GVHD: Th.S Trương Hòa Bình SVTH: Nguyễn Hoàng Minh Tuấn
67
CHƯƠNG 5
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ ATM
5.1 HẠN CHẾ - NGUYÊN NHÂN
Khó khăn đầu tiên đối với VCB nói riêng và tất các các Ngân hàng triển khai
dịch vụ thẻ thanh toán nói chung là thói quen thanh toán của người Việt Nam.
Nền kinh tế nước ta đang dần phát triển, thu nhập của dân cư ngày càng được cải
thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp, những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu
chủ yếu được mua sắm ở chợ “tự do” cộng với thói quen sử dụng tiền mặt, đơn
giản, thuận tiện không dễ nhanh chóng thay đổi. Mặt khác, dù số lượng thẻ được
phát hành và số người sử dụng khá lớn nhưng chủ yếu là để rút tiền. Đây là
nguyên nhân quan trọng gây khó khăn cho việc triển khai thanh toán không dùng
tiền mặt giảm lượng tiền mặt trong lưu thông cũng như việc phát triển dịch vụ thẻ
của Ngân hàng.
Bên cạnh thói quen sử dụng tiền mặt thì nhận thức và hiểu biết nhất định về
vai trò của thẻ ATM trong thanh toán của người dân vẫn còn khá thấp. Vì vậy, họ
chỉ xem thẻ ATM như một nơi cất giữ tiền an toàn và có thể rút một cách dễ dàng
chứ chưa thấy được hết vai trò cũng như sự tiện lợi trong thanh toán mà thẻ ATM
mang lại.
Số lượng máy ATM và các đơn vị chấp nhận thẻ của VCB Cần Thơ tuy có
vượt trội so với các Ngân hàng khác nhưng vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu ngày
càng lớn của các khách hàng sử dụng. Nguyên nhân chính là do chi phí đầu tư và
lắp đặt các trang thiết bị này khá lớn, trong khi tốc độ phát hành thẻ lại rất nhanh
nên số lượng các máy đọc thẻ, thanh toán không thể đáp ứng kịp theo nhu cầu
của người sử dụng. Bên cạnh đó, tại các địa điểm đặt POS nói chung lại có khá ít
người sử dụng nên các cửa hàng cũng không có ý định để lắp đặt máy.
Ngoài ra, các địa điểm đặt máy của VCB Cần Thơ cũng phân bố không đồng
đều giữa các quận chủ yếu được đặt tại Quận Ninh Kiều, còn các quận ngoại ô
khuyến mãi của VCB Cần Thơ chỉ dừng lại ở việc giảm phí mở thẻ và giảm mức
ký quỹ. Đây cũng là một hạn chế trong dịch vụ thẻ của VCB Cần Thơ khi môi
trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay.
Từ những mặt hạn chế trong dịch vụ thẻ thanh toán của VCB Cần Thơ nói
riêng và của các Ngân hàng nói chung, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm
khắc phục hạn chế và nâng cao hoạt động của dịch vụ thẻ, góp phần nâng cao tỷ
lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư.
www.kinhtehoc.net
GVHD: Th.S Trương Hòa Bình SVTH: Nguyễn Hoàng Minh Tuấn
69
5.2 GIẢI PHÁP
5.2.1 Tăng số lượng máy ATM và các ĐVCNT
Dịch vụ thanh toán thẻ của Ngân hàng sẽ không thể phát triển hoặc chỉ dừng
lại ở một mức nào đó nếu mạng lưới ATM và các đơn vị chấp nhận thẻ còn nhỏ
hẹp, ít ỏi như hiện tại. Mạng lưới nhỏ hẹp dẫn đến các giao dịch, thanh toán bằng
thẻ trở nên phức tạp, tốn nhiều thời gian mất đi tính tiện ích vốn có của việc sử
dụng thẻ thanh toán. Hiện nay, ở Việt Nam nói chung và VCB Cần Thơ nói riêng
tuy số lượng máy rút tiền và đơn vị chấp nhận thẻ đã tăng nhưng chỉ trên phương
diện tổng thể, còn ở khía cạnh khác thì nó còn khá khiêm tốn. Việc nâng cao
năng lực hạ tầng của toàn hệ thống ATM và các đơn vị chấp nhận thẻ là cần thiết
từ đó mở ra cơ hội kinh doanh cho dịch vụ thẻ thanh toán của VCB Cần Thơ.
Hiện nay số lượng thẻ ATM Connect 24 của Vietcombank Cần Thơ đạt mức
xấp xỉ 25% trên toàn thị trường thẻ. Do đó để thuận tiện cho các chủ thẻ trong
việc sử dụng thẻ thanh toán thì cần phải tăng số lượng các máy rút tiền tự động
và phải bố trí các máy này rải rác đều khắp các khu vực trong thành phố. Tránh
tăng sẽ được triển khai thêm. Trong đó phải kể đến thanh toán hóa đơn dịch vụ
(điện, nước, điện thoại, truyền hình..), mua vé xe bus, tàu, ô tô hoặc truy vấn,
chuyển khoản qua điện thoại, thanh toán trực tuyến qua Internet đối với những
Website chấp nhận thanh toán bằng thẻ... Theo đó, chủ thẻ có thể sử dụng các
dịch vụ gia tăng trên chiếc thẻ và hoàn toàn có thể thay thế các giao dịch bằng
tiền mặt trong tương lai gần, vừa giảm được chi vừa tiết kiệm được thời gian.
Ngoài ra Ngân hàng nên tạo điều kiện cho khách hàng thanh toán hóa đơn bằng
thẻ tại các điểm POS ở các khu, các quán ăn uống, các cửa hiệu…một mặt sẽ
quảng bá được hình ảnh của Ngân hàng, mặt khác cũng mang lại lợi ích cho các
chủ thẻ và chính địa điểm thanh toán đó.
5.2.3 Phát triển các liên minh thẻ và thành lập hệ thống chuyển mạch thẻ
thống nhất
Việc cạnh tranh trong các lĩnh vực, dịch vụ kinh doanh giữa các Ngân hàng là
điều tất yếu không thể tránh khỏi, đặc biệt là dịch vụ thẻ. Với việc phát triển dịch
vụ thẻ ATM riêng lẻ như hiện nay, hệ thống ATM của mỗi ngân hàng chỉ chấp
nhận thẻ do chính mình phát hành, các thiết bị đầu cuối của ngân hàng này không
đọc được thẻ của các ngân hàng khác hoặc là từ chối giao dịch, do đó phạm vi
mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ rất hạn chế. Tuy nhiên trong những năm
gần đây, đã có những sự liên minh, liên kết giữa các nhóm Ngân hàng để tạo ra
các mạng lưới thanh toán thẻ rộng hơn đồng thời cũng giảm bớt gánh nặng về
đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng. Vì vậy, việc thành lập các liên minh thẻ cũng
như tham gia vào các liên minh này là một bước đi quan trọng và cần thiết. Nếu
liên minh thẻ được thành lập thì thẻ do Ngân hàng Vietcombank phát hành không
chỉ sử dụng được trên các máy trong cùng hệ thống mà các máy ATM của hệ
www.kinhtehoc.net
GVHD: Th.S Trương Hòa Bình SVTH: Nguyễn Hoàng Minh Tuấn
71
thống Ngân hàng khác trong liên minh thẻ cũng sử dụng được và ngược lại. Có
GVHD: Th.S Trương Hòa Bình SVTH: Nguyễn Hoàng Minh Tuấn
72
Thay đổi công nghệ thẻ từ trước đây bằng công nghệ thẻ chíp theo chuẩn
EMV để giảm thiểu đến mức thấp nhất các hành vi gian lận, cũng như việc làm
thẻ giả.
Đẩy mạnh công tác thẩm định khách hàng trước khi phát hành thẻ. Khi phát
hành thẻ cần đưa ảnh của chủ thẻ lên bề mặt thẻ, giúp các đơn vị chấp nhận thẻ
nhận dạng được chủ thẻ cũng như an tâm hơn trong quá trình kiểm tra và thanh
toán thẻ.
Lắp đặt các Camera tại các máy ATM cũng như tại các đơn vị chấp nhận thẻ
để khi có sự cố xảy ra thì Ngân hàng sẽ dễ dàng xử lý và cũng tạo được tâm lý an
toàn cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ thẻ của Ngân hàng.
Bên cạnh việc phòng ngừa rủi ro của Ngân hàng và những cơ quan có trách
nhiệm thì tự bản thân khách hàng phải biết tự bảo vệ cho chính mình. Không bao
giờ đưa số PIN cho người khác biết kể cả những người thân, cũng như không cho
người khác mượn thẻ. Nếu nghi ngờ thẻ đã bị mất cắp thất lạc hay dữ liệu trên
thẻ bị rò rỉ ngay lập tức hãy báo cho trung tâm thẻ của Vietcombank hay đến chi
nhánh phát hành thẻ gần nhất để ngân hàng khóa tài khoản nhằm bảo đảm an
toàn tuyệt đối cho tài khoản thẻ.
Có những biện pháp xử lý nghiêm khắc kể cả truy tố hình sự đối với các hành
động gian lận liên quan đến thanh toán thẻ như: ăn cắp thông tin trên thẻ, sở hữu
thẻ giả mạo hoặc chấp nhận thanh toán khi đã biết có sự lừa đảo, gian lận…Bên
cạnh đó Ngân hàng cũng phải có những biện pháp để bảo đảm an toàn trên tài
khoản thẻ cho những khách hàng sử dụng từ đó tạo được tâm lý an toàn cho
khách hàng sở hữu và sử dụng dịch vụ thẻ.
5.2.5 Thực hiện tốt công tác khách hàng
Khách hàng luôn là ưu tiên hàng đầu trong bất kỳ một loại hình kinh doanh,
dịch vụ nào, nếu không có khách hàng thì Ngân hàng sẽ khó khăn trong việc triển
các cơ quan chức năng, thông tin đại chúng nhằm xây dựng, tuyên truyền các
hoạt động về thẻ, thông qua việc phổ biến giáo dục cho mọi người về cách sử
dụng thẻ cũng như các tiện ích mà thẻ thanh toán mang lại.
5.2.6 Nâng cao nghiệp vụ của nhân viên
Nhân tố con người luôn là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của
bất kỳ loại hình kinh doanh, dịch vụ nào. Do đó, để dịch vụ thẻ của Ngân hàng
hoạt động đạt hiệu quả cao thì công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ
nghiệp vụ cho tập thể các cán bộ công nhân viên Ngân hàng là một điều vô cùng
cần thiết. Vì vậy, ngân hàng nên thực hiện những việc sau:
Phối hợp chặt chẽ với các tổ chức đào tạo và truyền thông để phổ cập kiến
thức cho đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ nghiệp vụ về các dịch vụ ngân hàng
hiện đại nói chung và các dịch vụ thanh toán thẻ nói riêng.
www.kinhtehoc.net
GVHD: Th.S Trương Hòa Bình SVTH: Nguyễn Hoàng Minh Tuấn
74
Nâng cao trình độ nghiệp vụ của nhân viên Ngân hàng trong công tác phát
hành, sử dụng và thanh toán thẻ, mở các lớp tập huấn thường xuyên cho các nhân
viên tại các đơn vị chấp nhận thẻ. Công tác đào tạo không chỉ dừng lại ở phần lý
thuyết mà cần phải cho những cán bộ chủ chốt đi nghiên cứu thực tế ở các Ngân
hàng nước ngoài để họ học hỏi và vận dụng những tiến bộ mới khi về nước.
Tổ chức các buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm về nghiệp vụ thẻ, các chương
trình tập huấn đào tạo giữa các tổ chức phát hành thẻ với nhau.
Không chỉ có những nhân viên phụ trách hoạt động kinh doanh thẻ mà đòi hỏi
tất cả các nhân viên trong Ngân hàng đều phải có kiến thức, nghiệp vụ chuyên
môn cơ bản, sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng mọi lúc, mọi nơi
giúp khách hàng hiểu rõ hơn về dịch vụ thẻ. Từ đó, góp phần tuyên truyền thu
hút thêm khách hàng đến với dịch vụ thẻ thanh toán của Vietcombank nói chung
và Vietcombank Cần Thơ nói riêng.