VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ANH THƯ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐẠI PHƯỚC, HUYỆN NHƠN TRẠCH,
TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ANH THƯ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐẠI PHƯỚC, HUYỆN NHƠN TRẠCH,
TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ NGỌC
HÀ NỘI, năm 2020
MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
TRONG THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI ......................... 7
1.1. Khái quát chung về đất đai, thu hồi đất và quản lý nhà nước về thu hồi đất để
triển kinh tế, xã hội ................................................................................................. 7
1.1.1. Khái niệm đất đai ..................................................................................... 7
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của thu hồi đất .................................................... 7
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước trong quá trình thu hồi đất đai ................ 10
1.2. Quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội. 12
1.2.1. Sự cần thiết khách quan của thu hồi đất để triển kinh tế - xã hội .......... 12
1.2.2. Mục đích quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất ....................... 16
1.2.3. Chủ thể và đối tượng tham gia quản lý nhà nước về thu hồi đất ........... 17
1.2.4. Nội dung quản lý Nhà nước trong q trình thu hồi đất ........................ 18
1.3. Tiêu chí đánh giá Quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất để phát triển
kinh tế - xã hội ...................................................................................................... 23
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất để
phát triển kinh tế xã hội ........................................................................................ 24
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU HỒI ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐẠI PHƯỚC, HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG
NAI ..................................................................................................................................... 29
2.1. Khái quát chung về xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai .......... 29
2.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên ........................................................................ 29
2.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội ......................................................................... 29
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về thu hồi đất để phát triển kinh phát triển kinh
tế, xã hội tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai........................... 30
2.2.1. Tình hình thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội tại xã Đại Phước,
huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai ................................................................... 30
2.2.2. Thực trạng xây dựng, áp dụng quy định về thu hồi đất ......................... 33
2.2.3. Tổ chức thực hiện thu hồi đất tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh
Đồng Nai .......................................................................................................... 36
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO:
Food and Agriculture Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
FDI:
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WTO:
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
USD:
United States dollar
Đồng đô la Mỹ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình thu hồi đất tại xã Đại Phước ....................................................31
Bảng 2.2. Đánh giá của đối tượng khảo sát về tính minh bạch trong cơng tác quản
lý nhà nước về thu hồi đất tại xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai ....42
Bảng 2.3. Đánh giá của đối tượng khảo sát về tính đáp ứng trong công tác quản lý
thận trọng, cân nhắc thật kỹ để có những quyết sách đúng đắn, hài hịa lợi ích giữa
Nhà nước - người có đất bị thu hồi - nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê
đất. Bất kỳ sự lơ là, tắc trách nào dù nhỏ đều có thể dẫn tới sự xung đột, thậm chí là
sự phản kháng của những người có đất bị thu hồi, dự án của Nhà nước có thể bị
đình trệ, có thể gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Trong thời gian qua, việc chú trọng đến nâng cao năng lực quản lý Nhà nước
về đất đai và thu hồi đất được quan tâm, nhưng vẫn còn thể hiện những yếu kém về
cơ sở khoa học và thực tiễn thực hiện. Nhiều chính sách được ban hành cịn chưa
hợp lý; việc tổ chức thực hiện còn thiếu minh bạch, chưa tạo được đồng thuận của
người dân; nguồn lực về đất đai chưa được sử dụng thật hiệu quả, cịn tình trạng
lãng phí; tham nhũng, tiêu cực, sai phạm xảy ra... gây bất bình và khiếu kiện, khiếu
nại nhiều trong thời gian qua. Với tình hình hiện nay, nếu cơng tác quản lý Nhà
1
nước về thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện các dự án không được thay đổi sẽ dễ
dẫn đến bức xúc và niềm tin của người dân đối với Nhà nước. Điều này sẽ gây bất
lợi về mặt chính trị và xã hội, gây khó khăn cho Nhà nước trong quản lý kinh tế vĩ
mơ. Vì vậy đổi mới cơng tác quản lý Nhà nước trong q trình thu hồi đất để thực
hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội là vô cùng cần thiết, nhằm điều tiết hợp lý
đất đai, phân phối lại các lợi ích từ đất đai và đảm bảo hài hịa lợi ích của Nhà nước,
nhà đầu tư và đời sống của người dân sau khi thu hồi đất, góp phần phát triển kinh
tế và ổn định chính trị, xã hội. Đổi mới cơng tác quản lý Nhà nước trong q trình
thu hồi đất là vấn đề khó khăn, cần phải dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học và có
những giải pháp toàn diện, đúng đắn đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trong thời gian qua, những địa phương có tốc độ đơ thị hóa nhanh, vấn đề
thu hồi đất cho các mục đích phát triển kinh tế, xã hội gặp rất nhiều trở ngại và
vướng mắc, nhiều trường hợp thu hồi đất gặp phải sự phản đối quyết liệt của người
dân, dẫn đến việc thu hồi đất dây dưa, kéo dài ... thực tế ở xã Đại Phước, huyện
Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai là một ví dụ điển hình.
Trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tốc độ đơ thị hóa
mạnh, phát sinh những mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa người sử dụng đất bị thu
hồi đất với quyền lợi của Nhà nước trong các chính sách về bồi thường, hỗ trợ khi
nhà nước thu hồi đất.
Cho đến nay, nước ta đã có một số cơng trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học và nhà quản lý về đất đai cũng như về thu hồi đất, chẳng hạn cơng trình của
Nguyễn Khắc Sơn, năm 2007, đã nêu ra những vấn đề chính về quản lý nhà nước về
đất đai của Việt Nam bao gồm: những vấn đề chung về quản lý hành chính nhà
nước và quản lý nhà nước về đất đai; q trình phát triển của cơng tác quản lý nhà
nước về đất đai của Việt Nam từ khi lập nước đến nay; nội dung quản lý đất đai
được đề cập ở đây như ban hành các văn bản về đất đai và tổ chức thực hiện, xác
định địa giới hành chính, khảo sát, lập quy hoạch, quản lý việc giao đất thu hồi đất,
đăn ký quyền sử dụng, thống kê về đất đai…
Chính sách chuyển đổi đất đai đã được thực hiện như một phần của chính
sách đổi mới kinh tế. Các tác giả như Nguyễn Đình Bồng, năm 2014, với ấn phẩm
“Mơ hình quản lý đất đai hiện đại ở các nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”;
Nguyễn Văn Sửu, năm 2010, với ấn phẩm “Đổi mới chính sách đất đai ở Việt
3
Nam”. Từ lý luận đến thực tiễn đều khẳng định vấn đề ruộng đất không chỉ là vấn
đề kinh tế mà cịn thuộc loại vấn đề chính trị và tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của các nước trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển. Trong
đó, các tác giả đề cập đến q trình chuyển đổi và thu hồi đất nơng nghiệp như một
quá trình tất yếu của sự phát triển đất nước. Trong quá trình này, nội dung của quản
lý Nhà nước bao gồm việc ban hành và thực hiện các chính sách để điều tiết đất đai.
Đây là những chính sách có tầm quan trọng thiết yếu đối với tăng trưởng bền vững,
quản trị quốc gia hiệu quả, tạo phúc lợi và các cơ hội kinh tế mở ra cho cả người
dân nông thôn và thành thị, đặc biệt là người nghèo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
một số vấn đề lý luận về Pháp luật thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội.
- Phương pháp phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp… để phân tích, đánh
giá thực trạng quản lý thu hồi đất tại xã Đại Phước, đồng thời đề xuất một số giải
pháp tích cực nhằm hồn thiện cơng tác quản lý nhà nước về thu hồi đất trên địa bàn
xã.
- Phương pháp điều tra khảo sát: Luận văn tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi
đối với 60 trường hợp là cán bộ công chức cấp xã, huyện và người dân Đại Phước
trong diện có đất bị thu hồi.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn phân tích được thực trạng, quản lý nhà nước trong thu hồi đất, làm
rõ các mối quan hệ, lợi ích trong việc thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội tại xã
Đại Phước. Chỉ ra những bất cập của quy định trong Luật Đất đai và các văn bản
pháp luật có liên quan khác, những bất cập trong cơng tác quản lý. Từ đó đề xuất
giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thu hồi đất tại xã Đại Phước, huyện Nhơn
Trạch, tỉnh Đồng Nai.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của Luận văn gồm các phần chính sau: Mở đầu, chương 1, chương 2,
chương 3, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước trong thu hồi
đất để phát triển kinh tế, xã hội
5
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thu hồi đất trên địa bàn xã Đại
Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về thu hồi đất trên địa bàn
xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
6
7
Ngược lại với khái niệm giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý
làm hình thành một quan hệ pháp luật đất đai thì thu hồi đất là một biện pháp pháp
lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thu
hồi đất được hiểu là: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất
của người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử
dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà
nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích an
ninh, quốc phịng, lợi ích quốc gia, cơng cộng”. Hiến pháp năm 2013 quy định:
“Nhà nước thu hồi đất do cá nhân, tổ chức đang sử dụng trong trường hợp thật cần
thiết do luật định vì mục đích quốc phịng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải minh bạch, công khai và được bồi
thường theo quy định của pháp luật”. Trên cơ sở pháp lý này, Luật Đất đai năm
2013 có hiệu lực vào ngày 1/7/2014 quy định tại Điều 3: “Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao
quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất
đai”. Từ các khái niệm hay định nghĩa nêu trên cho thấy, dù vấn đề thu hồi đất đặt
ra ở nhiều phương diện khác nhau, theo đó, thu hồi đất có thể vì lý do nhằm đảm
bảo một trật tự chung trong quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo sự tôn trọng và
tuân thủ pháp luật đất đai đối với người sử dụng đất hay thu hồi đất để phục vụ cho
những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của đất nước như quốc phòng, an ninh,
phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, cơng cộng thì thu hồi đất đều được biểu
hiện là một quyết định mang tính "đơn phương" từ Nhà nước áp dụng đối với các
chủ thể đang khai thác và sử dụng đất. Việc thu hồi đất được biểu hiện bằng hình
thức pháp lý là một quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về
giao đất, cho thuê đất. Như vậy, thu hồi đất được hiểu:
- Thu hồi đất là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm
chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng đối với một diện tích đất cụ thể
- Thu hồi đất được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định: thu hồi đất
là một trong những nội dung cơ bản của quản lý Nhà nước về đất đai cùng với việc
giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất. Việc thu hồi đất do cơ quan
quản lý hành chính Nhà nước tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định. Theo
9
đó, trước mỗi quyết định thu hồi đất nhằm chấm dứt quyền sử dụng đất của những
người đang sử dụng đất mà pháp luật quy định những quy trình và thủ tục với các
bước tiến hành cụ thể nhằm đảm bảo tính minh bạch, dân chủ, cơng khai; người có
đất bị thu hồi phải được thông báo trước về lý do thu hồi, kế hoạch di chuyển và
phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng. Hoạt động thu hồi đất không chỉ được
thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước về đất đai mà cịn có sự tham gia, giám sát
của người có đất bị thu hồi, sự đồng hành của doanh nghiệp... trong từng khâu, từng
công đoạn như: từ việc công bố chủ trương thu hồi đất hay công bố quy hoạch sử
dụng đất chi tiết, đến việc tổ chức kiểm đếm tài sản và xây dựng dự thảo về phương
án bồi thường, giải phóng mặt bằng, đến quy trình tổ chức lấy ý kiến, tiếp thu và
giải trình các ý kiến của dân, đến khâu tổ chức niêm yết công khai phương án bồi
thường và tổ chức chi trả tiền bồi thường... Tất cả đều thực hiện theo quy trình hết
sức cụ thể và chặt chẽ.
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước trong quá trình thu hồi đất đai
Theo Luật Đất đai năm 2013, quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất là
một nội dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai, cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước thông qua các cơ chế và công
cụ quản lý, tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất và các quan hệ
đất đai trong xã hội, nhằm phân phối và phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất chung thống nhất, từ đó sử dụng đất có hiệu quả, hợp lý và điều
tiết các mối quan hệ lợi ích từ đất.
Từ Luật Đất đai năm 2013, có thể hiểu, khái niệm quản lý nhà nước về đất
đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ở đó thơng
về đất đai tại địa bàn theo quy định của pháp luật. Những mục đích tốt đẹp đó cần
được thể chế hố bằng các chính sách và các phương pháp tổ chức thực hiện khoa
học trong quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền các cấp bằng các hành động
cụ thể, không phải là “khẩu hiệu”. Có thể nói, quản lý nhà nước về đất đai là một
công việc phức tạp, cùng một mảnh đất tại một vị trí cụ thể nhưng được quản lý trực
tiếp và gián tiếp bởi nhiều cơ quan và cấp độ khác nhau (theo ngành và lãnh thổ).
Nếu xem xét trên địa bàn hành chính cấp xã thì trước hết nó chịu sự quản lý của
chính quyền xã. Nếu xem xét trên địa bàn cấp huyện thì nó vừa phải chịu sự quản lý
11
của chính quyền xã và lại phải chịu sự quản lý của chính quyền huyện. Tiếp tục như
vậy, nếu ta đặt nó trong phạm vi tỉnh và quốc gia thì mảnh đất cụ thể này sẽ tiếp tục
chịu sự quản lý của chính quyền tỉnh, Nhà nước.
Từ những vấn đề trên, tác giả đề xuất khái niệm: Quản lý nhà nước trong
q trình thu hồi đất của chính quyền xã là sự tác động có tổ chức, có định hướng,
trên cơ sở pháp luật, của các cơ quan Nhà nuớc có thẩm quyền đối với các chủ thể
và đối tượng có liên quan, để ban hành và thực hiện các quyết định lấy lại quyền sử
dụng đất đã giao của các đối tượng sử dụng đất nhằm phân phối lại quỹ đất và giải
quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích phức tạp đối với đất đai. Đây là một nội
dung quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai của chính quyền xã thể hiện sự
phối hợp để thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý được giao của chính quyền huyện
với các đơn vị khác thuộc hệ thống quản lý nhà nước về đất đai được pháp luật quy
định, nhằm mang lại môi trường thuận lợi nhất cho người sử dụng đất trong việc
thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với đất đai, đảm bảo đất đai được
sử dụng hiệu quả cao cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vì con người, cộng
đồng, xã hội cũng như bảo vệ môi trường sống bền vững tại xã.
1.2. Quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội
1.2.1. Sự cần thiết khách quan của thu hồi đất để triển kinh tế - xã hội
- Tầm quan trọng của các dự án kinh tế, xã hội: Dự án phát triển kinh tế, xã
Quá trình đơ thị hóa diễn ra mạnh mẽ cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền
kinh tế. Do đó, Nhà nước cần phải xây dựng hệ thống hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ
thuật nhằm cải thiện, nâng cao đời sống cho người dân. Điều này dẫn đến việc Nhà
nước phải thu hồi đất đang sử dụng để chuyển sang mục đích khác. Tuy nhiên, vấn
đề đặt ra cần phải giải quyết; đó là việc thu hồi đất phải được tính tốn một cách
khoa học và dựa trên cơ sở quy hoạch; đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với
ổn định xã hội, giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ với bảo đảm an ninh lương thực
quốc gia và sự phát triển bền vững đất nước.
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, chúng ta đã đạt
được những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, đã và đang tạo ra môi trường kinh
doanh thuận lợi, tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới cho nhà đầu tư trong và ngoài nước.
13
Nhiều nhà đầu tư nước ngồi khi biết được thơng tin Việt Nam sẽ gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) đã “đón đầu” sự kiện này và tích cực đầu tư mạnh vào
Việt Nam. Do đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam bắt
đầu tăng mạnh, theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngồi (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),
tính đến ngày 20/12/2019, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam bao
gồm vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và vốn góp mua cổ phần của nhà đầu tư nước
ngoài đã đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2018. Đây cũng là con số
cao nhất trong vòng 10 năm gần đây.
Theo báo cáo của Vụ Quản lý khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến
cuối năm 2018, Việt Nam có 326 khu cơng nghiệp được thành lập, có 250 khu cơng
nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên gần 68 nghìn ha và 76
khu cơng nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ
bản với tổng diện tích đất tự nhiên 25 nghìn ha.
Chính vì vậy, nhu cầu về đất đai cho các dự án đầu tư trong và ngoài nước là
một vấn đề rất cần thiết và quan trọng. Việc thu hồi đất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao cho các dự án đầu nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế cũng là vấn đề cần
điện lực, cấp nước, thốt nước, thủy lợi, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị...
+ Dự án xây dựng khu dân cư nông thôn khu đô thị mới, khu dân cư nông
thôn mới; cụm công nghiệp chỉnh trang đô thị; khu sản xuất, chế biến nông sản,
thủy sản, hải sản tập trung…
+ Dự án xây dựng cơng trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư;
dự án tái định cư, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở cho sinh viên; xây dựng cơng
trình của cơ sở tơn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ cơng cộng;
chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
+ Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ
trường hợp khai thác khống sản làm vật liệu xây dựng thơng thường, than bùn,
khống sản tại các khu vực có khống sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu
khoáng sản.
Từ việc phân tích khái niệm cũng như đặc điểm của thu hồi đất chúng ta có
thể thấy rằng thu hồi đất là một khái niệm khá phức tạp và phải được xem xét từ
nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các khái niệm đều có một điểm chung về chủ
thể của thu hồi đất đó là Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất. Vì vậy, để cân
15
bằng lợi ích của ba chủ thể này thì vai trò điều tiết của Nhà nước là cực kỳ quan
trọng. Để làm được điều đó thì Nhà nước phải làm tốt hai chức năng cơ bản của
mình đó là chức năng quản lý và chức năng phục vụ. Có như vậy việc thu hồi đất
mới góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Nội dung của quá trình thu hồi đất bao gồm chuyển mục đích sử dụng đất và
chuyển đối tượng sử dụng đất. Vì vậy, quản lý Nhà nước trong quá trình thu hồi đất
nông nghiệp bao gồm việc thiết lập và thực hiện tất cả các quy tắc, cách thức, quy
trình, cấu trúc và các phương pháp mà các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sử
dụng, để định huớng, điều tiết, thúc đẩy, tạo điều kiện cho các quyết định về chuyển
mục đích sử dụng đất nơng nghiệp và chuyển đối tượng sử dụng đất đó. Các chủ thể
và đối tượng tham gia, mục đích, nội dung và các cơng cụ quản lý Nhà nước trong
Vì lợi ích chung, lợi ích của cả cộng đồng, Nhà nước đứng ra thu hồi đất của đối
tượng sử dụng đất để thực hiện sử dụng cho các mục đích khác nhau. Điều này có
thể dẫn đến lợi ích của các đối tượng có liên quan, bao gồm nhà đầu tư, lợi ích cộng
đồng dân cư và của người nơng dân có thể hài hịa nhưng cũng có thể mâu thuẫn với
nhau.
Nếu như khơng đảm bảo được lợi ích của người nơng dân, thì cho dù là thu
hồi đất để xây dựng các cơng trình phúc lợi, hay để phát triển kinh tế - xã hội mang
lại lợi ích cho số đơng người dân trong xã hội, cũng khó nhận được sự đồng tình của
người dân, đẩy họ rơi vào tình trạng khó khăn về sản xuất. Rõ ràng, lợi ích kinh tế
của các đối tượng vẫn là yếu tố quan trọng chi phối các mối quan hệ xã hội. Do đó
khi thu hồi đất, Nhà nước phải đặt mục tiêu hài hòa về quyền lợi giữa các đối tượng
này.
1.2.3. Chủ thể và đối tượng tham gia quản lý nhà nước về thu hồi đất
Quan hệ pháp luật hay quan hệ dân sự trong xã hội đều nhằm hướng đến mục
đích cụ thể là làm hài hịa lợi ích về tinh thần, vật chất, kinh tế của các chủ thể tham
gia. Bản thân hoạt động thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội đã có tính mục đích
và lợi ích mà nó hướng đến chính là lợi nhuận. Trong những lợi ích về tinh thần và
vật chất thì có lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Chẳng hạn như khi thu hồi đất
thực hiện các dự án là nhà ở sẽ tạo ra lợi ích chung là tạo ra quỹ nhà ở cho xã hội,
nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, xét về góc độ kinh tế, thì chủ đầu tư là
những người được hưởng lợi đầu tiên.
17