(Luận văn thạc sĩ) - Thi hành án treo từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN QUANG MINH BÌNH

THI HÀNH ÁN TREO TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI - 2020


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN QUANG MINH BÌNH

THI HÀNH ÁN TREO TỪ THỰC TIỄN QUẬN BÌNH TÂN,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 638.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA


Tiểu kết chương 3 ....................................................................................................64
KẾT LUẬN ..............................................................................................................65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng
Bảng 2.1:

Tên bảng

Trang

Tình hình áp dụng án treo của Tịa án nhân dân quận Bình

30

Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bảng 2.2:

Thống kê tình hình thi hành án treo trên địa bàn quận Bình

32

Tân.
Biểu đồ 2.1:

Tình hình áp dụng án treo tại quận Bình Tân.

31

thực hiện quyền tư pháp, thực hiện được công lý mà Tòa án đã nhân danh Nhà
nước ra bản án, quyết định; mặt khác, thi hành án kịp thời, nghiêm chỉnh các phán
quyết của Tòa án đối với hành vi phạm tội.
Bình Tân là một quận nội thành nằm ở phía Tây Bắc, Thành phố Hồ Chí
Minh là một trong những quận có nền kinh tế mạnh và tích cực có nhiều xu hướng
phát triển cao và ln đáp ứng nhu cầu phát triển của các thành phần kinh tế cần
thiết. Tuy nhiên do tốc độ đơ thị hóa, sự biến động về dân số khá lớn nên tệ nạn xã
hội và tội phạm có xu hướng diễn biến phức tạp.
Tuy Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật
làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động thi hành án hình sự, được quy định phong phú,
đa dạng, có sự kế thừa, bổ sung ngày càng hoàn thiện, phù hợp với xu thế phát
triển của đất nước và đáp ứng yêu cầu ở từng thời điểm lịch sử khác nhau nhưng
vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức đến cơng tác thi hành án treo. Hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật vẫn còn bất cập, chưa đồng bộ, nhiều nội dung chưa được
quy định cụ thể, gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành. Bên
cạnh đó, qua nghiên cứu ở quận Bình Tân cho thấy hệ thống các cơ quan có thẩm
quyền trong thi hành án chưa được phân công, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả, phát
huy đầy đủ vai trị, trách nhiệm trong quản lí, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra,
giám sát, nhất là vai trò trách nhiệm của Tòa án, UBND các cấp, Mặt trận tổ quốc
và các đoàn thể; hoạt động giám sát theo dõi người được hưởng án treo còn chưa
được quan tâm đúng mức; đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án treo chưa đáp
1


ứng hiệu quả đặt ra… Những vấn đề trên đã làm giảm hiệu quả của công tác thi
hành án treo trên địa bàn quận nói riêng và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề thi hành án treo cũng như tình
cấp thiết tác giả chọn đề tài: "Thi hành án treo từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành
phố Hồ Chí Minh" làm luận văn thạc sĩ luật học thuộc chuyên ngành.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

- Võ Minh Phượng (2020), Những vướng mắc trong việc áp dụng chế định
án treo, truy cập ngày 01/06/2020. Bài viết nêu ý kiến về
những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng chế định án treo trên thực tiễn và sự
cần thiết phải có văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao thông qua những nội dung: Nguyên tắc áp dụng án treo, vướng mắc trong việc
áp dụng, kiến nghị.
Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:
- Phạm Đức Trung (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành hình
phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo khơng giam giữ (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn
địa bàn tỉnh Nam Định), Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà
Nội. Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình
phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo khơng giam giữ, từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm hồn thiện các quy định của pháp luật và đề xuất những giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo khơng giam giữ
trong thực tiễn.
- Dương Bích Ngọc (2016), Chế định án treo theo pháp luật hình sự Việt
Nam (từ thực tiễn Thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện KHXH,
Luận văn đã giới thiệu khái quát những vấn đề lý luận liên quan đến án treo và lịch
sử hình thành và phát triển của án treo. Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về
án treo và thực tiễn áp dụng án treo tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giai
đoạn 2015 – 2019. Đồng thời đưa ra những giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật
liên quan đến án treo.
Các cơng trình nghiên cứu nêu trên mỗi cơng trình tập trung nghiên cứu một
khía cạnh liên quan đến thi hành án treo nhưng nhìn chung chỉ phân tích, so sánh
làm sáng rõ những vấn đề về lý luận và quy định của pháp luật về thi hành án treo.
3


Qua tìm hiểu thì cũng có một số tác giả viết về thi hành án treo từ thực tiễn Thành
phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Bắc Ninh, Lâm Đồng... Nhưng hiện nay chưa có


- Về không gian, đề tài chỉ nghiên cứu đối với địa bàn quận Bình Tân, Thành
phố Hồ Chí Minh;
- Về thời gian, đề tài sử dụng các số liệu thống kê trong giai đoạn từ 2015 đến
năm 2019;
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp đối với thi hành án treo trong
tố tụng hình sự nói chung. Cụ thể như sau:
- Trong chương 1 tác giả sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp lịch sử, liệt kê hệ thống hóa vấn đề.
+ Phương pháp phân tích, suy diễn logic, diễn giải, giải thích.
- Trong chương 2 tác giả sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp phân tích, liệt kê, suy diễn logic, giải thích, dẫn chiếu.
+ Phương pháp đánh giá: từ nội dung của những quy định về thi hành án
treo đã được phân tích tác giả đưa ra một số đánh giá ở các khía cạnh khác nhau:
tính hợp lý, khả thi cũng như hiệu quả áp dụng trên thực tiễn.
+ Tác giả sử dụng bản án, quyết định của Tịa án quận Bình Tân, báo cáo
cơng tác thi hành án hình sự của Cơng an quận Bình Tân, kết luận kiểm sát thi hành
án treo tại UBND 10 phường để đánh giá thực trạng thi hành án treo trên địa bàn
Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích những mặt hạn chế của pháp
luật và thực trạng áp dụng thông qua phương pháp giải thích, suy diễn logic, đánh
giá. Kết hợp với phương pháp so sánh để làm rõ điểm tiến bộ trong quy định của
pháp luật Việt Nam. Từ đó, tác giả sử dụng phương pháp đánh giá nhằm đưa ra các
khía cạnh hợp lý, khả thi của các quy định pháp luật, thực trạng áp dụng pháp luật.
- Trong chương 3 của luận văn tác giả sử dụng:

phố Hồ Chí Minh
Chương 3. Giải pháp về pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành án treo tại
quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN TREO
1.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của án treo và thi hành án treo
1.1.1. Khái niệm và đặc điềm của án treo, thi hành án treo
Khái niệm, đặc điểm của án treo
Án treo là chế định hình sự ra đời từ rất sớm, trải qua một quá trình lịch sử
phát triển lâu dài của khoa học hình sự Việt Nam, từ Điều 10 trong sắc lệnh số
21/SL ngày 14/12/1946 về tổ chức Tòa án quân sự cho tới nay, tuy có nhiều cách
hiểu khác nhau nhưng án treo chưa bao giờ được coi là hình phạt trong hệ thống
hình phạt của nước ta.
Theo cuốn từ điển Tiếng Việt của GS Hoàng Phê: "Án treo là án tù không
phải thi hành ngay, nhưng sẽ thi hành nếu trong thời trang quy định người bị kết án
lại phạm tội và bị xử án lần nữa" [25, tr.6].
Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội:
" …Án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện…thể
hiện tính nhân đạo của Luật hình sự Việt Nam, có tác dụng khuyến khích người bị
kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội
cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm tội trong thời gian thử thách thì
buộc phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên" [12, tr.230].
Theo tinh thần của Bộ luật Hình sự, xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn
thi hành, thì án treo khơng phải là một loại hình phạt mà là miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện, hình phạt đối với người vi phạm pháp luật ở mức độ ít nghiêm
trọng, khi bị xử phạt tù không quá ba năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm

trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo. Nơi làm việc ổn định là
nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động
hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền [Điều 2, 15];
- Xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm
tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ được hưởng án treo không gây nguy hiểm
cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội [Điều 2, 15].
Có thể rút ra kết luận:"Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù
có điều kiện, được áp dụng cho người bị kết án phạt tù không quá ba năm, không
buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đầy đủ căn cứ và những điều kiện
nhất định do pháp luật hình sự quy định nhằm khuyến khích họ cải tạo để trở
thành cơng dân có ích cho xã hội, đồng thời cảnh cáo họ nếu phạm tội mới trong
9


thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt tù được hưởng án treo từ
bản án trước đó".
Từ khái niệm trên về án treo, có thể nhận thấy đặc điểm của án treo như
sau:
Thứ nhất, án treo được coi khơng phải là hình phạt tù, án treo là biện pháp
miễn chấp hành hình phạt tù trong các trại tạm giam khi bảo đảm các điều kiện
được pháp luật quy định. Pháp luật hình sự Việt Nam quy định bảy hình phạt chính
tại các Điều 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
trong đó có hình phạt tù được quy định tại Điều 38 BLHS năm 2015, án treo là biện
pháp miễn chấp hành hình phạt tù trong các trại giam khi người phạm tội có đầy đủ
các điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành cụ thể tại Điều 65
BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 02/2018/ NQ –
HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo;
Thứ hai, Người được hưởng án treo sẽ chịu thời gian thử thách từ một đến
năm năm, thời gian thử thách phải gấp đôi thời hạn phạt tù nhưng không quá 5 năm

việc đã diễn ra trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định
của pháp luật diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ. Trong khi đó, thi hành án là
quá trình tiến hành các hoạt động nhằm bảo đảm thực hiện các bản án và quyết định
của Tịa án có hiệu lực pháp luật.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Thi hành án là hoạt động hành chính – tư
pháp bởi:
Thứ nhất, thi hành án là hoạt động chấp hành, điều hành và thể hiện rõ tính
chất hành chính. Được xem là dạng hoạt động chấp hành vì được tiến hành trên cơ
sở các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khn khổ luật định; có
sự tham gia của cơ quan tư pháp vào quá trình thi hành án. Tuy nhiên thật khó để
xác định được mức độ và liều lượng của tính hành chính và tính tư pháp trong thi
hành án.
Thứ hai, với tính chất là hoạt động điều hành, cho dù căn cứ để thi hành bản
án, Quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành án khơng chỉ là các hoạt động
mang tính tố tụng, khơng chỉ áp dụng luật tố tụng, mà nội dung của nó phải áp dụng
nhiều văn bản pháp luật khác để giải quyết (luật nội dung);

11


Thứ ba, trong quá trình thi hành án phương pháp chủ yếu là kết hợp giữa
giáo dục thuyết phục và mệnh lệnh hành chính, mục đích tác động trực tiếp tới đối
tượng thi hành để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ
được xác định trong bản án, Quyết định của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn trọng
pháp luật, tôn trọng lợi ích Nhà nước, tập thể và cơng dân;
Thứ tư, việc thi hành án treo được giao cho cơ quan, tổ chức, chính quyền
địa phương thực hiện theo thủ tục hành chính. Pháp luật được áp dụng khơng phải
chỉ riêng luật tố tụng mà còn bao gồm các quy định của pháp luật hành chính – tư
pháp.
Có thể nói hoạt động thi hành án là sự kết hợp biện chứng giữa quá trình tố

trong khuôn khổ pháp luật, phải tuân thủ những quy định chặt chẽ do pháp luật quy
định.
Trong thi hành án, cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền áp dụng
phương pháp giáo dục, thuyết phục phải kết hợp với phương pháp mệnh lệnh, bắt
buộc. Điều này có ý nghĩa tác động trực tiếp đến đối tượng thi hành án để họ tự giác
thi hành hoặc dùng các biện pháp bắt buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ được
xác định trong bản án, quyết định của Tịa án.
Từ những quan điểm, nhận định nêu trên có thể hiểu: "Thi hành án là hoạt
động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định để đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực hiện trên thực tế
nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa".
Theo khoản 6 Điều 3 Luật thi hành án hình sự 2019 quy định: "Thi hành án
treo là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát,
giáo dục người bị kết án phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử thách".
Tác giả đưa ra khái niệm thi hành án treo như sau: Thi hành án treo là việc
cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng các
biện pháp giám sát, giáo dục có tính chất cưỡng chế đối với người bị kết án đã được
Tòa án tuyên phạt tù nhưng cho hưởng án treo trong thời gian thử thách nhằm bảo
đảm hiệu lực của án treo.
1.1.2. Mục đích của thi hành án treo
Mục đích của việc thi hành án treo nhằm giáo dục người phạm tội trở thành
người có ích cho xã hội. Đây là q trình cải tạo các thói quen, hành động sai trái đã
13


hình thành ở người phạm tội khơng phải là bản tính vốn có của họ, mà là do ảnh
hưởng của những yếu tố không lành mạnh trong môi trường gia đình, nhà trường,
xã hội, của những điều kiện thuận lợi cho tội phạm phát triển, những thiếu sót trong
cơng tác quản lí của cơ quan chức năng… Những nhận thức, thói quen ở người

nhân dân, Mặt trận Tổ quốc… bên cạnh đó là quyền kiểm sát của Viện kiểm sát
nhân dân, điều này bảo đảm cho hoạt động thi hành án treo được thực hiện có hiệu
quả, đúng pháp luật.
Thứ hai, thi hành án treo nhằm mục đích giáo dục cải tạo người phạm tội
trở thành người có ích cho xã hội.
Án treo là một chế định quan trọng của pháp luật hình sự thể hiện tính nhân
đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn áp dụng cũng đã chứng minh những
kết quả tích cực, tạo điều kiện cho những người có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi
vô ý, phạm tội thuộc một trường hợp ít nghiêm trọng có cơ hội sửa chữa cao. Quy
định này cũng phù hợp với xu hướng của thế giới hiện nay, hạn chế những hình
phạt mang tính chất giam giữ "nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại".
Ba là, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân
Việc thi hành án treo sẽ thúc đẩy người phải thi hành án nâng cao ý thức, sự
tự nguyện trong thi hành án, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong
nhân dân. Trong thi hành án treo, phương pháp thuyết phục, giáo dục có ý nghĩa
quan trọng nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành có tính chất đặc
thù đây là phương pháp chủ yếu và có tính tiên quyết. Điều này xuất phát từ tính
chất của thi hành án treo ngay cả trong trường hợp người phải thi hành án tự nguyện
thi hành nghĩa vụ của mình thì cũng là vì họ hiểu rằng Tòa án đã phán xét, thực sự
đã được làm sáng tỏ và nếu khơng thi hành thì họ sẽ phải chịu các biện pháp cưỡng
chế của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời thi hành án treo là dạng
hoạt động nhằm tác động tới các đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành
hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong
các bản án, quyết định của Tòa án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo
dục họ có ý thức tơn trọng pháp luật, tơn trọng lợi ích của cá nhân, tơn trọng lợi ích
của nhà nước…

15



16


kiểm sát năm 2014; Luật thi hành án hình sự năm 2019. Viện kiểm sát có những
nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Được nhận quyết định thi hành án, trích lục bản án; quyết định rút ngắn thời
gian thử thách án treo của Tịa án;
Được Tịa án cùng cấp thơng báo bằng văn bản về việc mở phiên họp xét
rút ngắn thời gian thử thách, xét giảm thời hạn chấp hành án và được cử Kiểm sát
viên tham gia họp;
Được cơ quan thi hành án hình sự Cơng an cấp huyện, Cơ quan thi hành án
hình sự Cơng an cấp qn khu thông báo bằng văn bản về việc người chấp hành án
treo chuyển đến nơi cư trú mới;
Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn trong vấn đề xem xét, lập hồ sơ đề
nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành án;
Được Tịa án chuyển tài liệu xin xóa án tích để phát biểu ý kiến bằng văn
bản đối với những trường hợp xóa án tích do Tịa án quyết định;
Viện kiểm sát trong thi hành án treo có quyền yêu cầu Tòa án cùng cấp và
cấp dưới ra quyết định thi hành án treo đúng quy định; cung cấp hồ sơ liên quan đến
việc thi hành án treo;
Trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án treo của các cơ
quan thi hành án, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan và việc giải
quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án treo;
Kháng nghị với Tòa án, Cơ quan Thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới,
cơ quan, tổ chức, đơn vị có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án treo, yêu cầu
chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong thi hành án treo nếu có.
Kiểm sát thi hành án treo là một trong các nội dung công tác kiểm sát thi
hành án hình sự thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được quy định tại Điều
4, Điều 6 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Viện kiểm sát thực hiện
công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án treo của Tòa án, Cơ

hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này; Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Cơng an cấp huyện để đề nghị Tòa án cùng cấp xem xét, quyết định về việc
rút ngắn thời gian thử thách; Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Cơng an cấp
huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tịa án có thẩm quyền quyết định buộc
người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án
đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này; Báo cáo cơ quan thi hành án hình
18


sự Công an cấp huyện khi người được hưởng án treo bỏ trốn; Hàng tháng nhận xét
bằng văn bản về quá trình chấp hành án của người được hưởng án treo và lưu hồ sơ
giám sát, giáo dục; Báo cáo cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền về kết quả
thi hành án.
* Về giám sát giáo dục:
Uỷ ban nhân dân cấp xã yêu cầu người được hưởng án treo thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phịng ngừa khi có dấu hiệu vi phạm
pháp luật; Biểu dương người được hưởng án treo có nhiều tiến bộ hoặc lập cơng;
Giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định
của Luật này và pháp luật về cư trú;
* Về phối hợp giám sát giáo dục:
Bên cạnh các nhiệm vụ ở trên, UBND cấp xã phối hợp với các tổ chức
chính trị - xã hội, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án treo làm
việc, học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Điểm mới của Luật thi hành án hình sự năm 2019 so với Luật thi hành án
hình sự 2010 là đã sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ của UBND cấp xã, đơn vị quân đội
được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Trong đó, Uỷ ban nhân dân
cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền
hạn lập hồ sơ, tổ chức giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; bàn giao hồ sơ
cho cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này [Điều
86]; quy định chi tiết cụ thể, nhiệm vụ quyền hạn của đơn vị quân đội được giao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status