Kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện tân phú tỉnh đồng nai​ - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Thương

KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON TẠI HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Thanh Thương

KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6
TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI HUYỆN
TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành : Tâm lí học
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN THỊ QUỐC MINH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

NGUYỄN THỊ THANH THƯƠNG


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI 6
1.1. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ.............................. 7
1.1.1. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ ở
nước ngoài

7

1.1.2. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ ở
Việt Nam

11

1.2. Cơ sở lý luận về kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi......................18
1.2.1. Kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.................................................. 18
1.2.2. Kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi......................................... 27
Tiểu kết chương 1.................................................................................................. 44
Chương 2. THỰC TRẠNG KĨ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTB

Điểm trung bình

GVMN

Giáo viên mầm non

KNS

Kĩ năng sống

KNTPV

Kĩ năng tự phục vụ

MNMK

Mầm non Minh Khai

MNPA

Mầm non Phú An


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng mô tả mức độ thường xuyên KNTPV của trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi.......................................................................................... 52
Bảng 2.2. So sánh mức độ thực hiện thường xuyên KNTPV của 2 trường

của Giáo dục Mầm non đề cập “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp
một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm
chất mang tính nền tảng, những kĩ năng cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát
huy tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo
và cho việc học tập suốt đời” (Chương trình Giáo dục Mầm non, 2016).

Hơn nữa, Bộ Chuẩn Phát Triển Trẻ Em 5 tuổi đã quy định rõ về những điều
mong đợi ở các chuẩn vệ sinh, dinh dưỡng và an toàn cá nhân của trẻ mẫu giáo 5 –
6 tuổi (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2010). Cụ thể hơn, mục tiêu của nội dung giáo giáo
dục trẻ mẫu giáo về dinh dưỡng và sức khỏe: “Nhận biết một số món ăn, thực phẩm
thơng thường và lợi ích của chúng đối với sức khỏe; thực hiện được một số việc tự
phục vụ; có hành vi và thói quen tốt trong sinh hoạt và giữ gìn sức khỏe; biết một số
nguy cơ khơng an tồn và phịng tránh” (Chương trình Giáo dục Mầm non, 2016).
Từ những đề cập trên, cho thấy rằng các lực lượng giáo dục đã có sự quan tâm sâu
sắc đến việc phát triển toàn diện của trẻ mẫu giáo. Từ việc phát triển những tư chất
của nhân cách đến việc phát triển những kĩ năng sống cần thiết nhằm đáp ứng nhu
cầu phát triển một tâm hồn lành mạnh bên trong một cơ thể khỏe mạnh. Dù tiếp cận
vấn đề dưới nhiều góc độ không giống nhau nhưng các tác giả đều đưa ra quan
điểm giống nhau, đó là lứa tuổi mầm non là độ tuổi vơ cùng quan trọng để có thể
lĩnh hội và thực hành các kĩ năng sống cần thiết trong đó có kĩ năng tự phục vụ.
Việc giáo dục trẻ mầm non biết cách tự phục vụ cho bản thân không chỉ tạo điều
kiện để giúp trẻ dễ dàng hòa đồng với bạn bè, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với những
người xung quanh và tự tin trong cuộc sống, mà còn trang bị cho trẻ hệ thống những
kiến thức cần thiết giúp cho trẻ có cái nhìn về tầm quan trọng của việc phải tự biết giá
trị chăm sóc, giá trị bảo vệ sức khỏe cho mình và thực hành giá trị ấy trong


2



3

Giáo trình chun đề kĩ năng sống. Những cơng trình nghiên cứu về vấn đề này
cũng còn hạn chế. Chẳng hạn như: tác giả Mai Hiền Lê khảo sát về Kĩ năng sống
của trẻ mẫu giáo lớn trường Mầm non Thực Hành TP. Hồ Chí Minh; tác giả Cao
Văn Quang khảo sát về Kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non
tại TP. Hồ Chí Minh; tác giả Đỗ Thị Bắc khảo sát về Giáo dục kỹ năng tự phục vụ
cho trẻ mẫu giáo bé ở trường mầm non thành phố Thái Nguyên và một vài đề tài
luận văn thạc sĩ tâm lý khác nghiên cứu về kĩ năng biểu hiện tình cảm, kĩ năng thể
hiện cảm xúc. Tuy đã bước đầu nghiên cứu về kĩ năng sống của trẻ mầm non nhưng
các đề tài chỉ tập trung trong phạm vi ở thành phố Hồ Chí Minh hoặc thành phố lớn.
Đặc biệt là việc nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở
những vùng sâu vùng quê đang bị bỏ ngõ.
Tân Phú là một huyện miền núi của tỉnh Đồng Nai, là một trong những huyện
vùng sâu vùng xa nhất của tỉnh vì thế nên điều kiện kinh tế, xã hội cịn gặp nhiều
khó khăn. Huyện Tân Phú có nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nơng nghiệp, người
dân ở đây rất vất vả vì phải mưu sinh hằng ngày nên ít có thời gian chăm sóc nhiều
đến trẻ và vì thế trẻ cần được trang bị kĩ năng tự phục vụ cho bản thân. Đây là một
trong những yếu tố giúp trẻ thích nghi với cuộc sống và đặc biệt là giúp hình thành
những nét tính cách tích cực, những thói quen lành mạnh đầu tiên của cuộc đời.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: “Kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5
– 6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai” được tiến
hành nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát thực trạng kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số
trường mầm non tại huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai. Từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm giúp trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi duy trì và nâng cao kĩ năng tự phục vụ.
3.
-


huyện Tân Phú Tỉnh Đồng Nai đã thực hiện thường xuyên và thành thạo ở mức độ
khá tốt. Có sự khác biệt về kĩ năng tự phục vụ giữa trẻ em sống ở thị trấn với trẻ em
sống ở vùng sâu vùng xa, giữa nam và nữ. Có những nhóm nguyên nhân khác nhau
liên quan đến thực trạng kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo trong đó nhóm nguyên
nhân khách quan chiếm ưu thế.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: chỉ nghiên cứu 15 kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi: kĩ năng cởi giày dép; kĩ năng xúc ăn; kĩ năng uống nước khi khát; kĩ
năng ăn nhiều loại thức ăn được chế biến khác nhau; kĩ năng rửa mặt; kĩ năng đánh
răng; kĩ năng rửa tay bằng xà phòng; kĩ năng cởi quần áo; kĩ năng mặc quần áo; kĩ
năng gấp quần áo gọn gàng; kĩ năng đi vệ sinh đúng nơi quy định; kĩ năng thực hiện
giờ ngủ; kĩ năng dọn dẹp đồ dùng, đồ chơi sau khi chơi và học; kĩ năng giữ đầu tóc,
quần áo gọn gàng; kĩ năng đi giày dép.
Về địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu khoảng 100 trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở 2
trường mầm non tại huyện Tân Phú: Trường mầm non xã Phú An - trường thuộc
vùng sâu vùng xa; Trường mầm non Minh Khai - trường thuộc thị trấn.
7.

Phương pháp nghiên cứu


5

Đề tài đựơc tiến hành thông qua việc phối hợp đồng bộ một số phương pháp
nghiên cứu sau:
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý
luận từ sách giáo khoa, sách chuyên ngành, luận văn, luận án, các tạp chí... có liên
quan đến kĩ năng tự phục vụ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.

cho trẻ mẫu giáo của tác giả Lê Bích Ngọc, sách Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 –
6 tuổi của tác giả Lê Bích Ngọc, Chương trình Giáo dục Mầm non chỉnh sửa bổ
sung năm 2016, Kế hoạch giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường.
Bảng quan sát các kĩ năng tự phục vụ của trẻ gồm 2 phần: Phần 1 là phần tần
số thể hiện các kĩ năng của trẻ trong 1 tuần. Các kĩ năng tương ứng với 3 mức độ:
thường xuyên (trên 5 lần/1 tuần), thỉnh thoảng ( trên 3 lần/1 tuần), hiếm khi (dưới 2


6

lần/1 tuần). Phần 2 là phần mức độ thành thạo các kĩ năng tự phục vụ : kĩ năng tự
phục vụ tương ứng với 5 mức độ: 1 (kém), 2 (trung bình), 3 (khá), 4 (tốt), 5 (rất tốt).
(Phụ lục 2)
7.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
-

Mục đích: sử dụng bảng hỏi dành cho phụ huynh có con em thuộc nhóm

khách thể nghiên cứu. Bảng hỏi nhằm tìm hiểu trẻ thực hiện kĩ năng tự phục vụ đạt
ở mức độ nào.
-

Cách thực hiện: sau khi chọn ra được nhóm khách thể nghiên cứu, dùng bảng

hỏi để tìm ra kết quả của kĩ năng tư phục vụ theo nhận định của phụ huynh. Đây là
yếu tố quan trọng để kết hợp với việc quan sát kĩ năng tự phục vụ của trẻ giúp đưa
ra kết luận đúng đắn hơn. (Phụ lục 6)
7.3.Phương pháp thống kê tốn học
- Mục đích: xử lý những thông tin thu thập được theo phương thức định
lượng.


CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
1.1. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ
1.1.1. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu về kĩ năng tự phục vụ ở nước
ngoài
Trong xu hướng hiện đại, giáo dục không chỉ hướng đến mục tiêu tạo ra con
người nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội mà giáo dục còn hướng đến
mục tiêu phát triển đầy đủ các phẩm chất của mỗi cá nhân để giúp họ xây dựng một
cuộc sống lành mạnh, ý nghĩa, hạnh phúc và cống hiến hết mình cho tập thể.
Các nước Phương Tây đã giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên bằng
cách vận dụng tổng hợp sáng tạo nhiều quan điểm nghiên cứu khác nhau của các tổ
chức UNICEF và WHO. Họ đã giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh của
mình theo định hướng lồng ghép và tích hợp vào từng mơn học, vào từng tiết học
một cách có kế hoạch. Nội dung định hướng giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu
niên bao gồm: nhóm kĩ năng thuộc về tâm lý cá nhân, nhóm kĩ năng quan hệ với
người khác, kĩ năng cộng đồng và kĩ năng làm việc (Phan Xuân Trường, 2010).
Năm 1989, bộ lao động Mỹ đã thành lập Ủy ban thư kí về rèn luyện các kĩ
năng cần thiết (The secretary’s comission on achieving necessary skills - SCANS).
Họ cho rằng, muốn cải thiện được hiệu quả trong lao động thì phải trang bị những
kĩ năng cần thiết cho người lao động vì điều đó giúp họ thích ứng tốt hơn và lao
động hiệu quả hơn (Nguyễn Hữu Long, 2016).
Tại Úc (1990 - 2002), hội đồng kinh doanh Úc (The businet councli of australia

- BCA), phịng thương mại và cơng nghiệp Úc (The Australian chambetof
comecre
an industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Khoa Học Úc
(The department of edutralian - scien and training - DEST) và Hội Đồng Giáo Dục
Quốc Gia Úc (The australian nationnal training authority - ANTA) đã xuất bản tài
liệu “Kĩ năng hành nghề cho tương lai”. Quyển sách đề cập đến những kỹ năng và
kiến thức mà người lao động cần phải có, trong đó liên quan đến nhiều KNS. Kĩ

tình cảm, xã hội và trí thơng minh. Bên cạnh đó, tác giả cho rằng kĩ năng sống là
những kĩ năng vô giá của con người được sử dụng hằng ngày, nó cho phép con
người tạo ra cuộc sống mà họ mong muốn. Chính vì thế mà tác giả khẳng định rằng
kĩ năng sống quan trọng hơn chỉ số thông minh (Huỳnh Văn Sơn, 2012).
Tại Malaysia, giáo dục KNS được coi như là một môn học ở trường tiểu học và
trung học. Đối với trường tiểu học, mục tiêu của môn giáo dục kĩ năng sống là cung


9

cấp cho người học những kĩ năng cần thiết cơ bản để người học có thể thực hiện các
nhiệm vụ trong cuộc sống. Còn đối với trường trung học, mục tiêu giáo dục kĩ năng
sống là trang bị những kĩ năng để góp phần vào việc xây dựng một con người độc lập,
có khả năng tự chủ, có khả năng giao tiếp với những người xung quanh và có sự tự tin
sáng tạo trong học tập và trong cuộc sống hằng ngày (Cao Văn Quang, 2012).



Thái Lan, họ quan niệm rằng KNS chính là những thuộc tính hay những

năng lực tâm lí giúp cá nhân có khả năng đương đầu và có năng lực giải quyết với
những khó khăn trong cuộc sống nhằm giúp cá nhân sống an toàn và hạnh phúc.
Chính vì thế, họ kết luận rằng: con người muốn trưởng thành và thích ứng với cuộc
sống thì điều cần thiết là phải hình thành cho con người những KNS cơ bản, đáp
ứng nhu cầu hằng ngày và cho sự phát triển của cá nhân. Những KNS cơ bản và cần
phải có đó là: kĩ năng ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, sáng tạo phân tích đánh
giá, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng liên nhân cách, ra quyết định, làm chủ được cú sốc,
đồng cảm và thực hành (Cao Văn Quang, 2012).
KNS ở Inđônêxia được nghiên cứu như một khoa học giáo dục và được các tổ
chức Phi Chính Phủ và những trung tâm chuyên biệt đầu tư một cách nổi bậc. Họ coi kĩ

quả giáo dục (Sugahara Yuko, người dịch NguyễnThị Thu, 2015).
Người Do Thái giáo dục con cũng rất đặc biệt, họ dạy con làm việc nhà từ nhỏ
tùy theo lứa tuổi, dạy con tính tự lập, trẻ 2 tuổi đã có thể tự phục vụ bản thân, tự ăn
uống và thay quần áo. Đến khi trẻ 5 tuổi, trẻ bắt đầu được giao việc nhà (lau nhà,
tưới cây, rửa chén...) và được trả tiền từ cha mẹ, bên cạnh đó trẻ phải thực hiện việc
tự phục vụ cho mình là tự gấp quần áo, tự xếp sách vở, chuẩn bị đồ dùng đồ học
(Đỗ Thị Bắc, 2015).
Tác giả Côvaliôp đã rất chú trọng đến việc giáo dục lao động tự phục vụ cho trẻ.
Theo tác giả thì lao động là một thói quen của con người, một khi đã trở thành thói
quen thì con người ln muốn chủ động thực hiện, họ cảm thấy vui khỏe, hăng say, và
cuộc đời có ý nghĩa hơn rất nhiều. Vì vậy, đối với trẻ em một khi các kỹ năng tự phục
vụ đã hình thành thì cần được thực hiện một cách thường xuyên nhất và phải liên tục
nhằm mục đích biến KNTPV thành thói quen và là niềm vui trong cuộc sống. Hơn thế
nữa, chúng tạo thành động lực thúc đẩy trẻ hoàn thành tốt các kĩ năng nhằm mục đích
thành cơng và mang lại sự hài lịng cho người khác. Vì thế, tác giả cũng cập đến yêu
cầu trong giáo dục KNTPV cho trẻ đó là phải tạo niềm vui, tạo sự khích lệ để cho trẻ
thích thú trong học cách lao động (Phan Xuân Trường, 2010).

Tác giả Nhechaeva đặc biệt nhấn mạnh đến vai trị KNTPV đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách của mỗi người. Tác giả cho rằng cần phải giáo dục
KNTPV cho trẻ càng sớm càng tốt để giúp trẻ thực hiện một cách tự giác. Tác giả


11

cũng chỉ ra cách thức để mang lại hiệu quả trong giáo dục KNTPV đó là khi tiến
hành phải hướng dẫn trẻ từng bước thật cụ thể, thật tỉ mỉ và đặc biệt là phải có thời
gian dài và đủ. Nhechaeva cũng đề xuất một số phương pháp nhằm mang lại hiệu
quả nhất, đó là: Làm mẫu từng thao tác, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện
hàng ngày, sử dụng trò chơi, sử dụng trực quan, để dạy trẻ trong giờ học, trong lao

tri thức và của cuộc sống hiện đại. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành thực hiện
chương trình giáo dục KNS cho học sinh phổ thông, thông qua dự án “Giáo dục
sống khỏe mạnh, kĩ năng cho trẻ và vị thành niên”. Học sinh được tham gia vào dự
án này ở các tỉnh: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Gia Lai,
Kon Tum, Hồ Chí Minh, An Giang, Kiên Giang. Mục tiêu của dự án này là: hình
thành thái độ tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sống khỏe về thể
chất, mạnh về tinh thần, hiểu biết về xã hội; bên cạnh đó cịn hướng đến nhận thức
của cha mẹ học sinh về kiến thức và cách thức để giúp họ chủ động truyền thụ
những kĩ năng cần thiết cho con em mình (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2001).
Bên cạnh đó, Chính Phủ Việt Nam đã kí cơng ước về quyền trẻ em và cam kết
thực hiện mục tiêu giáo dục cho mọi người theo kế hoạch hành động Dakar: nâng
cao ảnh hưởng của nền giáo dục có chất lượng, đặc biệt là giáo dục KNS (Huỳnh
Văn Sơn, 2009).
“Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi” của tác giả Lê Bích Ngọc. Sách này
dành cho các bậc Phụ Huynh có con 5 – 6 tuổi ở vùng nông thôn và là tài liệu tham
khảo cho Giáo Viên Mầm non. Nội dung của sách nói về sự phân loại các nhóm kĩ
năng sống và cách thức giáo dục cho trẻ. Tác giả đã đưa ra 7 nhóm kĩ năng sống cần
giáo dục cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đó là: kĩ năng vận động, kĩ năng tự phục vụ, kĩ
năng tình cảm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xã hội, kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng nhận
thức. Tác giả đã chính thức đề cập đến KNTPV của trẻ 5 – 6 tuổi. KNTPV bao gồm
các kĩ năng nhỏ: kĩ năng ăn uống, kĩ năng vệ sinh cá nhân, kĩ năng tự bảo vệ sức
khỏe, kĩ năng tự phòng chống các tai nạn thơng thường. Theo tác giả thì trẻ từ 5 – 6
tuổi đã có thể thực hiện một số kĩ năng tự phục vụ cho mình nên cha mẹ, giáo viên
cần hướng dẫn khuyến khích và củng cố những kĩ năng này nhằm giúp trẻ khỏe
mạnh, tự lực, tự tin, an toàn và phát triển lành mạnh (Lê Bích Ngọc, 2009).
Sách “Nhập mơn kĩ năng sống” của tác giả Huỳnh Văn Sơn viết về những vấn
đề liên quan đến KNS, thực trạng KNS của sinh viên. Tác giả cũng cho rằng: “Thực
tế cho thấy, con người chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có những KNS phù hợp.



năng: Kĩ năng tự nhận thức bản thân, Kĩ năng giao tiếp, Kĩ năng chia sẻ và hợp tác, Kĩ
năng phân biệt hành vi hợp lí và chưa hợp lí. Trong cơng trình nghiên cứu này,


14

tuy tác giả đã đưa vào thực nghiệm các giải pháp nhằm nâng cao kĩ năng cho học
sinh trung học nhưng sự tác động này chỉ mới dừng lại ở 4 kĩ năng, khách thể đưa
vào thực nghiệm chưa được phổ biến ở nhiều độ tuổi (Nguyễn Hữu Long ,2010).
Tác giả Mai Hiền Lê đã thực hiện luận văn thạc sĩ “Một số biểu hiện kĩ năng
sống của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non thực hành thành phố Hồ Chí Minh”. Tác
giả đã rất mạnh dạn bước vào nghiên cứu KNS của lứa tuổi mầm non - độ tuổi ít
được các tác giả nghiên cứu. Trong đề tài, tác giả đã thực hiện cuộc khảo sát khá
đầy đủ về các nội dung, các KNS cần thiết ở độ tuổi mầm non. Hạn chế của đề tài là
tác giả chỉ mới khảo sát ở một trường mầm non và đưa vào thực nghiệm nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục KNS cho trẻ mầm non thì chỉ mới có một kĩ năng giao tiếp
(Mai Hiền Lê, 2010).
Sách “Hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng sống cho trẻ mầm non” của tác giả
Trương Thị Hoa Bích Dung, tác giả cho rằng KNS là những kĩ năng cần có cho
hành vì lành mạnh giúp cho con người đối mặt với những khó khăn thử thách trong
cuộc sống hằng ngày. Mục tiêu của việc giáo dục KNS cho trẻ mẫu giáo là: giúp trẻ
hình thành các phẩm chất mạnh dạn, tự tin, lễ phép và thân thiện với mọi
người...giáo dục trẻ từ những hành vi đơn giản nhất, thơng qua đó giúp trẻ hình
thành và phát triển nhân cách lành mạnh. Tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề về vai trò,
ý nghĩa, các nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mồm
non. Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày 8 nhóm kĩ năng cần giáo dục cho trẻ
mẫu giáo, đó là: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thích nghi, kĩ năng khám phá thế giới
xung quanh, kĩ năng tự chăm sóc bản thân, kĩ năng tạo niềm vui, kĩ năng tự bảo vệ,
kĩ năng làm việc đội nhóm, kĩ năng giải quyết vấn đề. Trong đó, tác giả phân tích
“Kĩ năng tự chăm sóc bản thân” gần giống như KNTPV, nó bao gồm 3 kĩ năng: kĩ

năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé ở trường mầm non thành phố Thái Nguyên” với
kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: Nhận thức của giáo viên về giáo dục kỹ năng tự
phục vụ cho trẻ mẫu giáo bé cơ bản là đúng nhưng chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Tác giả
cũng khẳng định rằng GVMN đã sử dụng các biện pháp, hình thức tổ chức nhằm giáo
dục KNTPV cho trẻ tuy nhiên kết quả chưa khả quan, một số trẻ vẫn chưa thực hiện
được những KNTPV cơ bản. Tác giả đã mô tả được bức tranh về thực trạng giáo dục kĩ
năng tự phục cho trẻ mẫu giáo bé ở thành phố Thái Nguyên đã đạt được ở mức nào, tác
giả cũng đã đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.Tuy


16

nhiên, khuyết điểm của đề tài là tác giả chưa đưa các giải pháp vào thực nghiệm để có
thể tác động và tìm hiểu mức độ hiệu quả khi tác động ra sao (Đỗ Thị Bắc, 2015).

Đặc biệt, trong Chương trình Giáo dục Mầm non cũng đã đề ra mục tiêu cụ
thể của nội dung giáo giáo dục trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi về dinh dưỡng và sức khỏe,
đó là: “Nhận biết một số món ăn, thực phẩm thơng thường và lợi ích của chúng đối
với sức khỏe; thực hiện được một số việc tự phục vụ; có hành vi và thói quen tốt
trong sinh hoạt và giữ gìn sức khỏe; biết một số nguy cơ khơng an tồn và phịng
tránh”. Như vậy, chương trình giáo dục mầm non đã thực sự coi trọng KNTPV của
trẻ (Chương trình Giáo dục Mầm non, 2016).
Gần đây nhất là tác giả của luận văn thạc sĩ tâm lí về đề tài “Kĩ năng thể hiện
xúc cảm trong trị chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là Nguyễn
Thị Phượng. Đề tài tập trung nghiên cứu kĩ năng thể hiện xúc cảm của trẻ mầm non
ở một số trường mầm non tại thành phố Cần Thơ. Thành quả của đề tài là đánh giá
được khả năng nhận biết xúc cảm của trẻ qua tranh ảnh và qua nét mặt cử chỉ, biểu
cảm lời nói của cơ giáo dựa vào Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi và khảo sát được
kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của trẻ qua nét mặt cử chỉ, biểu cảm lời nói
khi đóng vai trong trị chơi. Tác giả cho rằng: “Chính thế giới người lớn thu nhỏ

động một cách hiệu quả dựa trên kinh nghiệm, nhận thức, và bộc lộ cảm xúc phù
hợp của bản thân (Nguyễn Hữu Long, 2016).
Tác giả Huỳnh Văn Sơn vừa với một số bộ sách như: “ rèn luyện kĩ năng sống
dành cho trẻ mầm non”. Đây là những quyển sách giúp cho GVMN rèn luyện cho
trẻ mẫu giáo những KNS trong đó có kĩ năng tự bảo vệ. Sách “Kĩ năng phịng tránh
xâm hại cho trẻ mầm non”, sách này giúp cho trẻ có cái nhìn sâu sắc hơn về bản
thân, giúp trẻ khám phá, trãi nghiệm, có cách ứng xử phù hợp với giới tính và biết
cách bảo vệ mình. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng giúp cho phụ huynh và giáo viên có
thể nhận thức sâu sắc hơn, từ đó hỗ trợ cho trẻ trong việc phòng tránh bị xâm hại
cho trẻ mầm non (Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Mai Mỹ Hạnh, Giang Thiên Vũ,
Nguyễn Lê Bảo Hoàn và Nguyễn Thanh Xuân, 2017).
Bộ sách Thực hành kĩ năng sống, đây là tài liệu chính thức về KNS dành cho học
sinh từ lớp 1 đến lớp 9. Bộ sách gồm 9 tập, tác giả đưa ra các nhóm kĩ năng sống cơ
bản tương ứng với từng độ tuổi, từng lớp. Bộ sách này, được thiết kế thành 2 sản phẩm:
một là tài liệu dành cho giáo viên để hỗ trợ tích cực trong giảng dạy và một là



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status