Công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG VĂN THƯỢNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BỊ
MUA BÁN TRỞ VỀ TỪ THỰC TIỄN TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60900101

LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS: ĐỖ THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn tốt nghiệp được hoàn thành với với sự cố gắng, nỗ lực học tập,
nghiên cứu, tìm hiểu một cách nghiêm túc của bản thân. Trong quá trình nghiên cứu
tôi có sử dụng các tài liệu có liên quan và được trích dẫn đã ghi trong luận văn.
Tôi cam kết những nội dung trong luận văn là đúng sự thật không sao chép
của ai, tôi chịu trách nhiệm về những nội dung đã viết trong luận văn.
Hà Nội, tháng 3 năm 2017
Học viên

Hoàng Văn Thượng



IOM

Tổ chức Di cư Quốc tế

ILO

Tổ chức Lao động Quốc tế

NV CTXH

Nhân viên Công tác xã hội

NNBMBTV

Nạn nhân bị mua bán trở về

NGOs

Tổ chức phi chính phủ

PALS

Tổ chức Vòng tay Thái Bình-Pacifik Links

TNXH

Tệ nạn xã hội

UBND


2.1. Thực trạng nạn mua bán người tại tỉnh Cao Bằng .........................................30
2.2. Nhu cầu của nạn nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng ...........38
2.3. Thực trạng tiếp nhận hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về tại Trung tâm Giáo
dục Lao động Xã hội tỉnh Cao Bằng .....................................................................50
Chương 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
TRONG HỖ TRỢ NẠN NHÂN BỊ MUA BÁN TRỞ VỀ TẠI TRUNG TÂM
GIÁO DỤC LAO ĐỘNG XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO
ĐẢM THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BỊ MUA
BÁN TRỞ VỀ TẠI CAO BẰNG ...........................................................................56
3.1. Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ nạn nhân bị buôn
bán trở về tại Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh Cao Bằng ....................56
3.2. Định hướng bảo đảm thực hiện công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán
trở về trên địa bàn tỉnh Cao Bằng .........................................................................65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
BẢNG
Bảng 1.1: Phân biệt “buôn bán người” và “đưa người di cư trái phép” ..................11
Bảng 2.1 Số lượng nạn nhân bị buôn bán đến Trung tâm từ năm 2012 đến năm
2016. ..........................................................................................................................35
Bảng 2.2 Nguyên nhân bị lừa bán sang biên giới .....................................................37
Bảng 2.3 Đánh giá về các dịch vụ của trung tâm ......................................................50
Bảng 3.1 Danh sách nhóm giáo dục kỹ năng sống ..................................................58
Bảng 3.2 Lượng giá từng thành viên nhóm ..............................................................62
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1.Tổng hợp tình hình nạn mua bán người giai đoạn 2012-2016
vào Trung tâm ...........................................................................................................35
Biểu 2.2 Vấn đề gặp phải khi bị mua bán trở về .......................................................43

sang một nước thứ 3 như Thái Lan hoặc Mã Lai. Ở cấp độ thấp hơn, phụ nữ và nam
giới người Việt cũng bị buôn bán sang các nước khác nhằm mục đích bóc lột tình
dục và bóc lột lao động.
Nạn buôn người thật sự đã trở thành vấn nạn toàn cầu, đe dọa không chỉ
trong từng quốc gia mà còn cả toàn bộ thế giới. Thực tế của nạn buôn người thì
chúng tôi không thể thống kê toàn bộ được, nhưng đây là vấn đề có tầm ảnh hưởng

1


rất lớn, không một quốc gia riêng rẽ nào có thể giải quyết được, mà cần có sự phối
hợp giữa các quốc gia trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung.
Cao Bằng là tỉnh biên giới phía bắc có đường biên giới kéo dài 322km, tiếp
giáp với tỉnh Quảng tây - Trung Quốc; đây cũng là nguy cơ cho bọn tội phạm mua
bán người lợi dụng đưa sang Trung Quốc với nhiều mục đích khác nhau, trong
những năm qua trên địa bàn tỉnh luôn được tiếp nhận các nạn nhân bị lừa gạt, mua
bán trao trả qua biên giới thông qua bộ đội Biên phòng giữa hai bên
Xuất phát từ thực tiễn nạn mua bán người, công tác tiếp nhận, hỗ trợ nạn
nhân bị mua bán trở về tại tỉnh Cao Bằng trong thời qua còn nhiều khoảng trống cả
về cơ chế chính sách và quá trình tổ chức thực hiện, thiếu đội ngũ nhân viên công
tác xã hội chuyên nghiệp, chưa mang lại hiệu quả như mong đợi, bản thân em rất
trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi nạn mua bán người, hỗ
trợ nạn nhân có hiệu quả, để không còn nhiều trẻ em và phụ nữ rơi vào cảnh bị bóc
lột đến cùng cực, đau sót, bất hạnh. Do đó tôi chọn đề tài “Công tác xã hội đối với
nạn nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng” làm luận văn tốt nghiệp
của mình.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2 .1. Các nghiên cứu nước ngoài
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài báo, các báo cáo phản ánh
thực trạng, nhiều chương trình hành động phòng chống buôn bán người được đưa

2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam cũng có những nghiên cứu về tình hình buôn bán phụ nữ và
trẻ em, gần đây gọi chung là buôn bán người:
- Cuốn sách Tìm hiểu các chuẩn mực quốc tế và pháp luật của một số nước
về phòng, chống buôn bán người được Vụ pháp luật Hình sự- Hành chính viết năm
2010 đã mô tả rất rõ những thông tin cần thiết liên quan đến pháp luật quốc tế và
kinh nghiệm lập pháp của các nước về phòng, chống buôn bán người. Nhóm tác giả
cho rằng: “Tội phạm buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em đang là
một vấn nạn nhức nhối, diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng ở quy mô toàn
cầu. Cùng với ma túy và vũ khí, nạn nhân bị buôn bán đã trở thành một loại hàng
hóa đem lại lợi nhuận cao trong thị trường của bọn tội phạm.”[5, tr 9]
- Trong tài liệu “Công tác xã hội với nạn nhân mua bán người” do Th.s
Nguyễn Hiệp Thương chủ biên được viết dưới góc nhìn của công tác xã hội, tài liệu
3


đã đưa ra cái nhìn khái quát về các vấn đề của nạn nhân bị mua bán gặp phải và quy
trình hỗ trợ nạn nhân bằng các phương pháp công tác xã hội. Tác giả cho rằng:
“Mua bán người luôn được hiểu như là một hệ quả của nghèo đói do đại đa số
những phụ nữ và trẻ em bị buôn bán đều xuất phát từ các vùng nông thôn và từ các
gia đình nông dân nghèo. Cha mẹ thông thường có trình độ học vấn thấp, giáo dục
gia đình kém. Nhiều gia đình còn gặp phải các vấn đề như rượu chè, bạo lực, tàn tật,
cha mẹ đơn thân, ly dị hoặc có cuộc sống không hạnh phúc. [27, tr. 14] Qua cái nhìn
của tác giả đã cho ta thấy rằng cốt lõi nguyên nhân gốc rễ của buôn bán người đó
chính là sự nghèo khổ.
- Cuốn sách “Cẩm nang pháp luật quốc tế và quốc gia về phòng, chống buôn
bán người” do Vụ Pháp luật Hình sự- Hành chính, Bộ Tư pháp tổ chức biên soạn đã
khái quát những nội dung cơ bản về các văn kiện pháp luật, các chính sách xã hội
quốc tế và Việt Nam về buôn bán người giúp những người làm công tác với nạn
nhân và mọi người có được sự hiểu biết và kiến thức cơ bản về vấn đề buôn bán

mua bán người và công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn tại tỉnh
Cao Bằng. Nhận ra những thiếu sót, tồn tại trong chính sách và công tác trợ giúp xã
hội đối với nạn nhân, đề xuất những giải pháp phù hợp và hoàn thiện hơn.
3 .2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng mua bán người tại tỉnh Cao Bằng trong thời gian qua
- Đánh giá công tác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về tại tỉnh Cao Bằng
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ nạn nhân
- Xây dựng một mô hình công tác xã hội phù hợp để hỗ trợ nạn nhân
- Đưa ra một số kiến nghị và những giải pháp có tính thực tiễn nhằm tháo gỡ
những khó khăn ban đầu cho nạn nhân bị buôn bán trở về ổn định cuộc sống và vận
dụng công tác xã hội nhóm trong việc tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về tại tỉnh Cao Bằng
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về đối tượng: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác xã hội đối
với nạn nhân bị mua bán trở về tại tỉnh Cao Bằng.

Phạm vi thời gian: Từ tháng 10/2016 đến tháng 03/2017

5


- Phạm vi khách thể: Những nạn nhân bị mua bán trở về và con em họ đang

tạm trú tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội tỉnh Cao Bằng; Cán bộ, viên chức
làm việc tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội; Gia đình, người thân của nạn nhân
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu

Nguyên tắc cơ bản về việc xây dựng bảng hỏi, trên cơ sở trưng cầu ý kiến chi
tiết, dễ hiểu để làm sao cho tất cả nạn nhân bị mua bán trả lời theo các nội dung yêu
cầu và cung cấp thông tin chính xác. Dùng phương pháp này, tác giả chọn 59 các
nạn nhân bị mua bán trở về và đã được Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh
Cao Bằng. tác giả chọn mẫu như vậy để lấy ý kiến của họ về nạn buôn bán người
và các vấn đề gặp phải khi bị buôn bán. Với mỗi phiếu hỏi, chúng tôi xây dựng từ
10 đến 15 câu hỏi, có những câu hỏi đóng và câu hỏi mở để tìm hiểu về nguyên
nhân, thực trạng nạn buôn bán người tại Cao Bằng.
5.2.4. Phương pháp công tác xã hội nhóm: là phương pháp CTXH nhằm

giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt
động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:
- Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc
năng động nhóm)
- Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn
đề
- Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ
trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm
giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh
nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn
nhu cầu.
- Phương pháp công tác xã hội nhóm áp dụng trong việc hỗ trợ nạn nhân đem
lại hiệu quả nhất định để tạo cho nạn nhân ổn định cuộc sống.
Tiến trình công tác xã hội nhóm đối với nạn nhân bị buôn bán trở về gồm
bốn bước trong tiến trình công tác xã hội nhóm
Bước 1: : Thành lập nhóm
Bước 2 : Khảo sát nhóm:
Bước 3: Duy trì nhóm.
Bước 4:Bước giải quyết vấn đề và đạt mục tiêu xã hội
7

về trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

8


Chương 2: Thực trạng công tác hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về và con em
của nạn nhân tại Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội tỉnh Cao Bằng.
Chương 3:Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ nạn
nhân bị mua bán trở về tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Cao Bằng và đề
xuất các giải pháp hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN NHÂN BỊ MUA
BÁN TRỞ VỀ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG.
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của nạn nhân bị mua bán trở về
1.1.1. Các khái niệm liên quan
Khái niệm mua bán người
Tại Điều 3, Nghị định thư của Liên Hợp Quốc về phòng, chống và trừng phạt việc
buôn bán người (đặc biệt là phụ nữ và trẻ em) quy định:
a) "Buôn bán người" có nghĩa là việc mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa
chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ
lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, gian lận, lừa gạt, hay lạm dụng quyền lực
hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt
được sự đồng ý của một người đang kiểm soát những người khác. Hành vi bóc lột sẽ
bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột
tình dục khác, các hình thức lao động hay phục vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình
thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc lấy các bộ phận cơ thể;

Theo điều 3 Nghị định thư về chống đưa người di cư trái phép thì “đưa người di
cư trái phép” được định nghĩa là
- Những điểm giống nhau giữa “buôn bán người” và “đưa người di cư trái
phép”:
Bảng 1.1: Phân biệt “buôn bán người” và “đưa người di cư trái phép”
Yếu tố cấu thành

Đưa người di cư

Buôn bán người

trái phép
Sự đồng tình

Có sự đồng ý của người di Không có sự đồng ý (hoặc


đồng ý do có sự cưỡng ép,
lừa gạt)

Yếu tố “bóc lột” tại nơi Người nhập cư đến địa điểm Nạn nhân bị khống chế,
đến

thỏa thuận

bóc lột tại nơi đến

Tính chất xuyên quốc Luôn là hoạt động xuyên Có thể xuyên quốc gia
gia


cứu NEXUS đã nêu: “Nạn nhân là để chỉ một người đã trở thành nạn nhân của một loại
hình tội phạm và không bị đề cập tới cơ quan hay bất cứ đặc điểm nào khác của người
đó”.

Nạn nhân bị buôn bán là người có đầy đủ các dấu hiệu xác định là nạn nhân bị

buôn bán theo Điều 3 của Nghị định thư hoặc theo Luật phòng, chống mua bán người
của từng nước [19, tr. 51- 52].
Từ những quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm một cách dễ hiểu nhất: “Một
người được xác định là nạn nhân của mua bán người khi người đó bị một đối tượng dụ
dỗ, rủ rê, lừa bán, đưa đi khỏi địa phương đến một địa phương khác trong cùng một

12


nước hoặc sang một nước khác và cuối cùng bị khai thác vì vụ lợi cá nhân hay tiền
bạc”.
Khái niệm nạn nhân bị mua bán trở về
Hiện nay chưa có khái niệm nào đề cập đến vấn đề này, nhưng ta có thể hiểu
“Nạn nhân bị mua bán trở về là những người đã bị một người hay một nhóm đối tượng
dụ dỗ, lừa bán hay bắt cóc, ép buộc đưa đi khỏi địa phương này đến một địa phương
khác hay một nước khác để khai thác, bóc lột nhưng đã trốn thoát hoặc được giải cứu
thành công trở về”.
Trong thực tế: Các nạn nhân của buôn bán người đã từng bị tra tấn; bị giam cầm
bất hợp pháp; bị cưỡng bức tình dục, cưỡng bức lao động; bị ép nợ nần; gia đình và
người thân bị đe dọa; bị chịu các hình thức bạo hành về thể chất, tình dục và tâm lý
khác. Nạn nhân của buôn bán người có thể ở trong các ngành và các môi trường khác
nhau, cụ thể như: công nghiệp tình dục; công xưởng bóc lột sức lao động công nhân;
môi trường giúp việc gia đình; làm nông nghiệp và nông trại; ngư nghiệp; ngành xây
dựng; ăn xin đường phố. Những người dễ bị tổn thương trong xã hội, nhất là người

1.1.3. Nhu cầu của nạn nhân bị buôn bán trở về
Nạn nhân bị mua bán trở về cũng có đặc điểm nhu cầu chung như nạn nhân của
ma túy, mại dâm, bên cạnh đó họ còn có những nhu cầu hỗ trợ riêng như nhu cầu hỗ
trợ về tâm lý, phục hồi thể chất, hỗ trợ về nơi ăn, ở ban đầu, nơi ở lâu dài bảo đảm an
ninh; hỗ trợ pháp lý các thủ tục cấp hộ chiếu, xuất nhập cảnh, cấp lại hộ khẩu, chứng
minh thư nhân dân, bởi khi bị lừa bán đi khỏi gia đình địa phương, họ đã bị bọn buôn
người thu giữ hoặc hủy hết giấy tờ tùy thân, bị cơ quan chức năng địa phương cắt hộ
khẩu sau 6 tháng rời khỏi địa phương. Hỗ trợ cấp giấy khai sinh cho con khi nạn nhân
mang theo con về nước; hỗ trợ giáo dục kỹ năng sống; học nghề, tìm việc làm, vay
vốn, hỗ trợ vốn khó khăn ban đầu khi mới trở về. Hỗ trợ tái hòa nhập gia đình, cộng
đồng, phòng chống kỳ thị phân biệt đối sử, phòng chống tái mua bán.
1.2. Nhu cầu, khái niệm công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về
1.2 .1. Nhu cầu công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về
Ở nhiều quốc gia, Công tác xã hội (CTXH) đã được xem là một nghề mang tính
chuyên nghiệp với sự tham gia đông đảo của đội ngũ nhân viên xã hội được đào tạo ở
các trình độ cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Trong khi Việt Nam giai đoạn 2000-2005 về
trước, CTXH chưa trở thành một nghề chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trước những biến đổi
hết sức to lớn của quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra như vũ bão, những thách thức
14


khắc nghiệt của biến đổi khí hậu, thiên nhiên với hàng loạt vấn đề xã hội cần giải quyết
như bạo lực gia đình, nghèo đói, thất nghiệp, ma túy, buôn bán người…Việt Nam rất
cần có những nhân viên CTXH chuyên nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, năm
2004 mã đào tạo nghề này đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo đưa vào hệ thống đào tạo.
Tiếp đó, ngày 25 tháng 3 năm 2010, Thủ Tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án phát
triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020. Điều này chứng tỏ Đảng và Nhà
nước ta đang hết sức quan tâm đến vấn đề đào tạo ngành CTXH trong bối cảnh hiện
nay.
Xã hội càng phát triển thì càng nhiều vấn đề xã hội nổi lên đòi hỏi cần những

phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương
tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và Công bằng
xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề”.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam năm 1995 thì Công tác xã hội là khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển
biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội.
Còn Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 kèm theo Quyết
định số 32/2010/QĐ-TTg đưa ra khái niệm: Nghề công tác xã hội là những hoạt động
mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng
nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong giải quyết
các vấn đề; giúp các đối tượng tự vươn lên trong cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.
Trong giáo trình “Nhập môn công tác xã hội” của PGS. TS Bùi Thị Xuân Mai
đưa ra khái niệm tương đối toàn diện, đầy đủ về công tác xã hội đã bao phủ được diện
rộng không chỉ đối với các đối tượng yếu thế: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt
động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng
lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường
xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng
giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội”. [10].
Từ việc nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của Công tác xã hội trên cả
phương diện lí thuyết và thực hành, khoa học và nghề nghiệp chuyên môn, tiếp thu các
giá trị, phân tích các định nghĩa, các quan niệm của các học giả, các tổ chức, hiệp hội
chuyên ngành ở trong và ngoài nước về công tác xã hội. Bằng những quan sát và trải
nghiệm của bản thân em trong 10 năm làm việc trong công tác tiếp nhận và hỗ trợ nạn
16


nhân bị mua bán trở về từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng có thể đưa ra một định nghĩa về
Công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về như sau:
Công tác xã hội đối với nạn nhân bị mua bán trở về là một nghề nghiệp, hoạt

luật liên quan và các dịch vụ của các tổ chức cung cấp để họ hiểu đúng và có sự quyết
định cho riêng mình. Với các nạn nhân là trẻ em thì nhân viên CTXH cần hỏi ý kiến
của người bảo trợ cho bất kì hoạt động nào liên quan. Các quan điểm của trẻ cần được
tôn trọng, quan tâm và cân nhắc.
1.3.3. Nguyên tắc giữ bí mật và quyền riêng tư
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong công tác xã hội với nạn nhân bị mua
bán trở về, vì nạn nhân bị mua bán là những đối tượng yếu thế, rất nhạy cảm và dễ bị
tổn thương. Việc giữ bí mật thông tin của nạn nhân là trách nhiệm và nghĩa vụ của các
tổ chức, cá nhân hỗ trợ nạn nhân. Mọi thông tin, trao đổi liên quan đến nạn nhân đều
phải đảm bảo tính bảo mật và quyền riêng tư cho nạn nhân. Việc giữ bí mật thông tin
bao gồm các thông tin liên quan đến danh tính, thông tin cá nhân, nhận dạng, hoàn
cảnh, quá trình mua bán. Trong trường hợp nếu cần chia sẻ thông tin thì phải nhận
được sự đồng ý của nạn nhân, đảm bảo sự riêng tư, tạo sự an toàn và chất lượng của
thông tin, không làm ảnh hưởng đến cảm xúc của nạn nhân. Các tổ chức, cá nhân sử
dụng dữ liệu thông tin của cá nhân phải cam kết giữ bí mật. Với nạn nhân là trẻ em thì
chia sẻ thông tin cần được sự đồng ý của người giám hộ trẻ [7, tr. 20-23].
1.3.4. Nguyên tắc nạn nhân cùng tham gia giải quyết vấn đề
Công tác xã hội là không làm thay, làm hộ thân chủ, hiểu được điều đó các tổ
chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân cần khuyến khích nạn nhân tìm ra vấn
đề mình gặp phải, nhận ra nhu cầu của mình, biết được điểm mạnh, điểm yếu của bản
thân để quyết định mọi việc liên quan đến bản thân mình. Nhân viên xã hội cần nâng
cao năng lực của bản thân nạn nhân để họ tự nhận ra khả năng, ý thức về giá trị của
mình, tránh sự tự ti, ỷ lại hay thu mình, buông xuôi. Ngoài ra cũng cần giúp các nạn
nhân nhận ra và hiểu được các quyền và nghĩa vụ trong các quy định của pháp luật như
được đề nghị các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ
mình, người thân thích khi bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại. Được hưởng các
chế độ hỗ trợ và được bảo vệ theo quy định của Luật phòng, chống mua bán người.
Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật .
1.4. Lý thuyết tiếp cận trong hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về.
Cũng như các ngành chuyên môn khác, ngành CTXH tiếp cận và sử dụng một

nhân dân, trình độ học vấn thấp, có nạn nhân còn mù chữ, không có việc làm, hoàn
cảnh gia đình quá khó khăn, mắc bệnh xã hội, suy kiệt sức khỏe, nguy cơ bị tái
buôn bán hoặc trở thành tội phạm hoặc rơi vào tệ nạn xã hội. Từ những đặc điểm
khó khăn trên cho thấy nạn nhân khi bị mua bán trở về rất cần được các cấp, các
ngành quan tâm, giúp đỡ về bước đầu để ổn định cuộc sống như: Hỗ trợ kinh phí
như tiền ăn, tiền tàu xe khi trở về nhà, hỗ trợ nơi ở hoặc nhà ở, hỗ trợ các nhu cầu

19


thiết yếu (ăn, mặc), hỗ trợ chăm sóc y tế (khám chữa bệnh), tư vấn tâm lý, hỗ trợ
pháp lý, dạy nghề, vay vốn tạo việc làm….
Trong phạm vi đề tài này, nạn nhân bị mua bán trở về ( NNBMBTV) được
xem là đối tượng cần trợ giúp, hỗ trợ và họ có đầy đủ các quyền của mình. Tiếp cận
hướng vào quyền không chỉ tạo điều kiện cho chính những NNBMBTV thấy được
tầm quan trọng của bản thân trong hệ thống xã hội, cộng đồng để họ có thể được
hưởng những dịch vụ trờ giúp của xã hội. Tiếp cận dựa vào quyền còn thể hiện tính
nhân văn sâu sắc của hệ thống chính trị, xã hội của nước ta - vì con người và đặt
con người là trung tâm của sự phát triển, là điều kiện cần và đủ để NNBMBTV
thực hiện quyền của họ và sử dụng quyền có mục đích và có ý nghĩa.
Vận dụng thuyết này vào đề tài ta có thể giúp NNBMBTV nhận thấy được
những quyền cơ bản của họ đã được các văn bản pháp luật có liên quan như quyền
được tham gia các hoạt động xã hội; quyền được học tập, giáo dục; trợ giúp pháp lý;
chăm sóc sức khỏe; việc làm; sống độc lập… Ngoài ra, việc đánh giá các chế độ,
chính sách và chương trình, mô hình trợ giúp NNBMBTV tại địa phương cũng như
việc triển khai thực hiện tại TTGD LĐXHTỉnh Cao Bằng cần phải dựa trên quan
điểm quyền con người, từ việc thực hiện quyền và sử dụng quyền của NNBMBTV
cũng như các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận các quyền của NNBMBTV
tại địa phương.
1.4.2. Lý thuyết nhu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status