tranh và sự
chủ định là bộ phận quan trọng của sứ mệnh của tổ chức. Theo Campbell và
Yeung thì sứ mệnh tập hợp tất cả các nhân tố thành một khuôn khổ thống nhất.
Thông thường việc xác lập một bản tuyên bố sứ mệnh là một tiến trình
liên tục trải qua sáu bước cơ bản:
Bước 1: Hình thành ý tưởng ban đầu về sứ mệnh kinh doanh.
Bước 2: Khảo sát môi trường bên ngoài và nhận định các điều kiện nội bộ.
Bước 3: Xác định lại ý tưởng về sứ mệnh kinh doanh.
Bước 4: Tiến hành xây dựng lại bản sứ mệnh của công ty .
Bước 5: Tổ chức thực hiện bản sứ mệnh của công ty.
Bước 6: Xem xét và điều chỉnh bản sứ mệnh.
Khi xây dựng bản sứ mệnh không những cần xem xét mong muốn của
người chủ sở hữu, nhà lãnh đạo mà còn phải chú ý tới các nhân tố bên trong và
bên ngoài công ty.
1.2. Xác định mục tiêu chiến lược:
Mục tiêu chỉ rõ định hướng cần theo đuổi. Nó ảnh hưởng tới các loại hoạt
động của doanh nghiệp. Chẳng hạn tăng 15% thị phần đòi hỏi cần có các hành
động khác nhau cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất. Mục tiêu cũng là một
nguồn kích thích. Đạt doanh thu 1 tỷ vào năm sau có thể là thách thức đối với
doanh nghiệp. Cuối cùng, mục tiêu được sử dụng như một công cụ đánh giá và
kiểm soát. Nó cho phép kiểm tra xem kết quả đặt ra có phù hợp với những yêu
cầu đưa ra hay không (ví dụ: liệu việc giao hàng có thể rút ngắn lại trong vòng 2
- 12 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
người đứng đầu trên thị trường kinh doanh thương mại sẽ dẫn đến nhiều lý giải
đối với hoạt động của một công ty, thậm chí các lý giải trái ngược nhau. Tiếp
đến mục tiêu phải có đặc tính riêng, một sự hình thành mục tiêu theo kiểu chung
chung như tăng 5% thị phần sẽ không huy động tối đa nguồn lực. Tăng thị phần
của công ty bằng mọi cách hay chỉ dựa vào một loại hình kinh doanh đặc trưng
nào đó mà thôi. Một mục tiêu đòi hỏi phải có tính hiện thực (tính khả thi) một
mục tiêu không đảm bảo tính khả thi sẽ làm giảm sự hứng thú của mọi thành
viên của tổ chức.
- 13 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Xác định mục tiêu cho từng giai đoạn vừa phải căn cứ vào bản tuyên bố
sứ mệnh vừa phải tính đến sự tác động của các yếu tố khách quan khác. Đó là
các yếu tố bên trong và bên ngoài công ty.
* Các yếu tố bên trong:
+ Khả năng của công ty là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới việc xác định
mục tiêu của tổ chức. Tính những khả năng về nhân tài vật lực là nhân tố quyết
định tính khả thi của mục tiêu lựa chọn. Hệ thống mục tiêu cần được xây dựng
sao cho tận dụng hết được khả năng hiện có nhưng không thể vượt quá khả năng
hiện có.
+ Quan điểm của những người đứng đầu công ty: Như ta đã biết mục tiêu
chiến lược nói riêng hay hệ thống mục tiêu nói riêng bao giờ cũng được xây
dựng bởi những người lãnh đạo công ty. Chính vì thế nhân tố chủ quan trong
việc xây dựng chúng là không thể tránh khỏi .
+ Thành quả của công ty trong quá khứ nó mang lại điều kiện để thực
hiện hệ thống mục tiêu hiện tại, vì thành quả bao giờ cũng đi kèm theo nó là
những kinh nghiệm thực tế hết sức quý báu.
+ Người sở hữu công ty hay các nhân viên: Việc hình thành mục tiêu luôn
bị chi phối và ảnh hưởng của nhóm người này. Người sở hữu là những người tài
dài và mang tính bước ngoặt trong quá trình phát triển.
* Môi trường vĩ mô:
Môi trường vĩ mô bao gồm nhiều nhân tố khác nhau tác động một cách
gián tiếp lên hoạt động của doanh nghiệp thông qua sự tác động của nó lên các
yếu tố thuộc môi trường ngành. Trong đó có năm nhân tố được các nhà quản trị
đánh giá là nhân tố tác động mạnh nhất đó là nhân tố kinh tế, thể chế, pháp lý,
công nghệ xã hội và tự nhiên.
+ Nhân tố kinh tế: Các nhân tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến các
doanh nghiệp và nhân tố kinh tế cũng là nhân tố vận động một cách thường
xuyên nhất, khó dự đoán nhất trong số các nhân tố vĩ mô. Sự vận động của nó
luôn chứa đựng cả cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp. Trong đó nổi
bật hơn cả là xu hướng vận động của:
- Xu hướng tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân: xu hướng
này tác động trực tiếp đến tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, đến sự tăng trưởng
của thu nhập khả dụng của dân cư. Nó sẽ làm thay đổi nhu cầu của người tiêu
dùng, quy mô của thị trường tiêu thụ, ảnh hưởng đến cán cân cung cầu sản
phẩm.
- Lãi xuất là yếu tố tác động đến xu thế tiết kiệm tiêu dùng và đầu tư; nó
làm cho nhu cầu tiêu dùng tăng hay giảm, kích thích hoặc hạn chế đầu tư mở
rộng sản xuất.
- Tỷ lệ lạm phát: ảnh hưởng đến khả năng dự đoán của các nhà đầu tư khi
lạm phát lên cao thì dự đoán sẽ trở nên khó khăn hơn đầu tư sẽ mang nhiều rủi
ro hơn. Do đó đầu tư giảm, sản lượng giảm và tác động tới cạnh tranh trong
ngành. Cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái: ảnh hưởng tới thị trường và quan hệ
kinh tế đối ngoại của doanh nghiệp; đôi khi dẫn đến sự thay đổi trạng thái kinh
tế nói chung.
Các chính sách kinh tế thể hiện quan điểm của chính phủ trong việc phát
triển ngành.
+ Nhân tố thể chế và pháp lý:
- 15 -
- 16 -
Các đối thủ tiềm t ngà
Các đối thủ cạnh tranh
trong ng nhà
Mật độ của các nhà
cạnh tranh
Nh cungà
cấp
Người mua
Sản phẩm thay thế
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
- Đối thủ tiềm tàng: là những công ty hiện chưa tham gia cạnh tranh trong
ngành nhưng có khả năng sẽ thâm nhập vào ngành. Sự xuất hiện của các đối thủ
này sẽ làm tăng cường độ cạnh tranh, giảm lợi nhuận trong ngành. Khả năng
thâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn phụ thuộc vào các rào cản thâm nhập ngành.
Nếu rào cản thâm nhập lớn thì khả năng thâm nhập giảm và ngược lại. Theo joe
Bain có ba rào cản chính cản trở sự thâm nhập là: sự trung thành của khách hàng
đối với sản phẩm của công ty, lợi thế tuyệt đối về chi phí, lợi thế kinh tế theo
quy mô. Nếu doanh nghiệp có chiến lược nhằm nâng cao các rào cản thâm nhập
ngành thì sẽ hạn chế được nguy cơ do sự thâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn.
- Các đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Các đối thủ cạnh tranh là áp lực thường xuyên và đe doạ trực tiếp đến các
công ty. Sự cạnh tranh của các công ty hiện có trong ngành càng tăng thì càng
đe doạ đến khả năng thu lợi, sự tồn tại và phát triển của công ty. Vì chính sự
cạnh tranh này buộc công ty phải tăng cường chi phí đầu tư nhằm khác biệt hoá
sản phẩm, dịch vụ tiếp cận thị trường hoặc giảm giá thành. Cường độ cạnh tranh
trong ngành thường phụ thuộc vào các yếu tố :
* Số lượng và khả năng của các công ty trong ngành:
vụ ít có tính khác biệt hoá, khách hàng mua, sử dụng với số lượng lớn, số lượng
khách hàng ít, người mua, sử dụng có đầy đủ thông tin...
Nhà cung cấp: nhà cung cấp có thể gây áp lực cho công ty thông qua yêu
cầu tăng giá hoặc giảm chất lượng các yếu tố đầu vào của công ty. Nó trực tiếp
ảnh hưởng đến giá thành và chất lượng sản phẩm, dịch vụ của công ty; do đó nó
sẽ tác động tới phản ứng của khách hàng.
Sản phẩm thay thế là những sản phẩm khác nhau nhưng đáp ứng cùng
một nhu cầu tiêu dùng. Sự xuất hiện của sản phẩm thay thế sẽ tạo ra nguy cơ
cạnh tranh về giá và lợi nhuận đối với công ty.
2.2. Đánh giá tác động của môi trường:
Để đánh giá tác động của môi trường, thông thường người ta thường dùng
phương pháp lượng hoá tác động của các yếu tố thuộc môi trường đến hoạt động
của doanh nghiệp, sau đó tổng hợp tất cả các yếu tố đó. Tiến trình được tiến
hành qua năm bước:
Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành
công của doanh nghiệp.
Bước 2: Xác định mức độ quan trọng của từng yếu tố với ngành.
Bước 3: Xác định trọng số của từng yếu tố trong mối quan hệ với khả
năng phản ứng của chiến lược hiện tại của công ty hay mức độ quan trọng đối
với doanh nghiệp.
Bước 4: Tính điểm của từng yếu tố.
Bước 5: Cộng tổng số điểm.
Sau khi tính tổng của số điểm ta sẽ nhận thấy tác động của môi trường đối
với doanh nghiệp, xác định được cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp cần phải
vượt qua. Đây chính là căn cứ xây dựng chiến lược kinh doanh để đảm bảo tính
phù hợp của chiến lược và môi trường vận động.
3. Phân tích nội bộ doanh nghiệp:
- 18 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
tâm khi thực hiện các phân tích tài chính trong xây dựng chiến lược bao gồm:
Các chỉ số luân chuyển: phản ánh năng lực của công ty khi đáp ứng các
nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của nó. Đó là chỉ số khả năng thanh toán hiện thời
và khả năng thanh toán nhanh :
- 19 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Khả năng thanh toán hiện thời =
Tổng TSLĐ
Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán hiện
nhanh
=
TSLĐ - Tồn kho
Nợ ngắn hạn
- Các chỉ số đòn bẩy: bảng chỉ rủi ro tài chính của công ty. Nó cho thấy tỷ
lệ tài sản được tài trợ bằng vốn nợ và vốn cổ phần.
Chỉ số nợ =
Vốn nợ
Tổng vốn
Chỉ số này không được quá cao vì như vậy nó sẽ tạo ra nhiều rủi ro khi
không trả được nợ, dễ dẫn đến phá sản.
Các chỉ số hoạt động: phản ánh hiệu quả sử dụng năng lực của công ty :
Vòng quay của tổng vốn =
Doanh thu thuần
Tổng vốn
Vòng quay của vốn lưu động =
lược thực hiện các so sánh có ý nghĩa. Đó là các so sánh phản ánh sự phát triển
của công ty và sức mạnh của nó trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh
trong ngành.
Các so sánh thường được thực hiện theo ba hướng cơ bản:
+ So sánh theo thời gian: đó là việc so sánh các hoạt động của công ty
trong những thời kỳ khác nhau gắn liền với bối cảnh lịch sử của nó.
+ So sánh các chuẩn mực của ngành: thực hiện các so sánh về hoạt động
của công ty với các chuẩn mực của ngành và các nhà cạnh tranh chủ yếu. Nó
cho thấy công ty đứng ở vị trí nào trong toàn ngành.
+ Nhận dạng các nhân tố thành công cốt lõi của ngành: Đó là một vài
nhân tố nhưng có tác động quan trọng đến thành công của công ty trong ngành.
+ Kết thúc công việc phân tích nội bộ, chúng ta phải lập bản tổng hợp
điểm mạnh điểm yếu của công ty. Đây là công việc cuối cùng đồng thời cũng là
kết quả của giai đoạn phân tích nội bộ. Bảng tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu
được lập theo nguyên tắc của bảng tổng hợp cơ hội và thách thức trong phần
phân tích môi trường.
Kết hợp hai bảng tổng hợp trên - cơ hội và thách thức; điểm mạnh, điểm
yếu - ta nhận được kết quả phân tích tổng hợp mặt mạnh mặt yếu, cơ hội và
thách thức (ma trận SWOT). Đây là kết quả mong muốn cuối cùng của việc
phân tích môi trường và phân tích nội bộ đồng thời cũng là tiền đề cho việc
hoạch định chiến lược của công ty.
Bảng 1: Bảng phân tích ma trận SWOT của công ty
- 21 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Trên cơ sở ma trận SWOT công ty tìm ra chiến lược nhằm phát huy thế mạnh
khắc phục điểm yếu, tận dụng cơ hội và né tránh những thách thức mà môi
trường đặt ra.
4. Xây dựng và lựa chọn chiến lược:
3...
Phối hợp S/O Phối hợp S/T
Điểm yếu (Weakness)
1...
2...
3...
Phối hợp W/O Phối hợp W/T
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Chiến lược tăng trưởng tập trung cho phép công ty dồn sức lực vào các
lĩnh vực hoạt động sở trường của mình, khai thác các điểm mạnh nổi bật để phát
triển kinh doanh. Tuy nhiên, chiến lược phát triển tập trung lại bỏ lỡ cơ hội bành
trướng thị trường, không tận dụng hết những tính năng nổi bật của mình nắm bắt
các cơ hội phát triển của ngành nghề khác.
Chiến lược tăng trưởng hội nhập (liên kết): Công ty trong trường hợp
theo đuổi chiến lược này sẽ tìm biện pháp để tự đảm nhận khâu sản xuất các yếu
tố đầu vào hay tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện chiến lược tăng trưởng hội nhập,
công ty có thể thực hiện việc hội nhập về phía trước (ngược chiều) hay hội nhập
về phía sau (thuận chiều, hội nhập toàn bộ hay hội nhập toàn phần, hội nhập nội
bộ hay hội nhập bên ngoài).
Bảng 3: bảng thay đổi chiến lược tăng trưởng hội nhập
Sản phẩm, dịch vụ Thị trường Ngành Cấp độ ngành Công nghệ
Hiện đang thực
hiện
Hiện tại Hiện tại Mới Hiện tại
Chiến lược tăng trưởng hội nhập giúp công ty tiết kiệm chi phí và giảm
các chi phí về thị trường, kiểm soát chất lượng tốt hơn, tận dụng các cơ hội kinh
doanh và chủ động hơn trong việc hoạch định các phương án sản xuất kinh
doanh. Chiến lược này có thể được áp dụng đối với các doanh nghiệp có khả
lĩnh vực là trùng hợp với chiến lược của công ty. Tuy nhiên, đối với công ty đa
ngành thì ở mỗi ngành nghề kinh doanh mà công ty tham gia, công ty phải xây
dựng một chiến lược kinh doanh riêng biệt. Do đặc điểm của từng ngành là khác
nhau và điều kiện môi trường cho từng ngành là không giống nhau vì thế các
chiến lược phát triển cho từng ngành là không thể giống nhau được.
5.2. Chiến lược kinh doanh quốc tế:
Nói đến chiến lược kinh doanh quốc tế, chúng ta thường đề cập tới hai vấn
đề chiến lược xâm nhập, mở rộng thị trường ra nước ngoài và chiến lược cạnh
tranh. Vấn đề cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng có những đặc điểm giống
với cạnh tranh trong thị trường nội địa, tuy nhiên mức độ cạnh tranh và tính chất
của chiến lược kinh doanh quốc tế phức tạp hơn nhiều so với thị trường trong
nước.
Về việc xâm nhập thị trường quốc tế chúng ta cần phải quan tâm nhiều
hơn tới việc lựa chọn quốc gia, thời điểm xâm nhập và dạng sở hữu. Quyết định
các vấn đề trên phụ thuộc nhiều vào điều kiện của môi trường, năng lực của
công ty và mục tiêu mà công ty hướng tới.
- 24 -
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hợp –
QTKD – K5TX
Chương ii
Phân tích thực trạng xây dựng kế hoạch chiến lược và những tư tưởng
chiến lược đã hình thành ở Công ty TNHH Dịch vụ Hỗ trợ Doanh
nghiệp trong thời gian vừa qua.
I . Giới thiệu chung về Công ty TNHH Dịch vụ Hỗ trợ Doanh nghiệp
1. Sự hình thành Công ty TNHH Dịch vụ Hỗ trợ Doanh nghiệp
Do nhu cầu bức thiết của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, do sự
tác động của nhiều nhân tố trong Xã hội và nền kinh tế mở hiện nay; nhiều Công
ty tư nhân, Liên doanh,... đã ra đời. Trong xu hướng phát triển chung đó, Ban
lãnh đạo Công ty đã nắm bắt thời điểm này và quyết định thành lập một Công ty