ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------
TRẦN THỊ BÍCH HỢP
TRUYỀN THUYẾT LÝ PHỤC MAN VÀ LỄ HỘI
RƢỚC GIÁ Ở YÊN SỞ - HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Dân gian
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------
TRẦN THỊ BÍCH HỢP
TRUYỀN THUYẾT LÝ PHỤC MAN VÀ LỄ HỘI
RƢỚC GIÁ Ở YÊN SỞ - HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Dân gian
Mã số: 60 22 01 25
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Chí Quế
Hà Nội - 2018
6. Cấu trúc luận văn……………………………………………………………11
7. Đóng góp của luận văn...................................................................................12
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ YÊN SỞ - HỒI ĐỨC - HÀ NỘI………...13
1.1 Vị trí địa lý huyện Hồi Đức……………………………………………..13
1.2 Hồi Đức, vùng đất văn hóa văn hiến ………………………………….16
1.2.1. Hoài Đức nổi tiếng với những danh nhân………………………….....16
1.2.1.1 Lý Nam Đế…………………………………………………………………... .16
1.2.1.2 Danh tướng Lý Phục Man……………………………………………..........18
1.2.1.3 Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên………………………………...18
1.2.2 Hoài Đức với những làng nghề truyền thống nổi tiếng………………19
1.3. Nhân dân Hoài Đức có truyền thống yêu nƣớc chống ngoại xâm. …. .22
1.4. Xã n Sở, một vùng đất văn hóa………………………………………26
1.5. Đình qn Yên Sở - di tích thờ Lý Phục Man…………………………28
Tiểu kết..............................................................................................................34
CHƢƠNG 2: TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VỀ LÝ PHỤC MAN…….35
2.1. Những ý kiến khác nhau về nhân vật Lý Phục Man..............................36
2.2. Hệ thống truyền thuyết dân gian về Lý Phục Man………………… 37
2.2.1. Các bản kể tư liệu thành văn…………………………………………………37
2.2.2. Các truyền thuyết dân gian truyền miệng…………………………………..39
2.2.3. Nhận xét chung về truyền thuyết Lý Phục Man …………………………..42
2.2. Những mô típ cơ bản của truyền thuyết Lý Phục Man- ……………...45
2.2.1. Mơ típ Sinh nở thần kì ………………………………………………….46
2.2.2 Mơ típ Chiến cơng phi thường ………………………………………......48
2.2.3. Mơ típ Hố thân ………………………………………………………...53
2.2.4. Mơ típ Hiển linh âm phù………………………………………………...60
Tiểu kết………………………………………………………………………..65
Chƣơng 3: LỄ HỘI VÀ TÍN NGƢỠNG THỜ LÝ PHỤC MAN………….67
3.1. Khái quát về lễ hội……………………………………………………….67
trình kiến trúc nghệ thuật và các sinh hoạt văn hóa lễ hội sinh động, cũng thấy
nổi bật lên quá trình lịch sử phát triển của quê hương. Hoài Đức thực sự là một
vùng tiêu biểu, gắn liền với tiến trình lịch sử dân tộc, với bản sắc văn hóa, đời
sống tinh thần, những thành tựu văn hóa vật chất phong phú và đẹp đẽ thể hiện
sinh động những truyền thống cần cù sáng tạo trong xây dựng và truyền thống
anh dũng, quật cường của tổ tiên trong sự nghiệp bảo vệ quê hương, đất nước.
Lý Phục Man là nhân vật nổi tiếng, có những cống hiến với q hương,
đất nước. Ơng có cơng thu phục được các bộ tộc thiểu số (người Man) vùng Đỗ
Động - Đường Lâm (vùng Tây Bắc nước ta thời Lý Nam Đế) nên được suy tôn
là "Phục Man Tướng Quân". Ông là người làng Cổ Sở nay thuộc Yên Sở, Hồi
Đức, Hà Nội. Ơng nổi tiếng là người giỏi võ nghệ, có tài thuần trị được voi. Là
một trung thần có nhiều cơng lao, nên khi mất, ơng được nhân dân nhiều nơi
tơn thờ làm Thành hồng làng. Lý Phục Man là một nhân vật lịch sử, ra đời
trong một hồn cảnh lịch sử đặc biệt, đó là thời tiền Lý, mà thời kỳ này có
nhiều nhân vật được phong thần. Nhân vật lại được ghi chép đầu tiên trong một
7
tác phẩm đặc biệt là Việt điện u linh. Bản thân truyền thuyết này lại rất hấp dẫn
và điển hình cho truyền thuyết dân gian Việt Nam. Truyền thuyết Lý Phục Man
đã được một số nhà nghiên cứu sưu tầm, tập hợp trong các văn bản thành văn
và cũng đã có những cơng trình nghiên cứu về ơng. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa có cơng trình nào đi sâu nghiên cứu hệ thống các mơ típ của truyền thuyết
Lý Phục Man, mối quan hệ giữa truyền thuyết Lý Phục Man và lễ hội rước Giá
tại Yên Sở cũng như sự biến đổi của truyền thuyết và lễ hội này trong bối cảnh
đương đại.
Lễ hội rước Giá được tổ chức vào mùng 10 tháng 3 hàng năm tại đền thờ
Lý Phục Man, xã Yên Sở huyện Hoài Đức, Hà Nội hiện nay chưa phản ánh rõ
sự gắn bó hệ thống giữa truyền thuyết và lễ hội. Các hoạt động trong lễ hội rước
Giá chưa thực sự chuyển tải hết được ý nghĩa của truyền thuyết.
vẫn là câu chuyện của ngày hơm nay, nó sống trong lễ hội, trong sự tưởng vọng
của người dân đương đại.
Trong khi những biểu tượng thần thoại và những hình tượng cổ tích có
tính tồn cầu rất cao thì các tượng đài truyền thuyết lại có tính vùng rất đậm
đặc. Dường như những bước chập chững của mỗi tập đoàn người (trong sự đối
mặt với tự nhiên được phản ánh trong thần thoại) và của mỗi đời người (trong
đời sống xã hội được phản ánh trong cổ tích) đều có những nét tương đồng.
Song mỗi dân tộc, trong khi tìm kiếm và khẳng định bản lĩnh của mình đã có
những lựa chọn rất riêng, hành trình đó để lại những dư âm vang vọng trong
truyền thuyết với những sắc thái rất khác nhau. Nó vừa phản ánh sự “đồng
thuận xã hội” độc đáo của từng dân tộc đồng thời lại góp phần củng cố duy trì
trạng thái đó. Ở Việt Nam, đó là niềm tin và lịng tự hào về dân tộc có chung
một cội nguồn, một dân tộc thông minh quật cường không lùi bước trước bất cứ
9
một kẻ thù nào để khẳng định bản lĩnh của mình. Truyền thuyết Việt Nam được
sáng tạo từ xuất phát điểm đó và đến lượt nó quay trở lại củng cố niềm tin bất
diệt ấy. Trong quá trình lưu truyền của mình, các đặc trưng của truyền thuyết
dân gian (tính đặc thù nội dung và đặc trưng nghệ thuật dân gian) chỉ được gìn
giữ đúng với bản chất thực sự trong mơi trường lễ hội. Đó là một mơi trường lí
tưởng cho mọi truyền thuyết mà rất tiếc sau một thời gian dài gián đoạn, các lễ
hội phải quay trở lại tìm tài liệu truyền thuyết ở các văn bản, đặc biệt là những
văn bản được lưu giữ cẩn trọng. Đó là lí do tại sao việc nghiên cứu văn học dân
gian ở Việt Nam, đặc biệt là nghiên cứu truyền thuyết lại cần phải nghiên cứu
khâu văn bản trong mối liên hệ chặt chẽ với nghiên cứu truyền thuyết ở góc độ
lễ hội.
Lý Phục Man tương truyền là một danh tướng thời Lý Nam Đế ở thế kỷ
VI trong lịch sử Việt Nam. Vì ơng có cơng thu phục được các bộ tộc thiểu số
(người Man) vùng Đỗ Động - Đường Lâm (vùng Tây Bắc nước ta thời Lý Nam
Năm 1990 trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam, NXB. Đại học và
Trung học chuyên nghiệp (NXB. Đại học Quốc gia in lại năm 1996, 1998,
2001, 2004), tác giả Lê Chí Quế đã khẳng định sự tồn tại độc lập của thể loại
truyền thuyết trong kho tàng tự sự dân gian bởi sự phong phú của các tư liệu tác
phẩm truyền thuyết được sưu tầm và những kết quả nghiên cứu về lý thuyết thể
loại của giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam được công bố.
Năm 2000 với luận án tiến sĩ Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa
truyền thuyết dân gian Việt Nam của Trần Thị An, tác giả đã đi sâu nghiên cứu
một cách sâu sắc và có hệ thống về thể loại truyền thuyết dân gian của người
Việt.
12
Riêng về phần Lý Phục Man, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu chúng
tôi nhận thấy, truyền thuyết về Lý Phục Man đã được nghiên cứu khá bài bản
trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Hun (Góp phần nghiên cứu một
vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phục Man - 1938). Tuy nhiên các tài liệu về Lý
Phục Man không nhiều, chủ yếu trong các thần tích và văn bia.
Trong sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên do Trịnh Đình Rư và Đinh
Gia Khánh dịch có phần phụ chép sự tích thần An Sở. Tác giả đã nói về việc Lý
Phục Man từ khi làm nên sự nghiệp đến lúc hóa thần và sự ứng nghiệm linh
thiêng của thần với sự nghiệp trung quân ái quốc, cụ thể là hai triều đại Lý,
Trần.
Bộ sách Đại Nam nhất thống chí, quyển XXI, tỉnh Sơn Tây, các sử gia
thời Nguyễn đã viết: “ Đền thần Yên Sở ở xã Yên Sở. Thần người xã này, lúc
còn trẻ võ nghệ hơn người, thờ Lý Nam Đế, nhiều lần lập công lớn, nổi tiếng
trung liệt, được làm đại tướng quân lãnh đạo hai miền Đỗ Động Đường Lâm,
người Di, Lão phải xa lánh, dân địa phương được yên”.
Trên báo Hà Nội mới ngày 28 tháng 7 năm 1969, tác giả Vũ Tuân Sán có
đăng bài Phạm Tu, tác giả tóm tắt diễn biến cuộc kháng chiến chống giặc
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Truyền thuyết Lý Phục Man và lễ hội rước Giá ở Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội,
qua văn bản thành văn và tư liệu điền dã.
3.2. Mục đích nghiên cứu
Nhận thức được truyền thuyết Lý Phục Man và lễ hội rước Giá là một
hiện tượng văn học, văn hóa dân gian gợi mở nhiều vấn đề lý thú, song cho đến
nay vẫn chưa có cơng trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện,
chuyên sâu về đối tượng này, luận văn của chúng tơi một mặt hệ thống hóa các
14
nguồn tư liệu truyện kể về Lý Phục Man, phân tích kết cấu mơ típ của truyền
thuyết này để khẳng định giá trị nội dung, tư tưởng của tác phẩm; mặt khác tìm
hiểu lễ hội được tổ chức tại Yên Sở Hoài Đức Hà Nội nhằm chỉ ra mối quan hệ
gắn kết giữa truyền thuyết Lý Phục Man và lễ hội rước Giá.
4. Nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu trên, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu
cụ thể như sau:
- Sưu tầm đầy đủ nhất các truyền thuyết về Lý Phục Man, cả trong thư
tịch lẫn trong quá trình thực tế điền dã.
- Khảo sát văn bản dưới các góc độ, tập trung nghiên cứu kết cấu mơ típ,
như mơ típ sinh nở thần kỳ, mơ típ chiến cơng phi thường, mơ típ hóa thân, mơ
típ hiển linh âm phù.
- Nghiên cứu tham dự đối với lễ hội rước Giá, so sánh đời sống của lễ
hội với văn bản truyện kể để tìm ra mối liên hệ, những nét tương đồng và khác
biệt, sự biến đổi của lễ hội nhằm làm rõ sức sống của truyền thuyết về Lý Phục
Man trong xã hội đương đại.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều
phương thơng qua việc tổ chức lễ hội nơi đây.
- Phương pháp liên ngành:
Vì văn học dân gian có tính ngun hợp nên khi thực hiện đề tài này,
chúng tôi đã sử dụng phương pháp liên ngành, kết hợp tham khảo kết quả
nghiên cứu của nhiều lĩnh vực như dân tộc học, văn hóa học, sử học, xã hội
học... cũng như các quy định của Nhà nước về tổ chức lễ hội hiện nay... để có
16
thể hiểu một cách tường tận, sâu sắc hơn hiện tượng văn học, văn hóa dân gian
độc đáo này.
5. Phạm vi nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn những câu chuyện kể
trong các sách đã xuất bản, trong thư tịch cổ. Cụ thể:
- Tư liệu về Lý Phục Man Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên do Trịnh
Đình Rư và Đinh Gia Khánh dịch
- Bộ sách Đại Nam nhất thống chí, quyển XXI, tỉnh Sơn Tây, do các sử
gia thời Nguyễn biên soạn.
- Văn bia nói về tiểu sử Lý Phục Man tại đình Yên Sở, khắc vào năm thứ
ba đời Bảo Thái nhà Lê (1728) do Nguyễn Văn Hun dịch.
Ngồi ra chúng tơi còn dựa vào những câu chuyện kể, các giai thoại về
ơng sưu tầm được trong q trình điền dã và việc tổ chức lễ hội hàng năm tại
Đình Quán nơi thờ Lý Phục Man tại xã Yên Sở, Hoài Đức Hà Nội để phân tích.
Trong q trình tìm hiểu về truyền thuyết Lý Phục Man, chúng tơi nhận
thấy vẫn cịn những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu xung quanh nhân
vật này và việc đồng nhất hay không đồng nhất giữa Phạm Tu và Lý Phục Man.
Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chỉ xin đề cập đến nhân vật Lý
Phục Man được thờ tại đình quán Giá tại xã Yên Sở, Hoài Đức, Hà Nội. Trong
đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ đi sâu vào tìm hiểu hệ thống các mơ tip về
truyền thuyết Lý Phục Man và mối quan hệ giữa truyền thuyết Lý Phục Man và
TỔNG QUAN VỀ YÊN SỞ - HOÀI ĐỨC - HÀ NỘI
1.1. Vị trí địa lý huyện Hồi Đức
Hồi Đức là một huyện trù phú của tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc ngoại thành
Hà Nội. Huyện có diện tích tự nhiên là 8383.78 ha trong đó có diện tích canh
tác là 5899,6 ha. Huyện Hồi Đức nằm ở phía Tây Thủ đơ Hà Nội, phía Đơng
giáp huyện Từ Liêm, phía Tây và Bắc giáp huyện Đan Phượng, phía Nam giáp
các huyện Chương Mĩ, Thanh Oai.
Địa danh Hoài Đức đã xuất hiện từ lâu. Theo sách “Việt sử thông giám
cương mục” thì từ năm 622, trụ sở huyện Hồi Đức được rời về đất Tống Bình
(tức Hà Nội). Trải qua các thời kì lịch sử, tên gọi và địa giới của Hoài Đức biến
đổi nhiều lần.
Dưới thời Lý là phủ Ứng Thiêm. Đến thời nhà Lê, sau chiến thắng của
cuộc kháng chiến chống quân Minh, triều đình đã chia lại các đơn vị hành
chính. Cả nước lúc đó được chia làm 13 đạo, dưới đạo là phủ, châu huyện. Hoài
Đức khi ấy là phủ Phụng Thiên. Cho tới thời Nguyễn, kể từ 1831, phủ Phụng
Thiên được đổi thành phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Sơn Tây. Sau đó dưới thời Pháp
thuộc, kể từ 1905 Hoài Đức vẫn giữ nguyên tên gọi và đơn vị hành chính, song
địa giới nhiều lần thay đổi và thuộc tình Hà Đơng .
Năm 1942, địa giới Hồi Đức thu hẹp lại do sự hình thành địa lý Hồn
Long thuộc Hà Nội. Như vậy, có thể nói, Hồi Đức là một huyện thay đổi địa
giới nhiều so với các vùng lân cận. Tuy nhiên, thời kì ổn định nhất về địa giới
của Hoài Đức là từ năm 1808 đến 1942. Vì vậy, có thể lấy những số liệu và tình
hình về mọi mặt trong giai đoạn này để tìm hiểu huyện Hồi Đức trước Cách
mạng thánh Tám năm 1945.
19
Trong những năm đầu thế kỷ XX, Hoài Đức là một phủ giàu có và đơng
dân nhất của tỉnh Hà Đơng. Theo cuộc điều tra dân số năm 1921, thì ở Hà Đơng
chỉ có phủ Hồi Đức và huyện Thanh Oai có số dân vượt trên 100 000 người.
tích khảo cổ trên địa bàn thuộc sơ kì thời đại đồ đồng cách ngày nay 3000 4000 năm đã khẳng định quá trình định cư tồn tại và phát triển lâu đời của
người Việt cổ ở nơi đây.
Kết quả nghiên cứu các di chỉ khảo cổ trên địa bàn huyện do Viện khảo cổ
học Việt Nam tiến hành khai quật trong những năm 1968-1969 đã cho thấy:
Tại di chỉ Vinh Quang (thuộc địa phận xã Cát Quế ) trong tầng văn hóa lớp
trên đã tìm thấy nhiều dụng cụ như lưỡi rìu chiến, búa chiến, mũi tên có thể coi
là những kiệt tác của vũ khí đồng thau. Cùng lớp đó, ta đã tìm thấy một số đồng
tiền bán lạng Lữ Hậu (180-198 trước Công nguyên). Tầng văn hóa này tiêu biểu
cho giai đoạn 3 văn hóa Gị Mun.
Ở tầng lớp dưới đã tìm thấy nhiều cơng cụ sản xuất, đồ trang sức, tiền ốc,
các loại đồ gốm có màu sắc, hoa văn trang trí phong phú và 11 sọ người. Niên
đại các-bon phóng xạ của di chỉ là năm 1905 trước Công Nguyên, thuộc giai
đoạn thứ ba của thời đại các vua Hùng dựng nước. Các di chỉ đồng Dền, gò
Chiền Vậy (thuộc xã Di Trạch) cũng là những di chỉ tiêu biểu cho giai đoạn văn
hóa Gị Mun.
Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, cư dân trên địa vực này đã chung
lưng đấu cật, cùng nhau khai phá đất đai, cải tạo đồng ruộng, chống chọi với
thiên tai, dịch họa, lập nên xóm làng trù phú và sớm có cuộc sống ổn định. Với
những điều kiện vật chất và truyền thống dân gian, với cơ sở kinh tế chính là
nơng nghiệp trồng lúa nước, rau màu, chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa tơ
21
nổi tiếng cùng các nghề đúc đồng, luyện sắt, nghề mộc và tạc tượng tinh xảo đã
khẳng định cư dân vùng Hoài Đức là một bộ phận hợp thành cư dân nước Văn
Lang của các vua Hùng, chủ nhân của nền văn minh sơng Hồng rực rỡ.
Nhân dân Hồi Đức tự hào chính đáng về truyền thống vẻ vang lâu đời của
quê hương mình trong quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Hoài Đức nằm trong một vùng đậm đặc những quần thể di tích lịch sử văn
hố cổ. Hầu như làng nào trong huyện cũng có những di tích hoặc có cả một
Ơng chọn ngày 2 tháng Giêng năm Giáp Tý (544) là ngày lên ngôi Hoàng
Đế, gọi là Lý Nam Đế, lấy niên hiệu là Thiên Đức, đặt Quốc hiệu là Vạn Xuân.
Lý Bí là người Việt Nam đầu tiên xưng Hoàng Đế, cũng là người đầu tiên xác
định vị trí trung tâm của đất nước để đặt Kinh Đơ.
Thị trấn Trạm Trơi huyện Hồi Đức ngày nay là nơi Lý Bí được Pháp tổ
Thiền Sư đón về Phật Tự từ lúc tuổi thơ. Tại đây ơng đã học văn võ. Nhờ có chí
lớn tài cao ông đã chiêu mộ được trên 3000 nghĩa quân phất cờ khởi nghĩa,
tiếng tăm lừng lẫy. Tại chùa Linh Bảo, Giang Xá (Thị Trấn Trạm Trôi ngày
nay) vào ngày 10 tháng 3 năm Nhâm Tuất (542) Ông tổ chức khao quân, chỉnh
đốn binh mã, hậu tạ Thiền Sư rồi dẫn đầu đồn qn lên đường đánh giặc
Lương.
Ngơi Đền và chùa ở Linh Bảo, Giang Xá đều được Bộ Văn Hóa cơng nhận xếp
hạng là di tích lịch sử văn hóa.
Đền Giang Xá thờ Lý Nam Đế hiện cịn một số hiện vật quý: cuốn Thần phả do
Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, tấm bia tự bi kí dựng năm Tự Đức
(1853). Trong khám có pho tượng của ông làm bằng đồng ở thế ngồi coi chầu,
dáng uy nghi và một số hiện vật khác. Mùa Xuân hàng năm vào ngày 12 tháng
23
giêng, nhân dân các làng ở huyện trong tỉnh tập trung về nơi thờ ông tổ chức
ngày Đại Lễ.
1.2.2.2 Danh tướng Lý Phục Man
Tại n Sở - Hồi Đức có di tích lịch sử Quán Giá là nơi nhân dân thờ
tướng công Lý Phục Man, một danh tướng của Lý Nam Đế thế kỉ thứ VI.
Trong văn bia “Thuật thần từ ân ký” lập tháng 7 năm Mậu Thân niên hiệu Bảo
Thái 9 (Lệ Dụ Tơn 1728) hiện cịn lưu dữ tại quán có ghi rõ “ Thần Đại vương
là người làng này, từ nhỏ đã tỏ ra khôi ngô, thông minh, tài nghệ khác thường
giỏi cưỡi ngựa, bắn cung và hay việc dạy voi”. Ơng đã sớm ni chí đánh đuổi
giặc ác, ông đã tụ binh luyện võ trước khi hợp qn với Lý Bí (mùa xn 514)
của Đảng trong thời kỳ Mặt trận bình dân. Đến năm 1945 ơng được giữ chức
Tổng giám đốc Đại học vụ kiêm giám đốc trường Viễn Đông Bác Cổ. Những
ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám thành cơng, ơng được cử làm cố vấn phái
đồn chính phủ tại hội nghị lịch sử Đà Lạt và Phơngtennơbơlơ. Từ tháng
11/1946, ơng giữ chức Bộ trưởng giáo dục.
Ơng đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Ơng
khơng chỉ là một quan chức cao cấp mà còn là một nhà giáo mẫu mực, giàu
lịng nhân ái. Trong đời thường, ơng là một người gương mẫu, khiêm tốn, giản
dị với tình cảm yêu thương hết lịng vì mọi người.
Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên đã nêu một tấm gương sáng về tinh thần
yêu nước, mẫu mực trong cuộc sống về: cần kiệm liêm chính theo gương của
Bác Hồ vĩ đại. Ơng mãi để lại tiếng thơm và là tấm gương sáng cho mn đời.
1.2.2 Hồi Đức – vùng đất với những làng nghề truyền thống nổi tiếng
Trải qua bao thế kỷ khai phá và cải tạo, đất đai Hoài Đức ngày càng trở
nên màu mỡ, đem lại hiệu quả kinh tế trồng trọt cao với hai vùng rõ rệt: Vùng
25