BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
--------
NGÔ THỊ NGỌC THẢO
MÃ SINH VIÊN: 1501462
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG OXY
HÓA VÀ GÂY ĐỘC TẾ BÀO UNG THƯ
CỦA CÂY GIỔI (Michelia tonkinensis A.
Chev) THU HÁI TẠI HỊA BÌNH
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI – 2020
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
--------
NGÔ THỊ NGỌC THẢO
MÃ SINH VIÊN: 1501462
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG OXY
HÓA VÀ GÂY ĐỘC TẾ BÀO UNG THƯ
CỦA CÂY GIỔI (Michelia tonkinensis A.
Chev) THU HÁI TẠI HỊA BÌNH
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. TS. Chử Thị Thanh Huyền
MỤC LỤC
Trang bìa chính
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
3
1.1. Tổng quan về chi Giổi Michelia Linnaeus
3
1.1.1. Phân bố của chi Giổi (Michelia L.)
3
1.1.2. Thành phần hóa học
3
19
2.1. Nguyên vật liệu, thiết bị
19
2.1.1. Nguyên vật liệu
19
2.1.2. Hóa chất, dung môi, dòng tế bào
19
2.1.3. Trang thiết bị và dụng cụ phịng thí nghiệm
19
2.2. Nội dung nghiên cứu
20
2.3. Phương pháp nghiên cứu
20
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
20
26
3.2.2. Kết quả đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư của cao chiết hạt
Giổi
32
3.3. Đánh giá hoạt tính chống oxy hóa trên cơ sở đánh giá khả năng bắt
giữ gốc tự do DPPH
36
3.3.1. Kết quả hoạt tính chống oxy hóa trên cơ sở đánh giá khả năng bắt
giữ gốc tự do DPPH của cao chiết lá Giổi
37
3.3.2. Kết quả hoạt tính chống oxy hóa trên cơ sở đánh giá khả năng bắt
giữ gốc tự do DPPH của cao chiết hạt Giổi
39
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN
42
4.1. Về hoạt tính gây độc tế bào ung thư
42
DPPH
1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl
EtOAc
Ethyl acetat
EtOH
Ethanol
FBS
HCT116
IC50
Fetal bovine serum (Huyết tương thai bò)
Human colon carcinoma (Ung thư đại trực tràng người)
Half-maximal inhibitory concentration (Nồng độ ức chế
50%)
MCF7
Human breast carcinoma (Ung thư vú ở người)
MTT
3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium
bromide
Giá trị IC50 của các phân đoạn cao chiết lá Giổi trên khả năng
bắt giữ gốc tự do DPPH
Bảng 3.7
34
Ảnh hưởng của các phân đoạn cao chiết lá Giổi lên khả năng
dọn gốc tự do DPPH
Bảng 3.6
32
Giá trị IC50 của các phân đoạn cao chiết hạt Giổi trên khả năng
ức chế sự phát triển tế bào ung thư
Bảng 3.5
29
Ảnh hưởng của các phân đoạn cao chiết hạt Giổi lên khả năng
sống còn của tế bào ung thư
Bảng 3.4
27
Giá trị IC50 của các phân đoạn cao chiết lá Giổi trên khả năng
Hình 3.3
22
26
Đường cong sigmoid biểu diễn mối tương quan giữa log (nồng
độ) của các phân đoạn cao chiết lá Giổi trên khả năng ức chế
các dòng tế bào ung thư
Hình 3.4
31
Đường cong sigmoid biểu diễn mối tương quan giữa log (nồng
độ) của các phân đoạn cao chiết hạt Giổi trên khả năng ức chế
các dòng tế bào ung thư
Hình 3.5
36
Đường cong sigmoid biểu diễn mối tương quan giữa log (nồng
độ) của các phân đoạn cao chiết lá Giổi trên khả năng bắt giữ
gốc tự do DPPH
Hình 3.6
38
Nhiều nhà khoa học đã thực hiện nghiên cứu về hoạt tính chống ung thư và
chống oxy hóa sau khi đã phân tích thành phần hóa học của các lồi thuộc chi
Michelia và nhận thấy tiềm năng ở chúng [21], [25], [26], [34], [48], [50].
Giổi là một cây thuộc chi Michelia, có tên khoa học là Michelia
tonkinensis, đã được sử dụng trong dân gian với các tác dụng làm thuốc hạ sốt,
chữa đau bụng, ăn uống không tiêu hoặc ngâm rượu để xoa bóp khi đau nhức, tê
thấp. Ngồi ra hạt Giổi có chứa tinh dầu thơm nên từ lâu đã được người dân ở
1
các tỉnh miền núi phía Bắc sử dụng làm gia vị. Trong những năm gần đây, cây
Giổi đã được trồng nhiều ở một số địa phương để làm gia vị và mang lại giá trị
kinh tế cao. Tuy nhiên nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lí
của cây Giổi cịn rất hạn chế. Hiện nay mới chỉ có 1 vài nghiên cứu về tác dụng
dược lý của cây Giổi như nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn, tác dụng chống
viêm [2], [5], [6], [15].
Do đó việc tiến hành thêm những nghiên cứu đầy đủ hơn về tác dụng
sinh học của loài Giổi sẽ làm tăng giá trị sử dụng của lồi này. Vì vậy chúng tơi
tiến hành đề tài “Đánh giá tác dụng chống oxy hóa và gây độc tế bào ung thư
của cây Giổi (Michelia tonkinensis A. Chev) thu hái tại Hịa Bình” với các
mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá tác dụng gây độc tế bào ung thư của lá và hạt Giổi
- Đánh giá tác dụng chống oxy hóa của lá và hạt Giổi
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về chi Giổi Michelia Linnaeus
1.1.1. Phân bố của chi Giổi (Michelia L.)
10) là parthenolide (5), dihydroparthenolide (6), santamarine (7), costunolide
(8), dihydrotamaulipin A β-D-glucoside (9) và dihydroreynosin β-D-glucoside
(10) [49]. Tiếp đến hợp chất sesquiterpene có tên sphaelactone A (11) đã được
cơng bố từ loài M. sphaerantha [42]. Khoảng 30 monoterpene và 26
sesquiterpen đã được tìm thấy có trong tinh dầu của lồi Giổi nhung (M.
foveolata). Trong đó, terpinen-4-ol (12) cũng được xác định là thành phần
terpenoid chính có trong lồi thực vật này [30]. Linalool (13) – được biết đến
với nhiều tác dụng sinh học như chống ung thư, chống sốt rét, chống viêm
kháng khuẩn, đã được phân lập từ nhiều bộ phận khác nhau của loài Bạch ngọc
lan (M. alba Linn) như hoa, lá và cành sử dụng dung môi chiết là ethanol trong
điều kiện siêu âm [37], [39]. Năm 2010, nhóm nghiên cứu của các nhà khoa học
Trung Quốc là Ming Jen Cheng và các cộng sự đã phân lập và xác định cấu trúc
hai monoterpene ester mới từ lá của loài M. compressa (Maxim.) Sargent var.
formosana Kanehira là pressafonin A (14) và pressafonin B (15) [27].
Cấu trúc hóa học của một số terpenoid phân lập được từ chi Michelia L.
được thể hiện ở Phụ lục 3.
1.1.2.2. Thành phần alkaloid
Hai hoạt chất bisbenzylisoquinoline alkaloid là magnoline (16) và
magnolamine (17) đã được tìm thấy trong lá của lồi Hương tiêu (M. figo
Sprense) [51]. Isoquinoline alkaloid là liriodenine (18) được phân lập từ lồi
Giổi móc [M. floribunda (Finet & Gagnep)] [49]. Tiếp sau đó, sáu aporphine
khác (19–25) bao gồm (–)-anonaine (19), (–)-asimilobine (20), (–)-nuciferine
(21), (–)-anolobine (22), (–)-romerine (23), (–)-N-acetylanonaine (24) và một
oxoaporphine là liriodenine (25) đã được xác định từ cành của loài Hoàng ngọc
lan (M. champaca L.), bên cạnh các alkaloid được cơng bố trước đó là
ushinsunine (26) và magnoflorine (27) [59].
Nhóm nghiên cứu của Wen-Li Lo đã tìm được hai hợp chất aristolactam
và dioxoaphorphine mới từ lá của loài M. compressa var. lanyuensis và được đặt
tên là pressalanine A (28) và pressalanine B (29) [45]. (–)-N-formylanonaine
(30) đã được phân lập từ loài Bạch ngọc lan (M. alba) và thể hiện hoạt tính sinh
(50),
benzaldehyde
4-O-β-D-glucopyranoside
(51),
syringaresinol (52) và syringic acid (53), một quinol 4-acetonyl-3,5-dimethoxyp-quinol (54) và amide N-trans-feruloytyramine (55), N-cis-feruloytyramine
(56) cũng đã được tìm thấy từ cành của lồi M. champaca [59].
Cấu trúc hóa học của một số thành phần hóa học khác phân lập được từ
5
chi Michelia được thể hiện ở Phụ lục 3.
1.1.3. Tác dụng sinh học
1.1.3.1. Tác dụng chống ung thư
Từ những năm 1978, Ogura, M., Cordell, G. A., & Farnsworth, N. R. đã
thực hiện một nghiên cứu về tác dụng chống ung thư của các hợp chất phân lập
được từ loài thuộc chi Michelia. Cụ thể là nhóm nghiên cứu đã lấy dịch chiết
phân đoạn chloroform từ rễ của loài M. compressa Maxim. và tiến hành thử tác
dụng trên trên tế bào 9KB. Kết quả cho thấy một số sesquiterpen lactone có
mảnh cấu trúc α, β-khơng no ở vịng γ-lactone bao gồm michelenolide,
micheliolide, parthenolide, costunolide, santamarine và liriodenine thể hiện tác
dụng gây độc tế bào ung thư biểu mơ vịm họng 9KB với giá trị ED 50 là 1,0; 2,5;
0,45; 0,69; 1,1 và 3,8 μg/mL [50]. 30 năm sau, một nhóm nhà nghiên cứu Đài
Loan công bố nghiên cứu: Dịch chiết methanol từ rễ lồi M. compressa Maxim
thể hiện hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư bao gồm tế bào
ung thư vú người MCF-7, tế bào ung thư phổi người NCI-H460 và tế bào ung
thư thần kinh trung ương SF-268 thông qua giá trị IC50. Kết luận được đưa ra là
(Madin – Darby canine kidney, MDCK) và tế bào Vero bằng thử nghiệm MTT.
Phân đoạn chiết chloroform đã được lấy để phân lập được (-)-anonaine tinh
khiết, sau đó thử với liều 100 µM thu được kết quả là khả năng sống sót của tế
bào HeLa khi điều trị với (-)-anonaine giảm còn 23±1 %, trong khi đó khả năng
sống sót ở tế bào MDCK và tế bào Vero có dùng (-)-anonaine là 75±3 % và
95±4 %. Điều này chứng tỏ (-)-anonaine thể hiện tác dụng ức chế chọn lọc trên
dòng tế bào ung thư [26]. Ngoài ra, một nghiên cứu khác năm 2011 đã lấy (-)anonaine tinh chế từ phân đoạn chiết chloroform của thân loài M. alba để điều
trị trên tế bào ung thư phổi người H1299 ở các mức liều 10, 50, 100, 200 µM
bằng phương pháp MTT nhằm đánh giá khả năng ức chế sự phát triển của tế
bào. Kết quả là khả năng sống sót của tế bào giảm từ 87±6 % (10 μM) đến 47±9
% (200 μM) cho thấy (-)-anonaine có tác dụng ức chế mạnh ở nồng độ micro
trên tế bào H1299 [25].
Cũng vào năm 2011, một nghiên cứu ở Trung Quốc đã thử nghiệm tác
dụng chống ung thư của 5 hợp chất bao gồm liriodenine, vanillin, (-) roemerine,
(-)-N-acetylanonaine, N-transferuloyltyramine có trong dịch chiết methanol phân
7
lập từ cành cây M. champaca L. Bằng cách đánh giá hiệu quả ức chế sự phát
triển của tế bào ung thư biểu mô phổi người A549 và tế bào ung thư vú người
MDA-MB-231, kết quả thu được cho thấy ở liều thử là 20 µM liriodenine trong
48h, hiệu quả ức chế tốt nhất trên cả 2 dòng tế bào A549 và MDA-MB-21 lần
lượt là 54,4 % và 51.7 % [59].
Vào năm 2014, Yu-Yi Chan và cộng sự đã công bố nghiên cứu tác dụng
gây độc tế bào của hai hợp chất liriodenine và oliveroline. Họ đã lấy phân đoạn
chloroform từ dịch chiết thân gỗ loài M. compressa và tiến hành thử trên 6 dòng
tế bào ung thư gồm tế bào ung thư biểu mơ vịm họng của người (NPC-TW01),
ung thư phổi (NCI-H226 và A549), tế bào T (Jurkat), ung thư thận (A498) và tế
bào khối u xơ (HT1080) bằng phương pháp MTT. Kết quả cho thấy, liriodenine
và oliveroline có tác dụng ức chế các dòng tế bào ung thư trên với giá trị IC 50 từ
quả kháng khuẩn của tinh dầu có chứa 14 hydrocacbon mạch dài và 16 terpenoid
từ hoa của loài Bạch ngọc lan (M. figo Spreng) đã thể hiện trên vi khuẩn
Bacillus sabtills, Escherichia coli và Mucor racemosus với giá trị ức chế lần
lượt là 70,36; 60,24 và 65,52 % [58].
Năm 2015, Dalvi Sanjay Marotrao đã nghiên cứu về hoạt tính kháng
khuẩn của tinh dầu và dịch chiết n-hexan từ hoa của loài Hoàng ngọc lan (M.
champaca) bằng phương pháp khuếch tán Durham và phương pháp đĩa mẫn cảm
(Susceptibility Disc method), sử dụng mẫu thử 0.1 mL tinh dầu và lượng tương
tự cho dịch chiết n-hexan. Kết quả chỉ ra tác dụng ức chế vi khuẩn Gram dương,
tuy nhiên, lại khơng có tác dụng trên vi khuẩn Gram âm. Tinh dầu thể hiện tác
dụng kháng mạnh nhất đối với dịng vi khuẩn Staphylococcus aureus với đường
kính của vùng tác dụng ức chế là 11mm, và tác dụng yếu hơn với dịng vi khuẩn
S. epidermidis với đường kính vịng vơ khuẩn là 9 mm [48].
Năm 2011, Wu C. C và cộng sự đã chiết xuất gỗ lõi loài M. formosana
bằng ethanol để thử tác dụng kháng nấm. Kết quả được cơng bố cho thấy phân
đoạn n-hexan có chứa hoạt chất liriodenine có khả năng chống nấm mạnh nhất,
cho giá trị IC50 với Lenzites betulina và Trametes versicolor lần lượt là 0,76 và
3,5 µg/mL; cịn với Laetiporus sulphureus, Gloeophyllum trabeum và
Fomitopsis pinicola, giá trị IC50 đều nhỏ hơn 2 µg/mL [57].
Tác dụng kháng nấm của các hợp chất phân lập được từ dịch chiết
ethylacetate của lá, thân và rễ loài M. champaca đã được cơng bố bởi nhóm
9
nghiên cứu của Vanessa Mara Chapla vào năm 2014. Các hợp chất được đánh
giá tác dụng kháng nấm với liều100 µg, riêng 4 hợp chất là 2-phenylethyl 1Hindol-3-yl-acetate , 2(4-hydroxyphenyl) acetic acid, 4-hydroxybenzamide, 2(2hydroxyphenyl) acetic acid được thử với mức liều từ 1-100 µg. Kết quả cho
thấy, hợp chất mới 2-phenylethyl 1H-indol-3-yl-acetate cho tác dụng tốt, kháng
lại Cladosporium cladosporioides và C. sphaerospermum ở nồng độ 5 μg, tương
đương với tác dụng kháng nấm của chất đối chứng nystatin; hợp chất 2(4hydroxyphenyl) acetic acid cũng thể hiện tác dụng kháng nấm cao đối với dịng
C. cladosporioides và trung bình đối với C. sphaerospermum; các hợp chất cịn
hiện khả năng chống oxy hóa. Để thử tác dụng này, nhóm nghiên cứu đã sử
dụng phương pháp bắt gốc tự do ABTS với nồng độ mẫu thử là 100 µM so với
chất đối chứng là vitamin C. Kết quả % ức chế là 40.1 % [54].
Tiếp tục vào năm 2010, (-)-N-F-formylanonaine được biết đến về khả
năng chống oxy hóa cũng qua nghiên cứu của Wang H. M và cộng sự. Nghiên
cứu tiến hành trên dịch chiết ethanol lá của loài M. alba và đánh giá tác dụng
chống oxy hóa bằng phương pháp bắt gốc tự do DPPH. Kết quả cho thấy (-)-NF-formylanonaine thể hiện hoạt tính chống oxy hóa trung bình đến cao khi so
sánh giá trị IC50 là 121,4 µM so với 52,1 µM của chất đối chứng là vitamin C
[55].
Năm 2017, một nghiên cứu ở Ấn Độ đã đánh giá tác dụng chống oxy hóa
của tinh dầu phân lập được từ M. champaca thông qua tác dụng bắt giữ gốc
peroxide theo phương pháp Ruch và công sự năm 1989. Tinh dầu sẽ được thử ở
các nồng độ 25, 50, 75, 100 và 200 mg/mL. Kết quả thử cho thấy tác dụng
chống oxy hóa tăng dần theo liều thử và tại nồng độ 200 mg/mL, phần trăm (%)
bắt giữ peroxide là 63,7 % so với chất đối chứng vitamin C là hơn 70 % [20].
1.1.3.5. Một số tác dụng khác
- Tác dụng kháng viêm
Hai hợp chất roemerine và cyathisterol phân lập từ phân đoạn chloroform
của dịch chiết lá loài M. compressa var. formosana thể hiện tác dụng kháng
viêm với liều thử là 125, 250, 500, 1000, 2000 ng/mL, thông qua ức chế sự sản
sinh NO trên tế bào đa bào RAW264.7, bị gây viêm bởi LPS, với giá trị IC 50 lần
lượt là 8,5 ± 0,3 và 9,6 ± 0,5 µg/mL [22].
11
Năm 2011, các nhà nghiên cứu Ấn Độ đã công bố nghiên cứu về hoạt tính
kháng viêm của lá lồi M. champaca trên mơ hình gây viêm bởi carrageenan
trên chuột. Khi sử dụng với liều 200 mg/kg, phân đoạn ethanol thể hiện tác dụng
chống viêm mạnh nhất với mức độ giảm viêm sau 3h trên chuột là 68,49 % so
nhà nghiên cứu Ấn Độ tiến hành trên mơ hình chuột bị gây đái tháo đường bằng
alloxan. Dịch chiết petroleum ether, chloroform, acetone, nước, ethanol và dịch
chiết nước thơ của nụ hoa lồi M. champaca được thử với liều 400 mg/kg trên
chuột bị đái tháo đường, đồng thời dịch chiết ethanol cũng được thử trên chuột
bình thường đã nhịn ăn ở 2 mức liều là 200 mg/kg và 400 mg/kg, sau đó theo
dõi đường huyết (mg/dL) của chuột bằng phương pháp dùng enzyme glucose
oxidase tại các thời điểm 0h, 0.5h, 1h, 2h, 3h sau khi điều trị (Dịch chiết nước
thô được chiết bằng cách đun 25 g dược liệu với 200 mL nước trong 15 phút).
Kết quả cho thấy dịch chiết ethanol thể hiện tác dụng hạ đường huyết rõ rệt sau
0.5h đầu (từ 111,80±5,20 còn 85,60±3,88) so với nhóm chứng dùng
glibenclamide liều 5 mg/kg (từ 105,20±3,49 còn 66,20±3,68), còn trên chuột
nhịn ăn, dịch chiết ethanol không thể hiện tác dụng tăng đường huyết [36].
1.2. Nghiên cứu về cây Giổi
Tên khoa học: Michelia tonkinensis A. Chev.
Tên đồng nghĩa: Talauma gioi A.Chev, Michelia gioii (A. Chev.) Sima &
W. H. Chen, Michelia hypolampra Dandy Figlar, Michelia hedyosperma
Y.W.Law [11], [55].
Tên gọi khác: Giổi An Nam, Giổi lúa, Giổi ngọt, Giổi ăn hạt.
1.2.1. Phân loại và đặc điểm thực vật
1.2.1.1. Phân loại
Dựa vào hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan [18], khung phân loại
của ngành Ngọc lan, vị trí phân loại của chi Michelia L. được thể hiện như sau:
Giới: Thực vật (Plantae)
Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta)
Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida)
Phân lớp: Ngọc lan (Magnoliidae)
Bộ: Ngọc lan (Magnoliales)
Họ: Ngọc lan (Magnoliaceae)
Chi: Michelia Linnaeus
13
14
Ở Việt Nam, cây được phân bố nhiều ở các tỉnh miền núi như Lào Cai
(Văn Bàn), Tuyên Quang (Nà Hang), Yên Bái, Phú Thọ (Thanh Sơn), Vĩnh
Phúc (Tam Đảo), Ninh Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh (Hương Sơn),
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Kon Tum. Ngoài ra còn bắt gặp ở Trung
Quốc (Tây Nam tỉnh Quảng Tây, Hải Nam, phía Nam tỉnh Vân Nam). Cây mọc
trong rừng thường xanh cây lá rộng, lẫn với một số loài cây gỗ khác như
Michelia faveolata, Pelthoforum ferrugineum,…ở độ cao từ 300-800 m so với
mặt nước biển. Đôi khi cũng thấy cây mọc ngay ven rừng ẩm. Giổi là cây ưa
sáng, khi cịn nhỏ chịu bóng, mọc nhanh. Cây ra hoa quả hàng năm nhưng
không đều. Mùa hoa từ tháng 3 đến tháng 4, mùa quả từ tháng 9 đến tháng 10
hàng năm. Theo nhân dân ở Yên Lập (Phú Thọ), những cây con đem về trồng ở
vườn sau khoảng 6-7 năm bắt đầu có hoa quả, nhưng năm sau lượng hoa quả
càng nhiều hơn. Hạt rơi vãi dưới tán rừng có khả năng này mầm tốt. Cây cịn
nhỏ nếu bị chặt hoặc gãy vẫn có thể mọc lại [11], [16].
1.2.3. Thành phần hóa học
Hiện nay, nghiên cứu về thành phần hóa học cây Giổi khá ít, chủ yếu tập
trung vào việc tạo giống và nghiên cứu phát triển.
Trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi có ghi về
thành phần hóa học của cây Giổi như sau: Năm 1997, Nguyễn Xuân Dũng và
cộng sự dùng phương pháp sắc ký khí và sắc ký khí kết hợp khối phổ để xác
định thành phần tinh dầu trong các bộ phận lá, thân, vỏ, thịt quả, hạt của cây
Giổi. Kết quả thấy rằng thịt quả và hạt chứa safrol: 70,2% (thịt quả), 72,9% (hạt)
và methyl eugenol 24,2% (thịt quả) và 18,5 % (hạt). Tinh dầu ở thân chứa chủ
yếu là camphor (23,8%). Tinh dầu vỏ cây chứa camphor (15,7%), safrol
(14,3%), β-caryophylen (15,6%) và elemicin (13,7%). Tinh dầu lá có thành phần
chủ yếu là elemicin (46,3%) và β-caryophylen (16,9%) [7].
α-thujen
0,2
β-cubeben
1,8
Terpinen-4-ol
0,8
α-pinen
40,3
β-caryophyllen
6,9
Bicycloelemen
5,4
Camphen
1,0
α-humulen
0,6
Bicyclogermacren
7,3
α-cadino
0,3
β-phellandren
0,5
(E,E)-α-farnesen
0,3
(E,E)-farnesol
1,1
Pimonen
7,6
δ-cadinen
0,6
đó safrol thuộc nhóm hợp chất có nhân thơm chiếm tỉ lệ cao nhất (78.8784.17%), ngồi ra cịn có các hợp chất monoterpen, sesquiterpen. Nghiên cứu
cịn phân lập từ lá Giổi được 3 hợp chất flavonoid là 7-methoxy artabotrysid B,
rhamnocitrin 3-O-β-neohesperidosid và 7-methoxy artabotrysid A [2].
Cũng trong năm 2018, Trần Thị Thanh Huyền đã chiết xuất và phân lập
các hợp chất từ lá cây Giổi, kết quả thu 3 hợp chất alkaloid gồm (-) - Nacetylanonain, liriodenin, oxoxylopin [6]. Các hợp chất này đều được phân lập
lần đầu tiên từ loài Michelia tonkinensis và từ chi Michelia L.
1.2.4. Tác dụng sinh học
Có rất ít nghiên cứu về tác dụng sinh học của cây Giổi.
Năm 2018 nhóm nghiên cứu của Trần Thị Thanh Huyền mới đưa ra tác
dụng chống viêm trên mơ hình in vitro của các chất phân lập được từ lá Giổi
theo cơ chế ức chế sản sinh NO ở tế bào RAW 264.7 [6].
Năm 2018, nhóm nghiên cứu của Chử Thị Thanh Huyền đã nghiên cứu
tính kháng khuẩn của tinh dầu lá cây Giổi (Michelia tonkinensis A. Chev.) thu
hái tại Hịa Bình. Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá Giổi được thử trên 3
chủng vi sinh vật (Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Candida albicans)
theo phương pháp hịa tan trong mơi trường lỏng để xác định nồng độ diệt khuẩn
tối thiểu (MBC) và nồng độ diệt nấm tối thiểu (MFC). Thử nghiệm tiến hành với
100 µL dung dịch thử cho kết quả tinh dầu lá Giổi khơng có khả năng ức chế E.
Coli nhưng có khả năng ức chế trên Staphylococcus aureus và Candida albicans
với MBC/MFC là 0,14 % [5].
Cũng trong năm 2018, Hà Vân Oanh và cộng sự đã nghiên cứu tính kháng
khuẩn của tinh dầu hạt Giổi (Michelia tonkinensis A. Chev.) thu hái tại Hịa
Bình. Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu hạt Giổi được thử trên 3 chủng vi sinh
vật (Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Candida albicans) theo
phương pháp đo đường kính vịng kháng khuẩn. Kết quả thu được là ở đĩa thạch
thử nghiệm, chủng P. aeruginosa vẫn phát triển tốt chứng tỏ dịch thử khơng có
tác dụng kháng khuẩn lên chủng P. aeruginosa; trong khi đó đối với 2 chủng
17