VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG KHÁNH
VAI TRỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ TỪ THỰC TIẾN
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Thị Lâm Thi
Hà Nội -2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được cơng bố trong
bất cứ cơng trình nào.
Tác giả luận văn
NGUYỄN HOÀNG KHÁNH
MỤC LỤC
Bộ luật Tố tụng hình sự
VKSNDTC
Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
VKSND/ Viện KSND
Viện kiểm sát nhân dân
THTT
Tiến hành tố tụng
BPNC
Biện pháp ngăn chặn
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
THQCT
Thực hành quyền công tố
đ/v
Đơn vị
tố tụng hình sự nhằm phát hiện và ngăn chặn, xử lý chính xác, nhanh chóng,
kịp thời đối với mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan,
sai người vô tội.
Tại Điều 107 Khoản 1 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Đảng và
Nhà nước giao thực hiện chức năng này, đây là hai chức năng hiến định mà
khơng có cơ quan nào có được. Để cụ thể hố hai chức năng thực hành quyền
cơng tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà pháp luật đã quy định cho Viện
kiểm sát nhân dân những nhiệm vụ và quyền hạn để thực hiện được tốt chức 1
năng, nhiệm vụ của mình mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong đó việc thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật được thực hiện đúng sẽ góp phần tích cực trong định hướng
q trình xác minh, điều tra tội phạm được chính xác, đảm bảo cho công tác
khởi tố, bắt giam, giữ, thay thế, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn cũng như ra
các quyết định tố tụng tiếp theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xử lý
đúng người, đúng tội, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Do vậy, để thực hiện vai trò của Viện KSND trong kiểm sát hoạt động
tạm giữ có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
cũng như yêu cầu của cơng cuộc đấu tranh phịng, chống tội phạm trong tình
hình mới, việc vận dụng và thực hiện pháp luật trong việc tạm giữ phải đúng
quy định của luật… mới phát huy được hiệu quả và khẳng định được vai trị
của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống chính trị của Việt Nam. Ngoài ra
Viện KSND cùng với các cơ quan chức năng nhà nước khác thực hiện nhiệm
vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi về
môi trường tốt, ổn định cho sự phát triểm kinh tế - xã hội, hướng tới hội nhập
quốc tế.
cường công tác kiểm sát giam, giữ bảo đảm đúng pháp luật, những trường hợp
chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm
giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong việc
bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình.
Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm về những vi phạm trong việc bắt,
tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền của mình dẫn đến oan, sai.
Nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp
khi thi hành công vụ cũng như nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của những người bị tạm giữ, tạm giam, Ủy ban thường vụ cũng đã ban hành
Nghị quyết số: 388/2003/NQ-UBTVQH 11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc bồi thường thiệ hại cho người bị oan do người có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Bộ luật Tố tụng hình sự 3
năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ,
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tham
gia tố tụng thống nhất để giải quyết đúng và hiệu quả các vụ án, tránh hạn chế
được các oan, sai đáng tiếc trong việc tạm giữ, tạm giam.
Những năm gần đây, trước tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
diễn biến ngày càng phức tạp cả về số lượng, quy mơ, tính chất, mức độ, cơng
cụ, phương tiện và thủ đoạn, theo đó việc tạm giữ người “đối tượng” nghi
phạm tội ngày càng tăng về số lượng. Do vậy, công tác kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân ngày càng đóng vai
trị quan trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ
thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng các
biện pháp tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, từ đó đưa ra
quan điểm và giải pháp bảo đảm kiểm sát áp dụng biện pháp tạm giữ của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng ngày càng đạt chất lượng và hiệu quả cao.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi cịn nghèo, nằm ở vùng biên giới phía
Đơng Bắc Việt Nam, dân số toàn tỉnh là 530.407 người (điều tra dân số ngày
Nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp của ngành kiểm sát nhân dân, trong đó kiểm sát việc áp dụng
biện pháp tạm giữ là một trong những mục đích quan trọng của cơng cuộc cải
cách tư pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân nói riêng. Bởi vậy vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của
giới chuyên môn nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn trong và ngồi
ngành kiểm sát. Nổi bật trong số đó là các cơng trình nghiên cứu sau đây:
-
Nguyễn Huy Hồng,“Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư
pháp của Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ luật.
- Nguyễn Tiến Đạt, “Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ,
tạm giam”, Báo điện tử của trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh (Truy
cập thứ bảy, ngày 21/03/2020).
-
Nguyễn Văn Điệp, “Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam
trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”, Luận
án tiến sĩ, Đại học Luật Hà Nội, 2005.
5
-
Nguyễn Hữu Tùng Lâm, "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam của Viện Kiểm sát", Luận
quy định của pháp luật trong kiểm sát tạm giữ, nghiên cứu thực tiễn kiểm sát
hoạt động tạm giữ trên địa bàn tồn tỉnh Cao Bằng từ đó đề xuất một số giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt
động tạm giữ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
-
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về kiểm sát hoạt động tạm giữ trong
TTHS và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
-
Phạm vi nghiên cứu: Công tác kiểm sát tạm giữ của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Cao Bằng, thời gian lấy số liệu trong 05 năm (2015 - 2019).
5.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý luận
của chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;
quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật do dân và
vì dân; đặc biệt là dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
về cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên 7
cứu như phân tích, tổng hợp để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về công
tác kiểm sát tạm giữ của Viện KSND tại tỉnh Cao Bằng; phương pháp thống
động tạm giữ của Viện KSND tỉnh Cao Bằng.
Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Viện
KSND tỉnh Cao Bằng trong kiểm sát hoạt động tạm giữ.
8
Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật trong kiểm sát
hoạt động tạm giữ.
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về Tạm giữ.
- Khái niệm tạm giữ.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được
áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm ngăn chặn hành vi nguy
hiểm cho xã hội của họ, ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp
luật hay có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nhiều biện pháp ngăn chặn và
được ghi nhận tại Chương VI Bộ luật TTHS và tạm giữ là một trong các biện
pháp ngăn chặn đó. Bên cạnh đó tạm giữ còn là một biện pháp ngăn chặn, bảo
đảm trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Luật xử lý vi phạm
hành chính 2012. Tuy nhiên trong luận văn này tôi chỉ đề cập đến vấn đề tạm
giữ trong tố tụng hình sự.
Hiện nay, khái niệm tạm giữ cụ thể còn chưa được thống nhất với nhiều
quan điểm khác nhau. Tham khảo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
của trường Đại học Luật Hà Nội thì Tạm giữ được hiểu là: “biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối
với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp
tội cũng như các tình tiết khác liên quan đến vụ án làm căn cứ ra các quyết
định tố tụng khác như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh tạm giam hoặc trả
tự do cho người bị tạm giữ, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.
10
- Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ:
Căn cứ áp dụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật TTHS
2015, tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự chỉ có thể được áp dụng trong các
trường hợp sau:
+
Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp;
+
Người bị bắt quả tang khi đang phạm tội;
+
Người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu
thú, tự
thú.
Như vậy trong quá trình tố tụng hình sự, việc tạm giữ sẽ được diễn ra
trước khi tạm giam và có thể sẽ được áp dụng đối với tất cả các mức độ phạm
tội nghiêm trọng, ít nghiệm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng và có thể áp dụng đối với bất cứ đối tượng nào (có thể áp dụng đối với
người chưa bị khởi tố như khi người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả
tang và trong trường hợp khẩn cấp), với mục đích ngăn chặn hành vi nguy
cấp xã, phường, thị trấn khơng có quyền tạm giữ theo thủ tục tố tụng. Vì vậy,
khi nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy
nã, ủy ban nhân dân xã, phường hoặc thị trấn cần phải tiến hành lập biên bản
phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị
bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ.
Thủ tục tạm giữ: Tạm giữ là biện pháp cưỡng chế trong TTHS, có ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
Ngồi ra cịn ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống tình cảm gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, hàng xóm xung quanh nơi họ sinh sống làm việc. Do vậy, việc thực
hiện hoạt động tạm giữ người phải được tiến hành theo đúng trình tự thủ tục
quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 117 Bộ luật TTHS, cụ thể:
+
Việc tạm giữ bắt buộc phải có quyết định bằng văn bản của người có
thẩm quyền ra quyết định. Quyết định tạm giữ phải ghi rõ thông tin nhân thân
như: họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, các nội dung quy
định tại khoản 2 Điều 132 Bộ luật TTHS về hình thức và giao cho người bị
tạm giữ một bản. Việc tạm giữ không có quyết định của người có thẩm quyền,
người bị tạm giữ có quyền yêu cầu được trả tự do.
+
Người thi hành quyết định tạm giữ phải thơng báo, giải thích quyền và
nghĩa vụ của người bị tạm giữ cho người bị tạm giữ được biết theo nội dung
quy định tại khoản 2 Điều 59 Bộ luật TTHS.
+
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi người có thẩm quyền ra quyết định
biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng
cũng không được quá 03 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ cần phải được
Viện KSND cùng cấp hoặc Viện KSND có thẩm quyền phê chuẩn. Viện kiểm
sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn trong thời
hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ. Viện kiểm sát phê 13
chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm
giữ hoặc gia hạn tạm giữ của người có thẩm quyền khi thấy căn cứ tạm giữ
khơng cịn. Nếu quyết định gia hạn tạm giữ được phê chuẩn thì giao quyết
định gia hạn tạm giữ cho người bị tạm giữ và người có nhiệm vụ thi hành
quyết định.
Khi tạm giữ, trường hợp không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan có
thẩm quyền điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; bao gồm cả
trường hợp đã gia hạn tạm giữ. Thời gian tạm giữ được khấu trừ vào thời hạn
tạm giam. Một ngày tạm giữ được quy định tính bằng một ngày tạm giam.
1.1.2. Kiểm sát hoạt động tạm giữ.
* Khái niệm kiểm sát.
Theo Từ điển Tiếng Việt “ kiểm sát” được hiểu là “theo dõi và kiểm tra
xem việc thực hiện có đúng với những điều quyết định hay khơng” hay “trơng
nom, xem xét cơng việc có tốt khơng”3.
Cịn theo Từ điển Luật học 2006: “Kiểm sát các hoạt động tư pháp là
kiểm tra, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành
tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân, bảo
đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”4.
Bên cạnh đó, “kiểm sát” cịn có thể hiểu là một trong các chức năng cơ
bản của một hệ thống cơ quan nhà nước - hệ thống Viện KSND các cấp. Theo
quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014:
“1. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm
-
Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hơn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo
quy định của pháp luật;
- Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính;
-
Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của
các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền;
- Kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp.
Từ quy định trên cho thấy, hoạt động kiểm sát tạm giữ là một trong các
nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo
đảm:
-
Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hơn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải 15
quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác
được thực hiện đúng quy định của pháp luật;
-
giữ, Cơ quan điều tra, nhà tạm giữ và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ
là Trưởng nhà tạm giữ và người khác có trách nhiệm trong việc tạm giữ. Đây
là những đối tượng liên quan trực tiếp đến việc tạm giữ, có quyền hạn và khi
thực hiện quyền hạn của mình rất dễ vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ.
-Phạm vi của kiểm sát hoạt động tạm giữ bắt đầu từ khi có việc đưa
người bị tạm giữ vào cơ sở giam giữ và kết thúc khi chấm dứt việc tạm giữ.
16
Cơng tác này vừa mang tính thường xun vừa mang tính bất thường, trong
q trình tạm giữ Viện KSND có thể tiến hành kiểm sát thường kỳ theo kế
hoạch, kiểm sát bất thường nếu xét thấy cần thiết để đảm bảo việc phát hiện,
khắc phục kịp thời những vi phạm, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ.
-
Mục đích của kiểm sát hoạt động tạm giữ: nhằm đảm bảo việc tạm giữ,
chế độ tạm giữ theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị tạm giữ được tôn trọng và được
bảo vệ; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tạm giữ phải được phát hiện,
xử lý kịp thời, nghiêm minh.
Có thể nói, cơng tác tạm giữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
trong hoạt động tư pháp, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự được diễn ra thuận lợi theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự.
Trong đó, tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật TTHS,
việc áp dụng biện pháp tạm giữ mục đích để ngăn chặn khả năng gây khó
khăn cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng từ phía bị can; ngăn
chặn khả năng tiếp tục phạm tội của bị can. Với chức năng thực hành quyền
Khi tiến hành kiểm sát thường kỳ, có thể kiểm sát toàn bộ việc chấp hành
pháp luật trong hoạt động tạm giữ hoặc kiểm sát những vấn đề KSV thấy cần
thiết hoặc phúc tra lại những vi phạm đã được phát hiện của lần kiểm sát
trước mà đã bị Viện KSND kháng nghị yêu cầu sửa chữa, đánh giá kết quả
sửa chữa vi phạm của Trưởng nhà tạm giữ. Đối với nhà tạm giữ, KSV phải
kiểm sát việc tạm giữ hàng ngày; kiểm sát từng mặt 3 tháng 01 lần, kiểm tra
trực tiếp toàn diện 6 tháng 01 lần về việc tạm giữ và có kết luận bằng văn bản.
Để có thể thực hiện được u cầu của cơng tác kiểm sát việc tạm giữ theo
đúng quy định của pháp luật, trong khi tiến hành công tác kiểm sát thường kỳ và
trực tiếp đối với nhà tạm giữ cần chú ý đến việc kiểm sát đối tượng, thủ tục,
thẩm quyền và thời hạn tạm giữ đảm bảo các yêu cầu; phân loại, quản lý người
bị tạm giữ theo quy định pháp luật; thực hiện chế độ đối với người bị tạm giữ và
đảm bảo an tồn về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm cũng như việc tôn
trọng các quyền khác không bị pháp luật tước bỏ của người bị tạm
giữ. 18
Khi xét thấy cần thiết, Viện KSND có thể kiểm sát bất thường tại nhà
tạm giữ. Trường hợp được áp dụng hình thức kiểm sát này là khi phát hiện có
dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng xảy ra tại nhà tạm giữ hoặc trường
hợp người bị tạm giữ trốn, phạm tội mới, chết do tai nạn, chết bất thường
không rõ nguyên nhân, tự tử, … Kiểm sát bất thường có thể thực hiện vào bất
kỳ thời gian nào. Khi thực hiện hoạt động kiểm sát đột xuất phải có quyết
định trực tiếp kiểm sát và có kết luận bằng văn bản khi kết thúc. Trong văn
bản kết luận có xác định nguyên nhân và hậu quả do hành vi vi phạm pháp
luật gây ra và yêu cầu Trường nhà tạm giữ có biện pháp kịp thời chấm dứt
hành vi vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm.
-
giữ, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp
luật.
Kháng nghị là một biện pháp mà Viện KSND được phép áp dụng khi có
vi phạm pháp luật trong tạm giữ để yêu cầu cơ quan cùng cấp hoặc cấp dưới,
người có trách nhiệm sửa đổi, bãi bỏ, đình chỉ một phần hoặc tồn bộ văn bản
và việc làm vi phạm đó, xử lý người vi phạm, bao gồm: nội quy, quy chế,
quyết định của trưởng nhà tạm giữ về việc tạm giữ trái pháp luật; hành vi của
cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ trái pháp luật.
-
Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ. Sau khi tiếp
nhận, Viện KSND có thể yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại giải trình,
cung cấp tài liệu, thơng tin liên quan. Thơng báo bằng văn bản và gửi quyết định
đến người khiếu nại, người bị khiếu nại về việc thụ lý và giải quyết khiếu nại.
Khi phát hiện vi phạm, Viện KSND kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu xử lý
hành vi vi phạm pháp luật về tạm giữ, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải
quyết những khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và theo dõi kết quả giải quyết.
1.2.2. Nội dung hoạt động kiểm sát việc tạm giữ.
Căn cứ Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Quyết định số 35/QĐ-VKSTCV4 ngày 29/1/2013 của Viện trưởng Viện KSNDTC ban hành kèm theo Quy
chế công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự và hiện
nay được thay thế bằng Quyết định số 501/QĐ-VKSTC của Viện KSNDTC
ngày 12/12/ 2017, hoạt động kiểm sát việc tạm giữ bao gồm các nội dung cơ
bản dưới đây:
- Kiểm sát việc tiếp nhận người bị tạm giữ và hồ sơ quản lý tạm giữ.
+