VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG KHÁNH
VAI TRỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ TỪ THỰC TIẾN
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Thị Lâm Thi
Hà Nội -2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được cơng bố trong
bất cứ cơng trình nào.
Tác giả luận văn
NGUYỄN HOÀNG KHÁNH
TTHS
Tố tụng hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
VKSNDTC
Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
VKSND/ Viện KSND
Viện kiểm sát nhân dân
THTT
Tiến hành tố tụng
BPNC
Biện pháp ngăn chặn
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
THQCT
phịng ngừa tội phạm. Bên cạnh đó các biện pháp ngăn chặn này còn là
phương tiện pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân khơng
những đối với người bị tạm giữ, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà cịn cả đối với người có liên quan
đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo và thân nhân của họ. Việc quy
định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác, các biện pháp ngăn chặn trong
đó có biện pháp tạm giữ là cần thiết cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của luật
tố tụng hình sự nhằm phát hiện và ngăn chặn, xử lý chính xác, nhanh chóng,
kịp thời đối với mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan,
sai người vô tội.
Tại Điều 107 Khoản 1 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Đảng và
Nhà nước giao thực hiện chức năng này, đây là hai chức năng hiến định mà
khơng có cơ quan nào có được. Để cụ thể hố hai chức năng thực hành quyền
cơng tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà pháp luật đã quy định cho Viện
kiểm sát nhân dân những nhiệm vụ và quyền hạn để thực hiện được tốt chức 1
năng, nhiệm vụ của mình mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong đó việc thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật được thực hiện đúng sẽ góp phần tích cực trong định hướng
q trình xác minh, điều tra tội phạm được chính xác, đảm bảo cho công tác
khởi tố, bắt giam, giữ, thay thế, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn cũng như ra
các quyết định tố tụng tiếp theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xử lý
đúng người, đúng tội, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Do vậy, để thực hiện vai trò của Viện KSND trong kiểm sát hoạt động
tạm giữ có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
cũng như yêu cầu của cơng cuộc đấu tranh phịng, chống tội phạm trong tình
kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt, giam giữ, việc bắt giam phải được
xem xét phê chuẩn đối với từng trường hợp, từng đối tượng cụ thể. Đối với
trường hợp bắt giam cũng được hoặc không bắt giam cũng được thì khơng
bắt giam. Sai sót trong việc bắt, giam, giữ ở địa phương nào thì trước hết
Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương đó chịu trách nhiệm”.
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị xác định về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ: Tăng
cường công tác kiểm sát giam, giữ bảo đảm đúng pháp luật, những trường hợp
chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm
giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong việc
bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình.
Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm về những vi phạm trong việc bắt,
tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền của mình dẫn đến oan, sai.
Nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp
khi thi hành công vụ cũng như nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của những người bị tạm giữ, tạm giam, Ủy ban thường vụ cũng đã ban hành
Nghị quyết số: 388/2003/NQ-UBTVQH 11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc bồi thường thiệ hại cho người bị oan do người có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Bộ luật Tố tụng hình sự 3
năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ,
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tham
gia tố tụng thống nhất để giải quyết đúng và hiệu quả các vụ án, tránh hạn chế
được các oan, sai đáng tiếc trong việc tạm giữ, tạm giam.
Những năm gần đây, trước tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
diễn biến ngày càng phức tạp cả về số lượng, quy mơ, tính chất, mức độ, cơng
cụ, phương tiện và thủ đoạn, theo đó việc tạm giữ người “đối tượng” nghi
phạm tội ngày càng tăng về số lượng. Do vậy, công tác kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân ngày càng đóng vai
những hạn chế, tồn tại, đề ra các giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao vai
trị của Viện KSND trong kiểm sát tạm giữ, từ đó đảm bảo chất lượng công
tác kiểm sát tạm giữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ.
Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: "Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong kiểm sát hoạt động tạm giữ từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng" làm đề tài
luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp của ngành kiểm sát nhân dân, trong đó kiểm sát việc áp dụng
biện pháp tạm giữ là một trong những mục đích quan trọng của cơng cuộc cải
cách tư pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân nói riêng. Bởi vậy vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của
giới chuyên môn nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn trong và ngồi
ngành kiểm sát. Nổi bật trong số đó là các cơng trình nghiên cứu sau đây:
-
Nguyễn Huy Hồng,“Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư
pháp của Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ luật.
-
Nguyễn Tiến Đạt, “Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ,
tạm giam”, Báo điện tử của trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh (Truy
cập thứ bảy, ngày 21/03/2020).
-
Nguyễn Văn Điệp, “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam
trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, Luận
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
-
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng trong kiểm sát hoạt động tạm giữ.
-
Nhiệm vụ của luận văn: Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở lý luận,
quy định của pháp luật trong kiểm sát tạm giữ, nghiên cứu thực tiễn kiểm sát
hoạt động tạm giữ trên địa bàn tồn tỉnh Cao Bằng từ đó đề xuất một số giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt
động tạm giữ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
-
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về kiểm sát hoạt động tạm giữ trong
TTHS và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
-
Phạm vi nghiên cứu: Công tác kiểm sát tạm giữ của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Cao Bằng, thời gian lấy số liệu trong 05 năm (2015 - 2019).
5.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý luận
việc áp dụng biện pháp tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng
được thực hiện tốt hơn, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
chống oan sai, bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, luận văn có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo cho những người đang học tập và làm việc trong lĩnh vực này.
7. Cơ cấu của luận văn.
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận chung về vai trò của Viện KSND trong kiểm
sát hoạt động tạm giữ.
Chương 2: Đặc điểm tỉnh hình có liên quan và thực trang kiểm sát hoạt
động tạm giữ của Viện KSND tỉnh Cao Bằng.
8
Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Viện
KSND tỉnh Cao Bằng trong kiểm sát hoạt động tạm giữ.
9
Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật trong kiểm sát
hoạt động tạm giữ.
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về Tạm giữ.
- Khái niệm tạm giữ.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được
áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm ngăn chặn hành vi nguy
TTHS do cơ quan và người có thẩm quyền theo luật định áp dụng với người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội
quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định
truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc điều tra và kịp thời
xử lý tội phạm.
Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định rất nhiều biện pháp cưỡng chế khác
nhau giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình. Trong số các biện pháp cưỡng chế theo quy định Bộ luật TTHS,
biện pháp ngăn chặn là biện pháp rất quan trọng. Tạm giữ là một trong những
biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan điều tra và các cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng để ngăn chặn
hành vi tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, thông cung hoặc cản trở điều tra, tạo điều
kiện cho cơ quan điều tra có thẩm quyền có đủ thì giờ thu thập tài liệu, chứng
cứ, bước đầu xác định hành vi phạm tội và lí lịch, nhân than của người phạm
tội cũng như các tình tiết khác liên quan đến vụ án làm căn cứ ra các quyết
định tố tụng khác như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh tạm giam hoặc trả
tự do cho người bị tạm giữ, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.
11
- Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ:
Căn cứ áp dụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật TTHS
2015, tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự chỉ có thể được áp dụng trong các
trường hợp sau:
+
Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp;
+
pháp luật thuộc lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Đồn trưởng Đồn đặc
nhiệm phịng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng
Chi cục Kiểm ngư vùng; Thủ trưởng của các đơn vị độc lập cấp trung đoàn và
cấp tương đương.
12
+
Chỉ huy trưởng tàu bay, tàu biển khi đã rời khỏi địa phận sân bay
hoặc bến
cảng.
Theo quy định của Bộ luật TTHS nhìn chung thì cơ quan điều tra từ cấp
huyện trở lên mới có quyền ra quyết định tạm giữ. Chính quyền và cơng an
cấp xã, phường, thị trấn khơng có quyền tạm giữ theo thủ tục tố tụng. Vì vậy,
khi nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy
nã, ủy ban nhân dân xã, phường hoặc thị trấn cần phải tiến hành lập biên bản
phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị
bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ.
Thủ tục tạm giữ: Tạm giữ là biện pháp cưỡng chế trong TTHS, có ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
Ngồi ra cịn ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống tình cảm gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, hàng xóm xung quanh nơi họ sinh sống làm việc. Do vậy, việc thực
hiện hoạt động tạm giữ người phải được tiến hành theo đúng trình tự thủ tục
quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 117 Bộ luật TTHS, cụ thể:
+
Việc tạm giữ bắt buộc phải có quyết định bằng văn bản của người có
thẩm quyền ra quyết định. Quyết định tạm giữ phải ghi rõ thông tin nhân thân
Viện KSND phê chuẩn quyết định tạm giữ hoặc ra quyết định hủy bỏ
quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền. Nếu quyết định tạm giữ được
phê chuẩn thì giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ và người có
nhiệm vụ thi hành quyết định. Nếu Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết
định tạm giữ thì cơ quan đang tạm giữ tiến hành trả tự do ngay cho người
đang bị tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ: Tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự sẽ được áp dụng
dựa trên quy định tại Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:
Khơng q thời gian ba ngày kể từ thời điểm Cơ quan điều tra ra quyết
định tạm giữ đối với người ra tự thú, đầu thú; từ thời điểm Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận
người bị giữ, người bị bắt tại trụ sở của mình từ người khác, cơ quan khác
hoặc áp giải người bị giữ, bị bắt về trụ sở của mình.
Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn
tạm giữ, thời hạn gia hạn theo quy định không quá 03 ngày. Trường hợp đặc
biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng
cũng không được quá 03 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ cần phải được
Viện KSND cùng cấp hoặc Viện KSND có thẩm quyền phê chuẩn. Viện kiểm
sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn trong thời
hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ. Viện kiểm sát phê 14
chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm
giữ hoặc gia hạn tạm giữ của người có thẩm quyền khi thấy căn cứ tạm giữ
khơng cịn. Nếu quyết định gia hạn tạm giữ được phê chuẩn thì giao quyết
định gia hạn tạm giữ cho người bị tạm giữ và người có nhiệm vụ thi hành
quyết định.
Khi tạm giữ, trường hợp không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan có
thẩm quyền điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; bao gồm cả
trường hợp đã gia hạn tạm giữ. Thời gian tạm giữ được khấu trừ vào thời hạn
hình sự, thi hành án dân sự, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động
tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 6 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014, Viện
KSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau
đây:
-
Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố;
- Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
-
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai
đoạn truy tố;
- Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự;
-
Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hơn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo
quy định của pháp luật;
- Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính;
-
Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của
các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại,
Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện,
xử lý kịp thời, nghiêm minh.
*
Khái niệm kiểm sát trong hoạt động tạm giữ.
Có thể hiểu, kiểm sát trong hoạt động tạm giữ là một nội dung trong hoạt
động kiểm sát tư pháp. Trong đó, VKS thực hiện kiểm sát về căn cứ, thủ tục,
thẩm quyền, thời hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của cơ quan và người có thẩm
quyền trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ theo đúng quy định của pháp
luật, cũng như đểbảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người bị tạm giữ và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ.
-
Đối tượng của kiểm sát hoạt động tạm giữ: là việc tuân theo pháp luật
của cơ quan quản lý tạm giữ, cơ quan thi hành tạm giữ, người có thẩm quyền
và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động tạm giữ. Cụ thể
hơn, là việc tuân theo pháp luật của người có thẩm quyền ra quyết định tạm
giữ, Cơ quan điều tra, nhà tạm giữ và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ
là Trưởng nhà tạm giữ và người khác có trách nhiệm trong việc tạm giữ. Đây
là những đối tượng liên quan trực tiếp đến việc tạm giữ, có quyền hạn và khi
thực hiện quyền hạn của mình rất dễ vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ.
17
-
18
1.2. Chức năng của Viện kiểm sát Nhân dân trong kiểm sát hoạt
động tạm giữ.
1.2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong hoạt động tạm giữ.
Điều 107 Hiến pháp 2013 đã quy định Viện KSND có nhiệm vụ bảo vệ
pháp luật, quyền con người, quyền công dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích
của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Luật tổ chức Viện KSND 2014 quy định tại khoản 2 Điều 2, nhiệm vụ
của Viện KSND là bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện KSND khi kiểm sát việc tạm giữ được
quy định cụ thể tại: Điều 22 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014,
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
của Viện KSND tại 14 điều trong Chương VIII – Kiểm sát quản lý, thi hành
tạm giữ, tạm giam (Điều 42, 43) và Chương IX – Khiếu nại, tố cáo và giải
quyết khiếu nại, tố cáo (Các điều 46, 49, 50 – 55, 59-60). Theo đó, Viện
KSND có các nhiệm vụ, quyền hạn sau khi kiểm sát hoạt động tạm giữ:
- Thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát tại Nhà tạm giữ.
Khi tiến hành kiểm sát thường kỳ, có thể kiểm sát tồn bộ việc chấp hành
pháp luật trong hoạt động tạm giữ hoặc kiểm sát những vấn đề KSV thấy cần
thiết hoặc phúc tra lại những vi phạm đã được phát hiện của lần kiểm sát
trước mà đã bị Viện KSND kháng nghị yêu cầu sửa chữa, đánh giá kết quả
sửa chữa vi phạm của Trưởng nhà tạm giữ. Đối với nhà tạm giữ, KSV phải
kiểm sát việc tạm giữ hàng ngày; kiểm sát từng mặt 3 tháng 01 lần, kiểm tra