VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ HUYỀN
XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN QUÂN
Hà Nội -2020
LỜI CAM ĐOAN
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Văn Quân đã
hướng dẫn và giúp đỡ tơi về mọi mặt để hồn thành bản luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, các
thầy giáo, cô giáo và đội ngũ cán bộ, viên chức đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ
tôi thời gian tham gia học tập tại Học viện.
Tơi xin cam đoan, đây là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng tơi.
Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên nguồn tư liệu, số liệu bảo đảm
độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH
QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG ................................................................................... 57
3.1. Xây dựng hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan
trung ương ........................................................................................................... 59
3.2. Hoàn thiện quy định về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của
chính quyền địa phương ...................................................................................... 59
3.3. Cần có quy định cụ thể việc xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật không tuân thủ quy định dẫn
tới ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật gây hậu quả
nghiêm trọng ....................................................................................................... 64
3.4. Tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa
phương trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ........................ 65
3.5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật. .................................................................................... .67
3.6. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ............. 68
3.7. Đảm bảo nguồn lực vật chất cho công tác xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật .............................................................................................................. 69
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 74
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CQĐP
Chính quyền địa phương
38
phạm pháp luật của các cấp chính quyền tỉnh Cao
Bằng
3
Bảng 2.3. Thống kê tổ chức, người làm công tác pháp
chế tại các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân
tỉnh Cao Bằng năm 2019
53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân là chủ trương đã được Đảng và Nhà nước ta đặt ra
trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện
hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật là một trong những phương
hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó
coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm cho luật
pháp thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng và quyền lực của dân, thực sự bảo vệ
được các quyền của công dân là điều kiện cần thiết để Nhà nước quản lý, điều
hành xã hội bằng pháp luật một cách hiệu quả. Do đó, luật pháp chiếm vị trí
tối thượng trong hoạt động của Nhà nước và trong đời sống xã hội và việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm tính cơng khai, minh bạch, thống
nhất, đồng bộ là nhiệm vụ hết sức quan trọng được đặt ra đối với Đảng và các
cơ quan nhà nước. Một trong những biểu hiện của Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa là pháp luật của Nhà nước được thể chế hóa và bảo vệ quyền
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhằm xây dựng, phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Do đó
nâng cao chất lượng văn bản QPPL của CQĐP là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm của các cấp CQĐP.
Thực tế công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của tỉnh Cao Bằng
trong thời gian qua cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong công
tác văn bản, đã phát hiện nhiều văn bản QPPL do CQĐP ban hành trái luật.
Đối với văn bản QPPL cấp tỉnh, theo kết luận kiểm tra của Bộ Tư pháp kiểm
tra 114 văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh Cao Bằng ban hành từ ngày
01/01/2017 đến 31/3/2019 phát hiện 01 văn bản của HĐND và 08 văn bản của
UBND ban hành có nội dung không phù hợp với quy định của cơ quan nhà
2
nước cấp trên [6, tr.4]; đối với văn bản cấp huyện từ năm 2005 đến năm 2019
qua kiểm tra theo thẩm quyền đối với 698 văn bản QPPL phát hiện 31 văn
bản có nội dung trái pháp luật [37, tr.5]; đối với cấp xã từ năm 2005 đến năm
2019 qua kiểm tra theo thẩm quyền đối với 2.518 văn bản QPPL phát hiện
394 văn bản không phù hợp với quy định của pháp luật (326 văn bản QPPL,
68 văn bản khơng phải là văn bản QPPL nhưng có chứa QPPL) [37, tr.5] .
Một văn bản QPPL ra đời cần qua khâu xây dựng và khâu ban hành,
tuy khâu ban hành là khâu quyết định giá trị pháp lý của một văn bản QPPL,
nhưng có thể nói rằng khâu xây dựng mới là khâu làm nên chất lượng của văn
bản QPPL được ban hành. Xây dựng văn bản QPPL chiếm đa số thời gian
hình thành một văn bản QPPL với những trình tự, thủ tục chặt chẽ nhằm đánh
giá tồn diện các QPPL có tác động như thế nào nếu được thực thi, từ đó là cơ
sở hồn thiện dự thảo văn bản có chất lượng để trình cơ quan có thẩm quyền
quyết định ban hành và tiếp đó là việc thực thi văn bản QPPL đạt được hiệu
quả trong đời sống xã hội. Do vậy để nâng cao chất lượng văn bản QPPL của
của CQĐP. Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm đổi mới, hồn thiện
pháp luật góp phần nâng cao chất lượng văn bản QPPL của CQĐP.
Nguyễn Thị Thúy Hằng, Phạm Thái Quý, “Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” - Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật. Nghiên cứu đánh giá thực tiễn công tác ban hành văn bản QPPL
của HĐND và UBND, tập trung vào những bất cập như vấn đề: xác định
quyền hạn của HĐND trong ban hành nghị quyết; xác định văn bản QPPL và
vấn đề HĐND và UBND cùng ban hành văn bản quy định, đó là những trao
đổi của tác giả nhằm triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL năm
2015 đạt hiệu quả.
Các nghiên cứu về vấn đề liên quan tới xây dựng văn bản QPPL của
CQĐP:
4
Nguyễn Thị Thanh Tâm (2014) Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh qua thực tiễn
thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn nghiên cứu về thẩm định dự thảo văn bản QPPL của HĐND và
UBND cấp tỉnh. Về lý luận, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản nhất
của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản QPPL của HĐND và và UBND cấp
tỉnh. Về thực trạng, luận văn đã phân tích những kết quả và tồn tại hạn chế
đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong hoạt động thẩm
định dự thảo văn bản QPPL của HĐND và Ủy ban nhân cấp tỉnh qua thực tiễn
thành phố Hà Nội. Trên cơ sỏ thực trạng, đề tài đã đưa ra các nhóm giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng thẩm định văn bản QPPL của HĐND và UBND
cấp tỉnh.
Nguyễn Thị Ngọc Mai (2019), “Hồn thiện pháp luật về quy trình lập
đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh”, Tạp chí Khoa
xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng văn bản QPPL của
CQĐP.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khái qt tình hình nghiên cứu những nội dung có liên quan đến văn
bản QPPL nói chung và xây dựng văn bản QPPL của CQĐP nói riêng.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xây dựng văn bản QPPL của CQĐP.
- Phân tích làm rõ thực trạng về xây dựng văn bản QPPL của các cấp
chính quyền tỉnh Cao Bằng, rút ra những mặt tích cực đạt được, cũng như
những mặt hạn chế và nguyên nhân hạn chế từ đó tìm ra các giải pháp khắc
phục.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng văn bản QPPL của
CQĐP.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
6
Xây dựng văn bản QPPL của CQĐP và thực tiễn tại tỉnh Cao Bằng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu lý luận chung về văn bản QPPL, xây
dựng văn bản QPPL của CQĐP, các quy định của pháp luật về khái niệm,
thẩm quyền, trình tự xây dựng văn bản QPPL của CQĐP và thực tiễn tại tỉnh
Cao Bằng.
Về thời gian: Từ năm 2016 đến hết năm 2019, trong đó có đối chiếu với
số liệu của giai đoạn trước.
Về không gian: Thực tiễn xây dựng văn bản QPPL của các cấp chính
quyền tỉnh Cao Bằng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Phương pháp khảo sát:
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và để phù hợp với công tác phòng
chống dịch bệnh Covid-19, tác giả tiến hành gửi phiếu khảo sát các đối tượng
trong phạm vi không gian, thời gian cụ thể như sau:
- Số lượng phiếu khảo sát
+ Phiếu khảo sát phát ra: 40 phiếu.
+ Phiếu khảo sát thu về: 36 phiếu.
- Đối tượng khảo sát
+ Sở Tư pháp: 08 phiếu cho công chức đã và đang thực hiện công tác
xây dựng, kiểm tra văn bản QPPL.
+ 05 Phiếu gửi Phòng Tư pháp thành phố Cao Bằng.
+ Các huyện còn lại mỗi Phòng Tư pháp 03 phiếu.
- Thời gian thực hiện: Quý II năm 2020
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài của Luận văn đề cập khá toàn diện các vấn đề lý luận và thực
tiễn về xây dựng văn bản QPPL của CQĐP. Với những kết quả mà luận văn
8
đạt được sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác xây
dựng văn bản QPPL của CQĐP ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, cũng như
góp phần vào việc làm phong phú lý luận về xây dựng văn bản QPPL nói
chung, văn bản QPPL do CQĐP nói riêng ban hành. Luận văn là một tài liệu
tham khảo về xây dựng văn bản QPPL của CQĐP cho những người học,
người nghiên cứu, cán bộ thực hiện công tác soạn thảo, ban hành văn bản
QPPL của CQĐP và các nhà hoạch định chính sách.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi
nghiên cứu, được bố cục như sau:
những người làm cơng tác thực tiễn tranh luận.
Có thể nói rằng, vấn đề xác định văn bản QPPL là vấn đề quan trọng,
việc xác định thế nào là QPPL của người, đơn vị đề xuất xây dựng mang tính
quyết định tới tính hợp pháp của văn bản QPPL được ban hành, bởi xác định
được yếu tố QPPL trong văn bản dự định xây dựng để từ đó xác định đúng
thẩm quyền ban hành, tuân thủ theo trình tự, thủ tục quy định.
Trên thế giới, pháp luật một số quốc gia cũng có quy định về khái niệm
văn bản QPPL như Azebaizan, Lào, Kyrgikistan, Gruzia và Bulgaria… theo
10
kinh nghiệp của các nước này có 03 tiêu chí để xác định văn bản QPPL, cụ
thể là: (1) Văn bản QPPL có chứa quy tắc chung; (2) Văn bản QPPL do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thơng qua; (3) có hiệu lực bắt
buộc chung.
Để làm rõ khái niệm văn bản QPPL, một số nước bổ sung tiêu chí để
phân biệt giữa văn bản QPPL với các văn bản hành chính thơng thường như:
QPPL là những mệnh lệnh bắt buộc mang tính tạm thời hoặc thường xuyên và
được áp dụng nhiều lần (Kyrgikistan); QPPL được áp dụng cho một số lượng
không xác định và không hạn chế các đối tượng (Bulgaria); Văn bản QPPL là
văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc địa phương
soạn thảo, thông qua, công bố (Lào); Văn bản QPPL được ban hành nhằm xác
lập, thay đổi hoặc hủy bỏ các QPPL theo quy định của luật về ban hành văn
bản (Azebaizan, Kyrgikistan).
Ở Việt Nam, khái niệm văn bản QPPL lần đầu tiên được quy định tại
Luật Ban hành văn bản QPPL năm 1996 (sửa đổi, bổ sung 2002), sau đó dược
hồn chỉnh hơn theo quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 và
đặc biệt là Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015.
Theo Điều 2 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 (Luật 2015) khái
niệm văn bản QPPL được đưa ra như sau: “Văn bản QPPL là văn bản có
áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần của các QPPL được hiểu là bắt buộc đối với
mọi chủ thể nằm trong điều kiện, hoàn cảnh mà QPPL quy định. QPPL được
đặt ra không phải cho những chủ thể cụ thể mà cho các chủ thể không xác định.
Đây là điểm khác biệt với văn bản áp dụng pháp luật, bởi vì nội dung văn bản
áp dụng pháp luật bao giờ cũng chứa đựng quy tắc xử sự riêng đối với cá nhân,
12
tổ chức cụ thể được xác định. Vì vậy văn bản QPPL được áp dụng nhiều lần
trên thực tế còn văn bản áp dụng pháp luật chỉ có hiệu lực duy nhất một lần.
Tính áp dụng trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định:
tùy thuộc vào thẩm quyền của chủ thể ban hành, cũng như nội dung của mỗi
văn bản. Thông thường văn bản QPPL do cơ quan Nhà nước ở trung ương
ban hành có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước, còn văn bản QPPL do
địa phương ban hành thì có hiệu lực trên phạm vi đơn vị hành chính địa
phương đó.
Do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định và được Nhà nước
bảo đảm thực hiện:
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, nhằm điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội. Từ khái niệm này ta thấy, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự
do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Các quy tắc xử sự chính là
những khn mẫu, chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân
theo khi tham gia các quan hệ xã hội được quy tắc đó điều chỉnh.
Văn bản QPPL được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp
tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, tổ chức, hành chính, kinh tế. Trong trường
hợp cần thiết, Nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân, tổ chức
cố tình khơng thực hiện hoặc thực hiện sai các quy định của văn bản QPPL.
Yếu tố thứ hai: Được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình
hóa cơng cộng (nhiệm vụ chi) cho nhân dân trong địa phương mình và có
quyền thu thuế địa phương (nguồn thu) [56].
Ở Việt Nam theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 thì
các đơn vị hành chính của nước ta được phân định ba cấp đơn vị hành chính
14
phổ biến là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và một cấp khơng phổ biến là đơn vị
hành chính – kinh tế đặc biệt. Điều 111 Hiến pháp năm 2013 quy
định: “CQĐP được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hịa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp CQĐP gồm có HĐND và UBND được tổ chức
phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế
đặc biệt do luật định” [26]. Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức CQĐP năm 2015
được sửa đổi năm 2019 quy định “Chính quyền địa phương được tổ chức ở
các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
định tại Điều 2 của Luật phù hợp với đặc điểm nơng thơn, đơ thị, hải đảo, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt” [29]. Qua đó có thể hiểu CQĐP ở Việt Nam
được tổ chức tại các đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và đơn vị
hành chính – kinh tế đặc biệt, khác với trước đây cấp CQĐP được tổ chức
gồm HĐND và UBND, Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức CQĐP đã cho phép
việc tổ chức HĐND và UBND là không bắt buộc, tạo sự linh hoạt để tổ chức
phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế
đặc biệt. Hiện nay các cấp CQĐP trên cả nước hầu hết vẫn gồm có HĐND và
UBND, chỉ riêng thành phố Hà Nội và thành phố Đà Nẵng đang thực hiện thí
điểm khơng tổ chức HĐND tại một số quận, thị xã, phường thuộc địa bàn.
Hiến pháp 2013 đã sử dụng cụm từ “chính quyền địa phương” thay cho
cụm từ “HĐND, UBND” trong bản Hiến pháp trước đó, mặc dù đây khơng
phải lần đầu tiên Hiến pháp nước ta sử dụng cụm từ này (thuật ngữ “chính
quyền địa phương” đã được sử dụng từ bản Hiến pháp đầu tiên 1946 của nước
Có quy tắc xử sự chung.
Có hiệu lực trong phạm vi địa phương.
Được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở
địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
16
Như vậy, văn bản QPPL của CQĐP có những đặc điểm chung của văn bản
QPPL theo quy định của Luật 2015, chỉ khác về chủ thể có thẩm quyền ban
hành là CQĐP các cấp và phạm vi áp dụng văn bản là tại địa phương.
Theo pháp luật về văn bản QPPL hiện nay mặc dù thuật ngữ xây dựng
văn bản QPPL được nhắc đến rất nhiều nhưng thuật ngữ này khơng được giải
thích. Tuy nhiên theo trình tự thủ tục ban hành văn bản QPPL trong Luật
2015 thì văn bản QPPL được ra đời qua 2 khâu là khâu xây dựng và ban hành.
Theo đó có thể hiểu xây dựng văn bản QPPL là quá trình đề xuất xây dựng,
soạn thảo và hoàn thiện dự thảo văn bản QPPL theo trình thủ tục luật định để
trình cơ quan, người có thẩm quyền ban hành.
Vậy xây dựng văn bản QPPL của CQĐP được hiểu là quá trình đề xuất
xây dựng, chuẩn bị dự thảo văn bản QPPL của CQĐP theo trình tự, thủ tục do
luật định.
1.2. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính
quyền địa phương
1.2.1. Thẩm quyền về hình thức
Thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành
văn bản chỉ được ban hành văn bản theo đúng hình thức (tên gọi) văn bản
QPPL đã được quy định cho cơ quan, người có thẩm quyền đó. Thẩm quyền
về hình thức được Luật 2015 quy định như sau:
Tại Khoản 9, 10, 12, 13, 14, 15 Điều 4 quy định:
“9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
phương.
UBND cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định: (1) Chi tiết điều,
khoản, điểm được giao trong văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên;
18
(2) Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp
trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách,
quốc phòng, an ninh ở địa phương; (3) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý
nhà nước ở địa phương.
Đối với CQĐP ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Luật 2015 chỉ
quy định dẫn chiếu HĐND và UBND ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
ban hành văn bản QPPL theo quy định của Luật 2015 và các luật khác có
liên quan. Bởi theo Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định thành lập, được áp dụng các cơ
chế, chính sách đặc biệt về kinh tế - xã hội, có CQĐP được tổ chức phù
hợp với đặc điểm, yêu cầu, mục tiêu phát triển của đơn vị đó (Điều 74) và
nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND, UBND ở đơn vị hành chính - kinh
tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập (khoản 2 Điều 75) [27]. Bởi
vậy không thể quy định khung thẩm quyền nội dung cho CQĐP ở đơn vị
hành chính – kinh tế đặc biệt như HĐND, UBND cấp tỉnh khác.
Thẩm quyền nội dung của HĐND, UBND cấp huyện và xã bị hạn chế
bằng việc Luật 2015 khơng quy định những nội dung nào thì HĐND, UBND
cấp huyện, xã được ban hành văn bản QPPL mà quy định HĐND, UBND ở 2
cấp này chỉ được ban hành văn bản QPPL để quy định những vấn đề được
luật giao.
Thực hiện chủ trương tinh gọn hệ thống văn bản QPPL, so với Luật Ban
hành văn bản QPPL năm 2008 (Luật 2008) và Luật Ban hành văn bản QPPL
của HĐND và UBND năm 2004 (Luật 2004), Luật 2015 đã bỏ hình thức văn
bản QPPL là chỉ thị của UBND các cấp, đồng thời giới hạn nội dung, quy
định rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ hơn về nội dung ban hành các hình thức văn