A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục phổ thơng giữ vai trị là động lực thúc đẩy q trình chuyển đổi và
phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Để thực hiện được bước đột phá mới trong giai
đoạn hiện nay nhằm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thơng thì quản lý
hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên phổ thông là nhiệm vụ hàng đầu, là
trọng tâm trong quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, qua đó nâng
cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Giáo dục phổ thông nước ta đang thực
hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng
lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến
chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều
đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo
lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện
kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá
kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận
dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với
kiểm tra đánh giá trong q trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao
chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, tồn diện giáo
dục và đào tạo xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của
giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”;
“Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân,
phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo
đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt
đời”. Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường trung học
cần được tiếp cận theo hướng đổi mới.
Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 Ban hành Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, tồn
giáo viên các trường THPT huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo tiếp cận năng lực,
đề xuất một số biện pháp quản lý bồi dưỡng nhằm góp phần phát triển năng lực đội
ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng dạy học các nhà trường trong bối cảnh chuẩn bị
triển khai Chương trình giáo dục phổ thơng ban hành năm 2018.
3. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên trường THPT theo tiếp cận năng lực trong bối cảnh chuẩn bị triển khai
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành năm 2018.
5.1.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên các trường THPT huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo tiếp cận năng
lực và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý.
5.1.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên các trường trường THPT huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo tiếp cận năng
lực.
2
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về chủ thể quản lý: Tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng
trường THPT trong quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên theo
tiếp cận năng lực trong bối cảnh chuẩn bị triển khai Chương trình giáo dục phổ
thông ban hành năm 2018.
- Về địa bàn: Nghiên cứu tại 3 trường THPT huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng và sự cần thiết, tính khả thi của các giải pháp đề
xuất trong năm học 2019-2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích - tổng hợp, hệ thống hố
khái qt hố, so sánh, mơ hình hố… các tài liệu lý luận và các văn bản pháp quy
có liên quan về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên theo tiếp
Đào tạo tiếp cận năng lực hay còn được gọi là GD&ĐT dựa trên năng lực là một
cách tiếp cận để giảng dạy và học tập được sử dụng thường xuyên trong việc học
các kỹ năng cụ thể hơn là việc học một cách trừu tượng. Mơ hình này được hình
thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970 và phát triển mạnh mẽ
trong những năm 1990 ở hàng loạt các cơ sở GD và doanh nghiệp tại Mỹ, Anh, Úc,
New Zealand. Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các
nhà GD xem cách tiếp cận này là cách thức có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất để tạo ra
sự phù hợp giữa GD, đào tạo và nhu cầu về năng lực.
Hiện nay, chủ yếu các cơng trình nghiên cứu tập trung vào tiếp cận năng lực học
sinh. Cụ thể như:
Harris et al (1995) cho rằng GD dựa trên năng lực phát huy tối đa năng lực riêng
của mỗi học sinh, giúp học sinh tự tìm tịi, khám phá tri thức dựa trên sở thích và
mối quan tâm riêng của chúng, giúp HS làm chủ tri thức và vận dụng nó vào thực
tế cuộc sống. GD dựa trên năng lực thúc đẩy tư duy sáng tạo, phản biện và khả
năng giải quyết vấn đề. Nó nhấn mạnh đến các tình huống thực tế cuộc sống và
thông qua để giải quyết các tình huống đó, kết quả là từ những tình huống thực tiễn
mà HS có thể rút ra kinh nghiệm và tri thức cho riêng mình.
Năm 2008, trong dự án khuyến nghị cải cách GD trung học, VLOR đã đi một
bước quyết định, khi đã tuyên bố rằng: Một ttrong những vai trò cốt yếu của GD
trung học là đảm bảo sự hòa nhập xã hội cho những người trẻ tuổi và cho phép họ
“phát triển các năng lực ở mức độ nào đó để họ có thể tiến triển theo cách được xã
hội chấp nhận, trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng và trong cuộc sống
nghề nghiệp”. Cúng trong tài liệu này, VLOR đánh giá rằng, tiếp cận năng lực là
một trong những địn bẫy chính giúp cho GD trung học thích nghi tốt hơn trước
những thách thức của xã hội hiện đại (VOLR 2008).
Gervais (2016) đã đưa ra một định nghĩa về GD dựa trên năng lực như sau: GD
dựa trên năng lực được định nghĩa như là một hướng tiếp cận dựa vào kết quả đầu
ra của người học (outcome – based – education), kết hợp chặt chẽ giữa các phương
thức giảng dạy và hình thức đánh giá được thiết kế nhằm đánh giá việc học của HS
quan trọng của chất lượng và sự thành công trong giáo dục ở bất kỳ xã hội nào.
Về năng lực sư phạm của giáo viên, Ernesto Cuadra và Juan Manuel Moreno cùng
cộng sự (World Bank 2005) đề xuất một bộ năng lực GV, gồm 3 nhóm năng lực với
12 năng lực cơ bản: nhóm năng lực trong lĩnh vực nghề nghiệp, nhóm năng lực
trong lĩnh vực nghề nghiệp, nhóm năng lực trong lĩnh vực dạy học, nhóm năng lực
trong lĩnh vực trường học.
Tác giả Nguyễn Thị Bình trong báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp nhà nước:
“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
phổ thông”, cho rằng, GV phổ thơng cần phải có những năng lực nghề nghiệp gồm:
năng lực tìm hiểu học sinh và môi trường giáo dục, năng lực giáo dục nhằm phát
5
triển toàn diện nhân cách học sinh, năng lực dạy học mơn học trong chương trình
giáo dục, năng lực giao tiếp để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và giáo dục, năng
lực đánh giá trong giáo dục, năng lực hoạt động xã hội, năng lực phát triển nghề
nghiệp.
Như vậy, đã có một số nghiên cứu hiện nay đề cập đến vấn đề năng lực học sinh,
năng lực giáo viên. Tuy nhiên, vấn đề bồi dưỡng giáo viên phổ thông theo tiếp cận
năng lực chuẩn bị tốt đội ngũ cho chương trình phổ thơng mới và qua đó nâng cao
chất lượng giáo dục địa phương thì cịn rất ít người đề cập đến.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý nhà trường phổ thông
Nhà trường với tư cách là một tổ chức GD cơ sở, vừa mang tính GD, vừa mang
tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống
GD ở bất kỳ cấp nào từ Trung Ương đến địa phương. Chính vì vậy nhà trường vừa
là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp QLGD, vừa là hệ thống độc lập tự
quản của xã hội. Do đó quản lý nhà trường phải nhất thiết vừa có tính chất nhà
nước, vừa có tính chất xã hội.
Trong cuốn sách Một số vấn đề giáo dục – khoa học giáo dục, tiến sĩ Phạm Minh
Tác giả Trương Chính viết “Bồi dưỡng là rèn luyện thêm cho những người vốn có
khả năng trở thành những người giỏi hơn”.
Theo một cách tổng quát, BD là quá trình nâng cao năng lực làm việc của người lao
động thông qua việc bổ sung, trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ mới, đáp ứng yêu
cầu nghề nghiệp và vị trí việc làm của họ. Thực chất của quá trình BD là để bổ
sung, cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu nhằm nâng cao trình độ,
phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoặc hoạt động CM, đồng thời nhằm
mở mang và nâng cao tri thức, kỹ năng, kỹ xảo CM đã có sẵn, giúp cho cơng việc
đang làm đạt hiệu quả tốt hơn.
1.2.2.2. Bồi dưỡng chuyên môn
“Bồi dưỡng chuyên môn” là BD kiến thức, kỹ năng tay nghề, năng lực mới, chuyên
sâu hay nâng cao của một ngành khoa học, kỹ thuật nào đấy.
BDCM cho GV là các hoạt động giúp GV cập nhật kiến thức mới, chuyên sâu hay
nâng cao năng lực về dạy học và GD theo yêu cầu của ngành học, bậc học, của xã
hội và thời đại. Hoạt động BDCM đối với một GV là thường xuyên, liên tục trong
quá trình hoạt động nghề nghiệp của người GV, kế thừa và phát triển những năng
lực đã được hình thành trước đây; GV là chủ thể là đối tượng được BD hoặc chủ
động tự BD, tự học trong quá trình BDCM.
Đối với GV THPT, BDCM là giúp GV nắm vững hay lĩnh hội thêm những kiến
thức khoa học cơ bản, khoa học chuyên ngành, khoa học sư phạm có liên quan,
phát tiển năng lực dạy học các mơn học trong chương trình THPT để họ đáp ứng tốt
hơn các yêu cầu của đối tượng HS, yêu cầu đổi mới GD của cấp học, bậc học.
1.2.3. Năng lực và tiếp cận năng lực
Chương trình giáo dục định hướng năng lực (định hướng phát triển năng lực)
nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những
năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo
dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.
7
năng lực cơ bản của Hội đồng châu Âu, sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng
lực, F.E. Weinert (OECD, 2001) kết luận:
Xuyên suốt các môn học “năng lực được thể hiện như một hệ thống, khả năng, sự
thành thạo hoặc những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn
tới một mục đích cụ thể”. Cũng tại diễn đàn này, J Coolahan (Ủy ban châu Âu
1996) cho rằng: Năng lực được xem như là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở
8
tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển
thông qua thực hành GD”.
Trong cuốn Công nghệ giáo dục kỹ thuật và dạy nghề (nguyên bản tiếng Pháp đã
được dịch sang tiếng Việt), Bộ Giáo dục Quebec Canada định nghĩa năng lực là:
“khả năng thực hiện một nhiệm vụ trọn vẹn, đạt chuẩn kỹ năng tương ứng với
ngưỡng quy định khi bước vào thực tế lao động”.
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản ánh năng lực
làm cho tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận.
Năng lực là: “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng
hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị
xã hội) được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của
hoạt động”.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng
lực được sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
- Trong các mơn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với
nhau nhằm hình thành các năng lực;
- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...;
- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức
cung cấp tri thức mà chủ yếu là rèn luyện kỹ năng, nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm
đúng đắn.
Thứ hai, GD theo tiếp cận năng lực cho rằng muốn giúp người học học tập, rèn
luyện để đạt được các năng lực thì phải coi trọng và dựa vào năng lực đã có của họ.
Điều này phù hợp với lý thuyết vùng cận phát triển của L.X. Vygotsky, dỵ học phải
dựa vào kinh nghiệm nền tảng của cá nhân người học mới mang lại kết quả tốt.
Bản chất của QL BDCM GV theo tiếp cận năng lực chính là điều khiển, gây ảnh
hưởng đến các lực lượng tham gia công tác BD giúp cho họ hiểu và thực hiện quá
trình BD theo tiếp cận năng lực để đạt được hiệu quả BD cao hơn. Muốn vậy các
nội dung BD cần phải lựa chọn sao cho có thể giúp cho GV đạt được các năng lực
cần thiết. Bên cạnh đó, trong q trình BDCM cho GV thì cần thực hiện triệt để tư
tưởng dựa vào năng lực của người học, kinh nghiệm đã có của họ để thực hiện BD
hiệu quả hơn. Cụ thể, mục tiêu BD cần phải được xử lý thành các năng lực cần thiết
của GV trên cơ sở đó lựa chọn nội dung cần thiết BD và sử dụng phương pháp BD
thích hợp gắn với kinh nghiệm và hiểu biết của họ.
Tiếp cận năng lực thực chất là những định hướng, quan điểm tiếp cận đầu ra, lấy
năng lực như là một yếu tố của quá trình đánh giá, nghiên cứu, đào tạo nào đó.
Tiếp cận dựa trên năng lực là:
1/ Tiếp cận năng lực chú trọng vào kết quả (outcomes) đầu ra.
2/ Tiếp cận năng lực tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới những kết quả đầu ra,
theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân.
3/ Đào tạo theo tiếp cận năng lực cho phép cá nhân hóa việc học: trên cơ sở mơ
hình năng lực, người học sẽ bổ sung những thiếu hụt của cá nhân để thực hiện
những nhiệm vụ cụ thể của mình.
10
Hơn nữa, tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng
những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả. Việc
chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan (tiêu chuẩn
- Theo các thành tố của hoạt động BD: QL việc thực hiện mục tiêu BD, QL việc
thực hiện chương trình, kế hoạch BD, QL việc sử dung phương pháp và hình
thức BD, QL việc kiểm tra, đánh giá BD.
11
Trong phạm vi nghiên cứu này quan niệm QL hoạt động BDCM là q trình tác
đọng có chủ định trong phối hợp, điều khiển các thành tố tham gia vào quá trình
BDCM GV nhằm hình thành năng lực dạy học, GD cho ĐNGV THPT từ đó nâng
cao chất lượng dạy học trong toàn huyện được nâng lên, đáp ứng yêu cầu phát triển
năng lực học sinh và phù hợp với tình hình phát triển khinh tế - chính trị - xã hội.
Ban giám hiệu các trường THPT mà đứng đầu là Hiệu trưởng là cơ quan chủ
quản chỉ đạo và chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng ĐNGV, chất lượng GD
toàn diện của ngành GD THPT trong toàn huyện. Chính vì vậy, một trong các yếu
tố, điều kiện tiên quyết có tính quyết định đến chất lượng GD là Hiệu trưởng phải
làm tốt công tác BD, phát triển ĐNGV.
Bản chất của QL BDCM GV theo tiếp cận năng lực chính là điều khiển, gây ảnh
hưởng đến các lực lượng tham gia công tác BD giúp cho họ hiểu và thực hiện quá
trình BD theo tiếp cận năng lực để đạt được hiệu quả BD cao hơn. Muốn vậy, các
nội dung BD cần phải lựa chọn sao cho có thể giúp cho GV đạt được các năng lực
cần thiết. Bên cạnh đó, trong q trình BD ĐNGV thì cần thực hiện triệt để tư
tưởng dựa vào năng lực của người học, kinh nghiệm đã có của họ để thực hiện BD
GV. Cụ thể mục tiêu BD cần phải được xử lý thành các năng lực cần thiết của
người GV trên cơ sở đó lựa chọn nội dung cần thiết và sử dụng phương pháp BD
thích hợp gắn với kinh nghiệm và hiểu biết của họ.
1.2.5. Biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể.
Như vậy, biện pháp QL hoạt động BDCM được hiểu là những cách thức, những
phương tiện mà các cấp QL, các nhà QL dùng để tác động lên ĐNGV nhằm đạt
Ngày nay, học sinh khơng chỉ học để có điểm cao, thi đỗ mà phải có phẩm chất
và năng lực của người công dân trong thời đại mới. Bên cạnh những phẩm chất,
năng lực truyền thống vẫn được xã hội thường xuyên nhắc đến “Tâm – Tầm - Tài”
thì người GV ngày nay cần hình thành phẩm chất năng lực mới phù hợp với
chương trình GD mới hiện nay.
Thứ nhất, Người GV khơng cịn chỉ đóng vai trị là người truyền đạt tri thức mà
phải là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt
động tìm tịi, khám phá, sáng tạo của HS, giúp HS tự lực chiếm lĩnh tri thức của
nhân loại, dân tộc hình thành kỹ năng và các phẩm chất chính trị, đạo đức.
Thứ hai, GV phải là một cơng dân gương mẫu, có ý thức trách nhiệm xã hội,
hăng hái tham gia vào sự phát triển của cộng đồng, là người đóng vai trị quan
trọng trong việc hình thành bầu khơng khí dân chủ, thiết lập các quan hệ xã hội
công bằng, tốt đẹp, … trong lớp học, trong nhà trường, từ đó góp phần vào việc xây
dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Thứ ba, GV phải có lịng u mến, tơn trọng và có khả năng tương tác với học
sinh. GV phải hiểu được sự khác nhau giữa các HS trong cách chúng tiếp cận với
học hành, đồng thời tạo ra được những cơ hội giảng dạy khác nhau cho phù hợp với
các đối tượng HS khác nhau.
Thứ tư, GV phải có năng lực đổi mới PPDH, chuyển từ kiểu dạy học tập trung
vào vai trò của GV và hoạt động dạy sang kiểu dạy tập trung vào vai trò của HS và
hoạt động học; từ cách dạy thơng báo – giải thích sang cách dạy hoạt động tìm tịi,
13
khám phá. Trong năng lực đổi mới PPDH, GV phải có khả năng cập nhật và nghiên
cứu, vận dụng những PPDH mới, tích cực; biết phối hợp các PPDH truyền thống,
hiện đại để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học.
Thứ năm, GV phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng CM nghiệp
vụ, không ngừng cập nhật tri thức khoa học và chuyên ngành hiện đại.
Thứ sáu, GV phải có trình độ tin học và khả năng sử dụng các phần mềm dạy học
- Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung GD cốt lõi, bắt
buộc đối với HS toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa
phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung phù hợp với đối
tượng HS và điều kiện nhà trường.
- Chương trình chỉ quy địnhnhững nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần
đạt về phẩm chất và năng lực của HS, nội dung GD, phương pháp GD và việc đánh
giá kết quả GD.
- Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực
hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu của thực tế.
1.3.2.1.2. Mục tiêu chương trình giáo dục trung học phổ thơng
Chương trình GD phổ thơng cụ thể hóa mục tiêu GD phổ thông, giúp HS làm chủ
kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống
và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và
phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm
hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự
phát triển của đất nước và nhân loại.
Chương trình GD THPT giúp HS tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần
thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý
thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở
thích, điều kiện và hồn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham
gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những thay đổi trong bối cảnh
tồn cầu hóa và cách mạnh công nghiệp mới.
1.3.2.1.3. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
Chương trình GD phổ thơng được hình thành và phát triển cho HS những phẩm
chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. với những
năng lực cốt lõi:
- Những năng lực chung được hình thành, phát triển thơng qua tất cả các mô học và
hoạt động GD: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác , năng lực
giải quyết vấn đề và sáng tạo;
chuyển đổi này là phần lớn GV đang có thói quen truyền đạt một chiều và thiếu
năng lực thiết kế các hoạt động sáng tạo của học sinh. Ngoài ra, việc kiểm tra đánh
giá hiện nay đang theo hướng tiếp cận nội dung đã ảnh hưởng đến quyết tâm đổi
mới của GV.
Thứ hai, chương trình từ chỗ chưa phân cấp chuyển sang chương trình mở, có sự
phân cấp. Với quan điểm là giáo dục dựa vào nhà trường, đổi mới này đòi hỏi GV
phải có năng lực phát triển chương trình nhà trường. Thế nhưng hầu hết GV phổ
thông hiện nay không quan tâm đến nghiên cứu, phân tích chương trình trước khi
thiết kế bài học mà họ chủ yếu dựa vào thơng tin sách giáo khoa. Thậm chí có GV
khơng bao giờ đọc chương trình, cứ mở SGK dạy. Điều đó cũng tương tự như họ
lên sân khấu diễn kịch mà khơng đọc kịch bản. Đó là một khó khăn.
Thứ ba, chương trình lần này là chương trình phát triển năng lực cho nên giáo
dục tích hợp trở thành một phương thức chủ yếu bởi vì năng lực là khả năng kết nối
kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực để giải quyết các vấn đề
nhận thức và thực tiễn. Trong khi đó, GV hiện nay cịn lúng túng về tổ chức dạy
học tích hợp, họ vẫn quen dạy học từng đơn vị nội dung rời rạc. Điều này làm cho
dạy học trở nên quá tải bởi những nội dung rời rạc ít có ý nghĩa đối với học sinh.
16
Thứ tư, chương trình mới chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 1 là từ lớp 1 đến lớp 9
(giáo dục cơ bản) với mục tiêu giáo dục tri thức phổ thông, cơ bản cần cho mọi
người; giai đoạn 2 là từ lớp 10 đến lớp 12 được gọi là giai đoạn giáo dục phân hóa,
định hướng nghề nghiệp với mục tiêu học sinh sẽ được chuẩn bị những tri thức gắn
với từng lĩnh vực ngành nghề. Đổi mới này nảy sinh khó khăn cho GV là ở giai
đoạn 1, GV lại phải có nền tri thức rộng, nhưng đến giai đoạn 2 thì GV lại phải có
tri thức sâu về từng chuyên ngành. Như vậy cả hai thái cực rộng và sâu ấy GV phải
được bồi dưỡng mới đáp ứng chương trình mới.
Với những khó khăn trên thì giải pháp khắc phục là:
GV phải được bồi dưỡng về dạy học phát triển năng lực bao gồm: bồi dưỡng về
tăng lên của yêu cầu phát triển GD của các cấp học. Chính vì vậy, đẩy mạnh cơng
tác BD GV là một u cầu khách quan có tính cấp thiết để xây dựng và nâng cao
chất lượng ĐN nhà giáo.
1.4.1.2. Nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên trung học phổ thông
Học tập để nâng cao CM nghiệp vụ là nhiệm vụ thường xuyên của người GV,
xuất phát nhu cầu từ phía nhà trường, học sinh và các yếu tố khách quan cùng với
nhu cầu đến từ chính bản thân GV. Nhu cầu BD phải dựa trên cơ sở thực tế và đặc
điểm, tình trạng, mục tiêu, kế hoạch hoạt động của nhà trường hàng năm. Thậm chí
nhu cầu này có thể không giống nhau giữa các trường trên địa bàn. Sự phù hợp của
nội dung BD đối với người được BD sẽ là động lực quan trọng để tạo hứng thú cho
người học cũng như nâng cao kết quả làm việc của ĐNGV sau khi BD. Tùy theo
thực trạng của nhà trường, trình độ của HS cũng như điều kiện thực tế của từng
trường, CBQL cần thực hiện khảo sát và đưa ra các kế hoạch BD phù hợp.
Song song với điều đó, hoạt động BD cũng cần được xây dựng dựa trên đối
tượng được BD, nhu cầu của người học: phát triển năng lực người học, nâng cao uy
tín, nâng cao tầm vóc CM của GV, vì vậy chính bản thân GV cần phải có tinh thần
và ý thức tự học, nắm được các mặt mạnh yếu của bản thân để tự có kế hoạch, biện
pháp BD phù hợp. Đối với các hoạt động BD thường xuyên và tập trung, việc khảo
sát nhu cầu BD của ĐNGV là vô cùng cần thiết, vì vậy khảo sát nhu cầu cần phải
tiến hành thường xun, tồn diện. Các thơng tin thu được sẽ hỗ trợ rất lớn cho
CBQL lên kế hoạch BD thích hợp, hiệu quả và thiết thực hơn cho GV và cho cả
nhà trường.
Ngồi ra, trên thực tiễn cịn có thể xuất phát những nhu cầu khác và tùy theo
điều kiện QL cụ thể để nhà trường cân nhắc lựa chọn, triển khai trong thực tiễn.
Việc xác định nhu cầu BD của ĐNGV sẽ đảm bảo tính hệ thống, thực dụng của
chương trình BD với điều kiện thực tế. Khơng những thế, chương trình BDCM cho
GV khi chính người GV có nhu cầu, khao khát học tập thì cơng tác BD trở nên dễ
dàng hơn rất nhiều và sẽ mang lại hiệu quả tốt. Quan trọng hơn nữa, nếu BD mà
khơng dựa vào năng lực của GV thì sẽ gặp tác động ngược lại và gây lãng phí thời
gian và kinh phí.
hiện thông qua công việc lâu dài và liên tục, đáp ứng kịp thời với nhu cầu của đồng
nghiệp ngay trong quá trình dạy học và GD.
3/ Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Theo nguyên lý chung, sự phát triển phải diễn ra một cách đồng bộ và trọng điểm,
đây là nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng GD. Trong bất cứ nhà
trường nào thì người GV chính là nhân tố nịng cốt quan trọng có sức ảnh hưởng
đến các yếu tố nâng cao chất lượng nhà trường.
Chất lượng của ĐNGV vừa tồn tại với tư cách là thành tố cấu trúc của ĐNGV
THPT, vừa là kết quả của sự kết hợp hài hòa các yếu tố cấu trúc trên phương diện
số lượng và cơ cấu. Chất lượng GV là kết quả đào tạo của mỗi GV, là kết quả của
sự tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp, việc tiếp tục học tập và thường xuyên nâng
cao trình độ của mỗi GV. Đó là sản phẩm của quá trình phát triển nghề nghiệp liên
tục của GV THPT. Người QL cấp THPT góp phần quan trọng vào việc nâng cao
chất lượng ĐNGV THPT thông qua việc thực hiện BDCM nghiệp vụ cho đồng
nghiệp một cách khoa học và liên tục.
19
4/ Nâng cao chất lượng giáo dục THPT
Người GV khi được trang bị CM một cách chắc chắn và bài bản sẽ là người có
năng lực trong việc tạo ra môi trường thuận lợi để hoạt động học tập của HS được
hình thành và phát triển.
GV có năng lực sẽ trở thành các chun gia về tích cực hóa học tập của HS bằng
các biện pháp dạy học theo năng lực người học như dạy học tích hợp, dạy học cá
nhân, dạy học phân hóa, dạy học có vấn đề… từ đó chuyển hóa mục tiêu dạy học
trở thành động cơ học tập của HS thông qua việc thiết kế hệ thống các nhiệm vụ
học tập phù hợp và có tính vấn đề đối với các đối tượng HS khác nhau. Một cách
cụ thể hơn, cùng một vấn đề học tập trong nội dung học vấn được xác định trong
sách giáo khoa, người GV có thể chuyển hóa thành những nhiệm vụ học tập đơn
giản đến mức HS yêu, kém cũng có thể giải quyết, thực hiện được một cách hứng
Nội dung BDGV nên tập trung vào hai lĩnh vực chính là kiến thức cơ bản và
các kiến thức CM nghề nghiệp. Trong đó, các nội dung BD về CM là:
- Các kiến thức về chuẩn nghề nghiệp GV;
- Các biện pháp cần thiết để đổi mới phương thức QL dạy học;
- Tổ chức triển khai dạy học theo tài liệu hướng dẫn đổi mới;
- Các vấn đề CM theo hướng cập nhật hóa, hiện đại hóa kiến thức và tiếp cận
các thông tin khoa học cần thiết cho công tác dạy học và GD;
- Các vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp lựa chọn và tiếp
cận các thông tin khoa học;
- BD phương pháp và kỹ thuật đánh giá kết quả học tập;
- Kinh nghiệm hoạt động GD, kinh nghiệm GD;
- Xây dựng các môi trường học tập tích cực.
Để làm được điều đó, CBQL GD, giảng viên đứng lớp cần có kiến thức CM,
nghiệp vụ chắc chắn; nắm bắt được tình hình nhà trường và có hiểu biết sâu sắc về
nội dung đổi mới. Từ đó đầu tư cho cơng tác BD và QL hoạt động BD đội ngũ GV
nhà trường. Đồng thời, chương trình BDGV phải có các nội dung đáp ứng hoạt
động tự học, tự BD của GV, các nội dung phải có sự liên kết hệ thống để đảm bảo
sự liên kết trong quá trình BD, phù hợp với các phương pháp, hình thức BD.
1.4.4. Hình thức và phương pháp bồi dưỡng chun mơn cho giáo viên
1.4.4.1. Hình thức bồi dưỡng
Cùng với sự đổi mới của GD, việc BDGV cũng được thực hiện linh hoạt dưới
nhiều hình thức. Tùy theo đặc điểm của nhà trường và yêu cầu, mục tiêu BD trong
từng giai đoạn nhất định, CBQL lựa chọn hình thức BD phù hợp, phần lớn các hoạt
động BD được thực hiện dưới hình thức BD tập trung trực tiếp một cách thường
xuyên hoặc theo chuyên đề.
a) Bồi dưỡng tập trung
- BD qua các lớp tập huấn, lớp chuyên đề, lớp nghiệp vụ (theo kế hoạch của Sở
GD&ĐT; của các trường THPT..)
- BD thơng qua sinh hoạt nhóm, tổ CM, tổ chức hội thảo theo từng trường hoặc
cụm trường, tổ chức thi GV dạy giỏi các cấp…
sách, qua đồng nghiệp … thì khơng thể đi trước và đáp ứng tốt công tác giảng dạy,
ôn luyện. Đặc biệt, trong ơn thi HS giỏi, CĐ-ĐH.. thì kiến thức, kinh nghiệm, bản
lĩnh, kĩ năng …. của người thầy càng đóng vai trị lớn và thậm chí mang yếu tố
quyết định đến sự thành cơng của học trị. Theo GS.TS Đinh Quang Báo – Nguyên
Hiệu trưởng trường ĐHSP Hà Nội: Một GV để khơng bị tụt hậu và phát triển thì tất
yếu phải tự học, tự bồi dưỡng kiến thức và nâng cấp bản thân mình thường xun,
liên tục.
Chỉ có sự chăm chỉ đào luyện kiến thức từ những người thầy mới có thể đào tạo
nên những học trị giỏi và tạo cho các em niềm đam mê học tập. Song vấn đề tự
học, tự nâng cao kiến thức trong đội ngũ GV đã và đang cần sự quan tâm, thúc đẩy,
tạo điều kiện từ các nhà trường. Và hơn thế, ý thức, nhận thức đúng đắn của mỗi
22
GV xung quanh vấn đề tự học tự nâng cấp tri thức cho bản thân đúng đắn vai trò
tiên quyết.
Người GV phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và tất yếu phải thực
hiện việc tự BD cho bản thân. Họ cũng cần hiểu rằng, với những tri thức khoa học
và phương pháp sư phạm được đào tạo trên ghế nhà trường thì khơng thể thỏa mãn
và đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới thường xuyên trong GD. Hơn thế, những yêu cầu
của xã hội đặt ra cho GD và đào tạo ngày càng lớn thì người GV không thể chỉ đào
tạo một lần là thỏa mãn mà phải thường xuyên nâng cao, BDCM nghiệp vụ.
1.4.4.2. Phương pháp bồi dưỡng
Phương pháp BD phụ thuộc chặt chẽ vào hình thức BD, CBQL và GV phải áp
dụng các phương pháp BDCM phù hợp, kết hợp linh hoạt nhiều phương pháp BD
trong hoạt động BD để dảm báo nội dung BD được truyền đạt hiệu quả để người
học tiếp thu tri thức dễ dàng.
- Đối với hình thức BD tập trung: phương pháp thuyết trình, thảo luận, dạy học
có vấn đề, vấn đáp, thực hành, đóng vai, sinh hoạt tập thể…
- Đối với hình thức thơng qua sinh hoạt tổ CM: Trình bày ý kiến, thảo luận,
- Phỏng vấn trực tiếp hoặc bằng phiếu các lực lượng tham gia BD.
Kết quả BD được thể hiện:
- Kết quả giảng dạy của GV;
- Kết quả giảng dạy của GV sau khi tham gia tập huấn lại;
- Kết quả giảng dạy môn học của nhà trường;
- Kết quả thi GV giỏi các cấp;
- Kết quả thi học sinh giỏi các cấp;
- Tạo động lực cho GV đã tham gia BD.
1.5. Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên các trường trung
học phổ thông theo tiếp cận năng lực
1.5.1. Ý nghĩa của quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
các trường THPT theo tiếp cận năng lực
ĐNGV là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quyết định đối với sự phát
triển của một nhà trường, bởi lẽ hộ là lực lượng trực tiếp tham gia tổ chức thực hiện
có hiệu quả các khâu của quá trình dạy học, GD và nâng cao chất lượng HS, phát
triển nhà trường. Chính ĐNGV là nền tảng của nhà trường truyền đạt, thực thi
nhiệm vụ của Hiệu trưởng để đạt mục tiêu năm học. Việc phát triển dội ngũ nhà
giáo chính là việc góp phần đổi mới cơng tác QL, nâng cao chất lượng dạy học và
GD trong các nhà trường; đồng thời tạo động lực phấn đấu trong việc nâng cao tay
nghề, thể hiện chính mình trong cơng tác dạy học.
GV là yếu tố quyết định chất lượng GD – Đó chính là ngun lý khơng thay đổi.
Chính vì vậy, việc thực hiện chương trình BD vừa để duy trì khơng mai một đi
những gì đã học mà còn bổ sung những khiếm khuyết mà lúc đào tạo để lại. BD để
cho kỹ năng sư phạm trở thành kỹ xảo. BD là sự phát triển, sử dụng thế năng của
năng lực GV từ dạng tích lũy có được từ khi học ở các bậc học đã được đào tạo,
ngăn chặ sự hao mòn kiến thức đã được học, phá vỡ sức ỳ trong mỗi con người GV.
Chính vì vậy, đẩy mạnh công tác BD GV là một yêu cầu khách quan có tính cấp
thiết để xây dựng và nâng cao chất lượng ĐN nhà giáo.
1.5.2. Hiệu trưởng trường THPT và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên các trường THPT đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ
- Giúp giáo viên có khả năng nhận ra, biết chấp nhận mỗi cá nhân học sinh
Khi biết chấp nhận học sinh như một cá thể độc lập, họ sẽ biết chấp nhận bản
thân và ngược lại. Chấp nhận học sinh là điều kiện cần để tiến hành giáo dục theo
quan điểm giáo dục lấy học sinh làm trung tâm. Người giáo viên có biết chấp nhận
học sinh thì mới có thể tạo ra mơi trường học tập thoải mái và tiến hành bài học có
ý nghĩa.
- Giáo viên cần hiểu đúng và áp dụng được phương pháp giáo dục mới vào
thực tế giảng dạy hàng ngày
Thực tế hiện nay đội ngũ GV THPT được đào tạo và bồi dưỡng hàng năm về
phương pháp dạy học mới. Nhưng giữa lý thuyết và thực tế, giữa nhận thức và hành
động luôn có khoảng cách lớn. Trong những chương trình bồi dưỡng vẫn còn nhiều
25