Kĩ Năng Tự Phục Vụ Của Trẻ Mẫu Giáo 5 - 6 Tuổi Ở Một Số Trường Mầm Non Tại Huyện Tân Phú Tỉnh - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Thương

KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON TẠI HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Thương

KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON TẠI HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành : Tâm lí học
Mã số

: 8310401
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

trình từ khi bắt đầu học tập cho đến khi hồn thành chương trình cao học.
Tp.HCM, tháng 09 năm 2018
Học viên cao học
NGUYỄN THỊ THANH THƯƠNG


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI ....................................................................... 6
1.1. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ ................................ 7
1.1.1. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ ở
nước ngoài ................................................................................................... 7
1.1.2. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ ở
Việt Nam ................................................................................................... 11
1.2. Cơ sở lý luận về kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ........................ 18
1.2.1. Kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi .................................................. 18
1.2.2. Kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ........................................ 27
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................... 44
Chương 2. THỰC TRẠNG KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI
HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI........................................... 46
2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng ................................................................................ 46
2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 46

KNS

Kĩ năng sống

KNTPV

Kĩ năng tự phục vụ

MNMK

Mầm non Minh Khai

MNPA

Mầm non Phú An


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.

Bảng mô tả mức độ thường xuyên KNTPV của trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi............................................................................................ 52

Bảng 2.2.

So sánh mức độ thực hiện thường xuyên KNTPV của 2 trường
mầm non ................................................................................... 56

Bảng 2.3.


đối với KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ............................ 83

Bảng 2.10. Thực trạng mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến KNTPV của trẻ
mẫu giáo 5 – 6 tuổi ................................................................... 86
Bảng 2.11. Nguyên nhân thực trạng KNTPV của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi . 89
Bảng 2.12. Mô tả mức độ cần thiết của các giải pháp ................................ 99
Bảng 2.13. Mô tả mức độ khả thi của giải pháp ....................................... 101


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

Nhà giáo dục Maria Montessori từng nói: “Trong mỗi đứa trẻ đều có những tài
năng tiềm ẩn. Sự chuẩn bị kĩ càng từ lúc đầu đời chính là chìa khóa thành cơng cho
tương lai mỗi cháu” (Trương Thị Hoa Bích Dung, 2012). Nối tiếp ý nghĩa đó, mục
tiêu của Giáo dục Mầm non đề cập “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào
lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và
phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi
dậy và phát huy tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp
học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” (Chương trình Giáo dục Mầm non, 2016).
Hơn nữa, Bộ Chuẩn Phát Triển Trẻ Em 5 tuổi đã quy định rõ về những điều
mong đợi ở các chuẩn vệ sinh, dinh dưỡng và an toàn cá nhân của trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010). Cụ thể hơn, mục tiêu của nội dung giáo giáo
dục trẻ mẫu giáo về dinh dưỡng và sức khỏe: “Nhận biết một số món ăn, thực phẩm
thơng thường và lợi ích của chúng đối với sức khỏe; thực hiện được một số việc tự
phục vụ; có hành vi và thói quen tốt trong sinh hoạt và giữ gìn sức khỏe; biết một số
nguy cơ khơng an tồn và phịng tránh” (Chương trình Giáo dục Mầm non, 2016). Từ

Kĩ năng tự phục vụ giúp trẻ thích ứng và hòa nhập với cuộc sống xung quanh, giúp
trẻ tự chăm sóc và bảo vệ bản thân, giúp bản thân tránh khỏi những nguy hiểm. Kĩ
năng tự phục vụ giúp trẻ hình thành những những nét tính cách đầu tiên, làm nền tảng
cho sự hình thành nhân cách của trẻ. Thiếu kĩ năng tự phục vụ sẽ dẫn đến việc trẻ dễ
thụ động, ỷ lại, dựa dẫm vào người khác, thiếu tự tin, trẻ rất khó giải quyết các tình
huống trong cuộc sống hằng ngày đặc biệt là những nguy hiểm ln rình rập xung
quanh trẻ. Giai đoạn trẻ 5 – 6 tuổi là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của
mỗi đứa trẻ. Đây là giai đoạn trẻ chuẩn bị bước vào trường phổ thơng, chính thức trở
thành một học sinh thực thụ, đó là “sự chuyển qua một lối sống mới, với những điều
kiện hoạt động mới, chuyển qua một địa vị mới trong xã hội, chuyển qua những quan
hệ mới với người lớn và bạn bè cùng tuổi” (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006). Chính vì thế,
việc chuẩn bị tốt những kĩ năng sống nói chung và kĩ năng tự phục vụ nói riêng sẽ
giúp trẻ chuẩn bị tâm lí sẵn sàng vào lớp một.
Có thể kể đến vài tác giả nghiên cứu về vấn đề kĩ năng sống như: tác giả Huỳnh
Văn Sơn viết quyển sách Nhập môn kĩ năng sống, tác giả Nguyễn Thanh Bình với


3

Giáo trình chun đề kĩ năng sống. Những cơng trình nghiên cứu về vấn đề này cũng
còn hạn chế. Chẳng hạn như: tác giả Mai Hiền Lê khảo sát về Kĩ năng sống của trẻ
mẫu giáo lớn trường Mầm non Thực Hành TP. Hồ Chí Minh; tác giả Cao Văn Quang
khảo sát về Kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP. Hồ Chí
Minh; tác giả Đỗ Thị Bắc khảo sát về Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo
bé ở trường mầm non thành phố Thái Nguyên và một vài đề tài luận văn thạc sĩ tâm
lý khác nghiên cứu về kĩ năng biểu hiện tình cảm, kĩ năng thể hiện cảm xúc. Tuy đã
bước đầu nghiên cứu về kĩ năng sống của trẻ mầm non nhưng các đề tài chỉ tập trung
trong phạm vi ở thành phố Hồ Chí Minh hoặc thành phố lớn. Đặc biệt là việc nghiên
cứu về kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở những vùng sâu vùng quê
đang bị bỏ ngõ.

Khách thể nghiên cứu bổ trợ: Giáo Viên giảng dạy lớp 5 – 6 tuổi, Phụ Huynh
của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại
huyện Tân Phú Tỉnh Đồng Nai đã thực hiện thường xuyên và thành thạo ở mức độ
khá tốt. Có sự khác biệt về kĩ năng tự phục vụ giữa trẻ em sống ở thị trấn với trẻ em
sống ở vùng sâu vùng xa, giữa nam và nữ. Có những nhóm nguyên nhân khác nhau
liên quan đến thực trạng kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo trong đó nhóm nguyên
nhân khách quan chiếm ưu thế.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: chỉ nghiên cứu 15 kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi: kĩ năng cởi giày dép; kĩ năng xúc ăn; kĩ năng uống nước khi khát; kĩ năng
ăn nhiều loại thức ăn được chế biến khác nhau; kĩ năng rửa mặt; kĩ năng đánh răng;
kĩ năng rửa tay bằng xà phòng; kĩ năng cởi quần áo; kĩ năng mặc quần áo; kĩ năng
gấp quần áo gọn gàng; kĩ năng đi vệ sinh đúng nơi quy định; kĩ năng thực hiện giờ
ngủ; kĩ năng dọn dẹp đồ dùng, đồ chơi sau khi chơi và học; kĩ năng giữ đầu tóc, quần
áo gọn gàng; kĩ năng đi giày dép.
Về địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu khoảng 100 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở 2
trường mầm non tại huyện Tân Phú: Trường mầm non xã Phú An - trường thuộc vùng
sâu vùng xa; Trường mầm non Minh Khai - trường thuộc thị trấn.
7. Phương pháp nghiên cứu


5

Đề tài đựơc tiến hành thông qua việc phối hợp đồng bộ một số phương pháp
nghiên cứu sau:
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý
luận từ sách giáo khoa, sách chuyên ngành, luận văn, luận án, các tạp chí... có liên

phục vụ tương ứng với 5 mức độ: 1 (kém), 2 (trung bình), 3 (khá), 4 (tốt), 5 (rất tốt).
(Phụ lục 2)
7.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: sử dụng bảng hỏi dành cho phụ huynh có con em thuộc nhóm khách
thể nghiên cứu. Bảng hỏi nhằm tìm hiểu trẻ thực hiện kĩ năng tự phục vụ đạt ở mức
độ nào.
- Cách thực hiện: sau khi chọn ra được nhóm khách thể nghiên cứu, dùng bảng
hỏi để tìm ra kết quả của kĩ năng tư phục vụ theo nhận định của phụ huynh. Đây là
yếu tố quan trọng để kết hợp với việc quan sát kĩ năng tự phục vụ của trẻ giúp đưa ra
kết luận đúng đắn hơn. (Phụ lục 6)
7.3.Phương pháp thống kê toán học
- Mục đích: xử lý những thơng tin thu thập được theo phương thức định lượng.
- Cách thực hiện:
+ Các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu sẽ được xử lý bằng phần
mềm SPSS 24.0
+ Các thông số thống kê nghiên cứu mà đề tài thực hiện: tần số, tính tỉ lệ phần
trăm, tính điểm trung bình, sự khác biệt giữa 2 biến, tương quan.
* Trong các phương pháp nghiên cứu trên thì phương pháp quan sát là phương
pháp chủ đạo của đề tài, các phương pháp còn lại là bổ trợ. (Phụ lục 10)
8. Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài đã đánh giá được thực trạng kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6
tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Thực trạng các kĩ
năng tự phục vụ bao gồm: nội dung, mức độ thường xuyên, mức độ thành thạo,
nguyên nhân của thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng... đến kĩ năng tự phục vụ của trẻ
mẫu giáo.
Trên cơ sở đó, đề tài đã đề ra một số giải pháp nhằm giúp cho trẻ duy trì và nâng
cao có hiệu quả kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm
non tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ

mà người lao động cần phải có, trong đó liên quan đến nhiều KNS. Kĩ năng hành
nghề là các kĩ năng cần thiết khơng chỉ để có thể làm việc mà cịn để tiến bộ trong tổ
chức (Cao Văn Quang, 2012).


8

Tác giả Gracious Thomas viết quyển sách “Life skill Education and
Currucylum” (Giáo trình và giáo dục kĩ năng sống), tác phẩm nhấn mạnh vai trò của
Giáo Viên trong việc giáo dục KNS dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phịng
chống nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã xây dựng một chương trình
có thể điều chỉnh bởi một hệ thống giáo dục trong nước (Huỳnh Văn Sơn, 2012).
Sách “The indispensable book of practial life skills” (Quyển sách độc lập về kĩ
năng sống thực tế) của tác giả Nic Compton đã hướng dẫn hỗ trợ giảng viên, các bậc
phụ huynh nhằm giúp xử lý tất cả tình huống khó trong cuộc sống hằng ngày. Tác giả
cung cấp những cách thức, từng bước hướng dẫn cụ thể để giải quyết các vấn đề làm
bối rối, làm choáng ngợp trước những thách thức trong cuộc sống ở mọi lứa tuổi một
cách dễ dàng (Huỳnh Văn Sơn, 2012).
Nội dung bao gồm 10 điều lưu ý khi dạy con em được tác giả Deborah Carroll
đề cập trong quyển sách “Teaching your children life skills” (Dạy kĩ năng sống cho
con bạn), đó chính là: làm thế nào để công việc, các chuyến đi mua sắm, các kì nghỉ
và các tình huống khác trong cuộc sống trở thành cơ hội để trẻ có thể học hỏi và hình
thành những kĩ năng quan trọng. Điều này có thể giúp trẻ tìm ra cách và thực hành
các kĩ năng, giúp trẻ biết cách cư xử với những người xung quanh và biết cách trân
trọng các giá trị tốt đẹp mà không cần phải giảng dạy lý thuyết. Bên cạnh đó, quyển
sách hướng dẫn trẻ phát triển lịng tự trọng và kĩ năng sống lâu dài thơng qua công
việc hằng ngày (Huỳnh Văn Sơn, 2012).
Sách “The practical life skills workbook” (Sách bài tập kĩ năng sống thực tế)
của tác giả Ester A. Leutenberg, John J. Liptak cho rằng, chỉ số thơng minh của một
người có kĩ năng sống bao gồm cả một hệ thống về thể chất, tinh thần, sự nghiệp, tình

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, trên thế giới đã có một số cơng trình
nghiên cứu về KNS của trẻ. Những cơng trình này đề cập đến các kĩ năng cần có ở
trẻ, các cách thức để hình thành và phát triển những kĩ năng cho trẻ, đó cũng là những
tài liệu, những biện pháp cụ thể hướng dẫn một cách tỉ mỹ làm mẫu cho các Giáo
Viên và phụ huynh thực hiện việc lồng ghép dạy kĩ năng sống trong hoạt động hằng
ngày nhằm giúp trẻ phát huy tối đa những tiềm năng của bản thân.
Ở Nhật, Cha Mẹ rất quan tâm đến việc giáo dục KNS cho con mình ngay từ
những ngày đầu đời, đó là những giá trị đạo đức của con người và cũng là những
năng lực cần thiết giúp cho trẻ phát triển. Cha mẹ ở Nhật thường trang bị cho con


10

mình những KNS như: kĩ năng sinh tồn, kĩ năng thích ứng với mơi trường và học hỏi
từ thế giới tự nhiên, kĩ năng tự nhận thức bản thân, kĩ năng giao tiếp ứng xử, kĩ năng
tự lập, kĩ năng kiên nhẫn để lắng nghe và trò chuyện cùng bạn bè và người lớn. Cha
mẹ dạy con theo nội dung phù hợp với từng độ tuổi. Đối với trẻ 5 tuổi, cha mẹ dạy
trẻ dọn bàn ghế, lấy bát đĩa, phân chia thức ăn, tự ăn, và làm một số việc tự phục vụ
cho mình. Bên cạnh đó, nhiều quyển sách hướng dẫn về cách thức thực hiện những
kĩ năng sống một cách tỉ mĩ được ra đời. Đó chính là sách hướng dẫn trẻ sử dụng nhà
vệ sinh cho bé trai và bé gái; cách mặc quần áo dúng; cách ngồi ăn và tự ăn; song
song với lời hướng dẫn là những hình ảnh minh họa giúp mang lại hiệu quả giáo dục
(Sugahara Yuko, người dịch NguyễnThị Thu, 2015).
Người Do Thái giáo dục con cũng rất đặc biệt, họ dạy con làm việc nhà từ nhỏ
tùy theo lứa tuổi, dạy con tính tự lập, trẻ 2 tuổi đã có thể tự phục vụ bản thân, tự ăn
uống và thay quần áo. Đến khi trẻ 5 tuổi, trẻ bắt đầu được giao việc nhà (lau nhà, tưới
cây, rửa chén...) và được trả tiền từ cha mẹ, bên cạnh đó trẻ phải thực hiện việc tự
phục vụ cho mình là tự gấp quần áo, tự xếp sách vở, chuẩn bị đồ dùng đồ học (Đỗ
Thị Bắc, 2015).
Tác giả Côvaliôp đã rất chú trọng đến việc giáo dục lao động tự phục vụ cho

giáo dục cho trẻ bằng việc làm gương và tạo điều kiện cho trẻ thực hành kĩ năng tự
phục vụ của mình trong các tình huống sẵn có (Karen Stephens, 2007).
Như vậy, các nước trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về KNS trong đó có
KNTPV dưới nhiều góc độ: khái niệm, phân loại và cách giáo dục. Nhưng những vấn
đề được đề cập chỉ nói chung chung về mọi lứa tuổi, điều đó chứng tỏ là hướng nghiên
cứu về KNS chưa cụ thể để có thể phân chia kĩ năng cho từng lứa tuổi và từng nội
dung kĩ năng sống cụ thể. Đối với KNS dành cho trẻ mầm non ít có các nghiên cứu
chun sâu trong đó có nghiên cứu KNTPV của trẻ mầm non.
1.1.2. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ ở Việt Nam
Trước những năm 1990, nền giáo dục Việt Nam đã có sự quan tâm đến việc rèn
luyện KNS cho trẻ mặc dù chưa có những nghiên cứu sâu sắc về KNS.
Sau những năm 1990, một số bộ luật của nước Việt Nam được sửa đổi cũng đã
có những định hướng và điều khoản liên quan đến việc trang bị kĩ năng sống cho học
sinh: Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Luật giáo dục năm 2005.
Nền giáo dục việt nam cũng đã rất quan tâm đến các vấn đề của người học đặc biệt


12

là sự phát triển toàn diện nhân cách nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền tri
thức và của cuộc sống hiện đại. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành thực hiện chương
trình giáo dục KNS cho học sinh phổ thông, thông qua dự án “Giáo dục sống khỏe
mạnh, kĩ năng cho trẻ và vị thành niên”. Học sinh được tham gia vào dự án này ở các
tỉnh: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Gia Lai, Kon Tum, Hồ
Chí Minh, An Giang, Kiên Giang. Mục tiêu của dự án này là: hình thành thái độ tích
cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sống khỏe về thể chất, mạnh về tinh
thần, hiểu biết về xã hội; bên cạnh đó cịn hướng đến nhận thức của cha mẹ học sinh
về kiến thức và cách thức để giúp họ chủ động truyền thụ những kĩ năng cần thiết cho
con em mình (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2001).
Bên cạnh đó, Chính Phủ Việt Nam đã kí cơng ước về quyền trẻ em và cam kết

phải đạt được. Trong đó bao gồm các chuẩn về thể chất, về giao tiếp, về nhận thức,
về cảm xúc và về những điều mong đợi ở các chuẩn vệ sinh, dinh dưỡng và an toàn
cá nhân của trẻ mẫu giáo 5 tuổi. Đây là nội dung giáo dục KNTPV rất quan trọng đối
với trẻ mẫu giáo 5 tuổi, nó đã được trình bày rõ ở các chỉ số 5, 15, 16, 18, 19, 20, 21,
22, 23, 24, 25, 26 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010).
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho ra đời bộ sách “Giáo dục kĩ năng sống trong
môn Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa Lý, Sinh Học, Giáo Dục Công Dân ở trường Phổ Thông”
dùng để thử nghiệm trong trường học. Cũng trong khoảng thời gian này, nhiều chủ
đề về KNS được các tác giả biên soạn: KNS – một số kĩ năng cần thiết, KNS - bạn là
ai? của tác giả Phạm Thanh Hiệp; KNS – rèn luyện bản thân của tác giả Nguyễn Minh
Anh; KNS – hoàn thiện chính mình của Nguyễn Minh Anh – Nguyễn Thị Chung;
KNS – sơ cấp cứu và an toàn của Trần Văn Nghĩa; KNS – những bệnh tật ở tuổi học
trò va cách phòng tránh của Đỗ Hồng Ngọc. Bộ sách KNS ra đời đã cung cấp những
kiến thức cơ bản về KNS, qua đó giúp giải quyết được những vấn đề nan giải trong
cuộc sống hằng ngày, hình thành những nét tính cách và định hướng cho giá trị sống
của cuộc đời mỗi học sinh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010).
Luận văn thạc sĩ tâm lí của tác giả Nguyễn Hữu Long đã nghiên cứu “Kĩ năng
sống ở lứa tuổi trung học cơ sở”. Tác giả đã bước đầu đưa vào thực nghiệm nhằm tác
động tâm lí để giúp nâng cao một số kĩ năng của học sinh trung học, bao gồm các kĩ
năng: Kĩ năng tự nhận thức bản thân, Kĩ năng giao tiếp, Kĩ năng chia sẻ và hợp tác,
Kĩ năng phân biệt hành vi hợp lí và chưa hợp lí. Trong cơng trình nghiên cứu này,


14

tuy tác giả đã đưa vào thực nghiệm các giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng cho học sinh
trung học nhưng sự tác động này chỉ mới dừng lại ở 4 kĩ năng, khách thể đưa vào
thực nghiệm chưa được phổ biến ở nhiều độ tuổi (Nguyễn Hữu Long ,2010).
Tác giả Mai Hiền Lê đã thực hiện luận văn thạc sĩ “Một số biểu hiện kĩ năng
sống của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non thực hành thành phố Hồ Chí Minh”. Tác

dục KNS cho trẻ mẫu giáo. Trong Module này, tác giả đã đề cập đến các nội dung:
mục tiêu của giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo, nội dung, phương pháp, cũng như là
hình thức giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo. Mục tiêu của giáo dục KNS cho trẻ mẫu
giáo được thể hiện ở: ý thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện cơng
việc, ứng phó với thay đổi. Trong nhóm kĩ năng tự ý thức về bản thân của trẻ mẫu
giáo, bao gồm các giá trị về việc bảo vệ bản thân tránh khỏi những nguy hiểm, tự
phục vụ cho bản thân, tự xúc ăn, ăn uống từ tốn, không khua đũa chén, ăn khơng rơi
vãi...Điều đó cho thấy rằng, tác giả đã đưa KNTPV vào nội dung cần được giáo dục
KNS cho trẻ mẫu giáo một cách có hệ thống, đầy đủ và rộng khắp (Lê Bích Ngọc,
2013).
Sách “Giáo trình chun đề giáo dục kĩ năng sống” của tác giả Nguyễn Thanh
Bình có viết: “Nội dung kĩ năng sống thể hiện qua mục tiêu cụ thể đối với trẻ cuối
tuổi mẫu giáo về Phát triển thể lực: có một số KNS và thói quen tự phục vụ liên quan
đến sức khỏe, an toàn và vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh mơi trường sinh
hoạt. Biết cách phịng tránh một số bệnh thơng thường, có nề nếp thói quen tự phục
vụ, hành vi văn minh trong ăn uống, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, nhận biết
những nơi khơng an tồn, nguy hiểm và cách phịng tránh” (Nguyễn Thanh Bình,
2014).
Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Đỗ Thị Bắc “Giáo dục kỹ
năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở trường mầm non thành phố Thái Nguyên” với
kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Nhận thức của giáo viên về giáo dục kỹ năng tự
phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé cơ bản là đúng nhưng chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Tác
giả cũng khẳng định rằng GVMN đã sử dụng các biện pháp, hình thức tổ chức nhằm
giáo dục KNTPV cho trẻ tuy nhiên kết quả chưa khả quan, một số trẻ vẫn chưa thực
hiện được những KNTPV cơ bản. Tác giả đã mô tả được bức tranh về thực trạng giáo
dục kĩ năng tự phục cho trẻ mẫu giáo bé ở thành phố Thái Nguyên đã đạt được ở mức
nào, tác giả cũng đã đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.Tuy


16



17

hết trẻ đều biết ăn mặc sạch sẽ gọn gàng, biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, trẻ biết là không
được tự ý đụng vào những vật nguy hiểm và không đi theo hay nhận quà của người
lạ, biết lựa chọn quần áo phù hợp với thời tiết. Đề tài đã nêu lên thực trạng kĩ năng
sống của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh và sử dụng các
phương pháp giáo dục kĩ năng sống vào thực tế. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu với số
lượng nhiều kĩ năng sống nên việc nghiên cứu sâu sát ở nhiều khía cạnh của từng kĩ
năng vẫn còn hạn chế, các giải pháp đề ra chưa được đưa vào tác động thực nghiệm
(Lê Thị Trinh, 2016).
Trong quyển sách “Phát triển kĩ năng sống” của tác giả Nguyễn Hữu Long, tác
giả đã đề cập đến “Kĩ năng tự phục vụ”. Tác giả cho rằng nếu mỗi người có khả tự
phục vụ cho chính bản thân mình thì những người xung quanh sẽ cảm thấy yên tâm,
và điều đó giúp cho mỗi cá nhân thêm tự tin, biết giúp đỡ, biết quan tâm người khác
một cách thật lòng. Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng KNTPV bản thân là việc một
người có khả năng tổ chức cuộc sống của mình thơng qua việc thực hiện hành động
một cách hiệu quả dựa trên kinh nghiệm, nhận thức, và bộc lộ cảm xúc phù hợp của
bản thân (Nguyễn Hữu Long, 2016).
Tác giả Huỳnh Văn Sơn vừa với một số bộ sách như: “ rèn luyện kĩ năng sống
dành cho trẻ mầm non”. Đây là những quyển sách giúp cho GVMN rèn luyện cho trẻ
mẫu giáo những KNS trong đó có kĩ năng tự bảo vệ. Sách “Kĩ năng phịng tránh xâm
hại cho trẻ mầm non”, sách này giúp cho trẻ có cái nhìn sâu sắc hơn về bản thân, giúp
trẻ khám phá, trãi nghiệm, có cách ứng xử phù hợp với giới tính và biết cách bảo vệ
mình. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng giúp cho phụ huynh và giáo viên có thể nhận thức
sâu sắc hơn, từ đó hỗ trợ cho trẻ trong việc phòng tránh bị xâm hại cho trẻ mầm non
(Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Mai Mỹ Hạnh, Giang Thiên Vũ, Nguyễn Lê Bảo Hoàn
và Nguyễn Thanh Xuân, 2017).
Bộ sách Thực hành kĩ năng sống, đây là tài liệu chính thức về KNS dành cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status