(Luận văn thạc sĩ) - VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ TỪ THỰC TIẾN TỈNH CAO BẰNG - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG KHÁNH

VAI TRỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ TỪ THỰC TIẾN
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Thị Lâm Thi

Hà Nội -2020


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được cơng bố trong
bất cứ cơng trình nào.
Tác giả luận văn

NGUYỄN HOÀNG KHÁNH




TTHS

Tố tụng hình sự

BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

VKSNDTC

Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao

VKSND/ Viện KSND

Viện kiểm sát nhân dân

THTT

Tiến hành tố tụng

BPNC

Biện pháp ngăn chặn

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

THQCT

VKS không phê chuẩn các lệnh.

34

Bảng 2.4.

Tổng hợp các vi phạm qua 280 cuộc kiểm sát trực

35

tiếp tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thời gian từ năm
2015 đến 2019.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong giai đoạn hiện nay xây dựng Nhà nước pháp quyền, nền tư pháp
trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người, định hướng của Đảng ta về hồn thiện hệ thống pháp luật đấu
tranh phịng, chống tội phạm theo hướng xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp
luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của tồn xã hội trong việc phát hiện,
phịng ngừa, ngăn chặn tội phạm, bảo đảm yêu cầu để hoàn thiện pháp luật tố
tụng hình sự nói chung và chế định các biện pháp ngăn chặn nói riêng.
Chế định các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ nói
riêng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự,
bởi chúng là phương tiện cưỡng chế Nhà nước có hiệu quả nhất để ngăn chặn,
phịng ngừa tội phạm. Bên cạnh đó các biện pháp ngăn chặn này còn là
phương tiện pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân khơng
những đối với người bị tạm giữ, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà cịn cả đối với người có liên quan

Viện KSND cùng với các cơ quan chức năng nhà nước khác thực hiện nhiệm
vụ giữ vững an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi về
môi trường tốt, ổn định cho sự phát triểm kinh tế - xã hội, hướng tới hội nhập
quốc tế.
Trong những năm gần đây, thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng
và Nhà nước về cơng tác phịng chống các loại tội phạm nhất là tội phạm về
tham nhũng. Ngành kiểm sát nhân dân khơng ngừng nỗ lực phấn đấu hồn
thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác được giao, liên tục điều tra, truy tố
những vụ án tham những, chức vụ lớn gây thiệt hại đến kinh tế cho nhà nước,
gây ảnh hưởng sấu trong dư luận, các vụ án xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe của con người cũng như các các vụ án ma túy lớn xuyên quốc gia, vụ án
các đối tượng phạm tội sử dụng công nghệ cao để đánh bạc qua mạng, sử
dụng thẻ tin dụng giả… được Đảng và Nhà nước đánh giá cao, nhân dân tin
tưởng, ủng hộ. Để có được kết quả đó phần lớn là do sự lãnh chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước và sự nỗ lục của toàn ngành đã thực hiện tốt các chỉ tiêu,
2


nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, trong đó có chức năng kiểm sát
tạm giữ nhằm đảm bảo cho việc tạm giữ được thực hiện theo đúng theo quy
định của pháp luật; chế độ tạm giữ được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng,
tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ và các quyền khác của họ
không bị pháp luật tước bỏ và được tôn trọng. Các văn kiện của Đảng về công
tác tư pháp đều nhấn mạnh đến hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn của các cơ quan tiến hành tố tụng, của Viện kiểm sát như. Tại
Chỉ thị số: 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Ban chấp hành trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam về một số công tác cấp bách của các Cơ quan tư pháp cần
được thực hiện trong năm 2000 đã nhấn mạnh: “Tăng cường trách nhiệm của
Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt, giam giữ, việc bắt giam phải
được xem xét phê chuẩn đối với từng trường hợp, từng đối tượng cụ thể. Đối

thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng các
biện pháp tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, từ đó đưa ra
quan điểm và giải pháp bảo đảm kiểm sát áp dụng biện pháp tạm giữ của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng ngày càng đạt chất lượng và hiệu quả cao.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi cịn nghèo, nằm ở vùng biên giới phía
Đơng Bắc Việt Nam, dân số toàn tỉnh là 530.407 người (điều tra dân số ngày
01/04/2019). Trong đó dân số thành thị là 123.407 người, dân số nông thôn là
406. 934 người, dân số nam là 265. 620 người, dân số nữ 264.721 người, gồm
8 dân tộc chung sống trong đó dân tộc Tày chiếm đại đa số, ngoài ra các dân
tộc khác như Kinh, Nùng, Mơng, Dao, Lơ Lơ… có số lượng ít hơn - mỗi dân
tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập qn và trình độ dân trí rất khác
nhau hợp thành đại gia đình các dân tộc trong tồn tỉnh. Vì những đặc điểm
đa dạng về dân tộc và những khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế cũng như
tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, số tội phạm tăng cao mà công
tác kiểm sát của Viện KSND nói chung và cơng tác VKS kiểm sát hoạt động
tạm giữ nói riêng cịn nhiều khó khăn, hạn chế như: chất lượng kiểm sát tạm
giữ chưa cao vẫn cịn để xảy ra tình trạng, tiêu chuẩn của người bị tạm giữ
chưa được đảm bảo theo đúng quy định pháp luật, cịn diễn ra tình trạng vi
phạm nội quy, quy chế, hồ sơ tiếp nhận không đầy đủ,… Đồng thời có những
4


lý luận về vai trò của Viện KSND trong kiểm sát tạm giữ chưa được nghiên
cứu làm rõ, thống nhất như: khái niệm, đối tượng và mục đích của hoạt động
kiểm sát tạm giữ.
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu thực trạng vai trị của Viện KSND
trong cơng tác kiểm sát tạm giữ để từ đó xác định được nguyên nhân của
những hạn chế, tồn tại, đề ra các giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao vai
trị của Viện KSND trong kiểm sát tạm giữ, từ đó đảm bảo chất lượng công
tác kiểm sát tạm giữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ.

quan bảo vệ pháp luật ở tỉnh Cao Bằng, tôi mong muốn được đem những kiến
thức đã học tập, nghiên cứu của mình nhất là qua việc thực hiện đề tài này
góp phần giải quyết một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra
cho tỉnh nhà.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng trong kiểm sát hoạt động tạm giữ.
- Nhiệm vụ của luận văn: Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở lý luận,
quy định của pháp luật trong kiểm sát tạm giữ, nghiên cứu thực tiễn kiểm sát
hoạt động tạm giữ trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng từ đó đề xuất một số giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt
động tạm giữ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về kiểm sát hoạt động tạm giữ trong
TTHS và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kiểm sát tạm giữ của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Cao Bằng, thời gian lấy số liệu trong 05 năm (2015 - 2019).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý luận
của chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;
quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật do dân và
vì dân; đặc biệt là dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
về cải cách tư pháp.
7


Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như phân tích, tổng hợp để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về công
tác kiểm sát tạm giữ của Viện KSND tại tỉnh Cao Bằng; phương pháp thống
kê, so sánh, tổng hợp làm rõ kết quả thực hiện vai trò của Viện KSND trong

9


Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật trong kiểm sát
hoạt động tạm giữ.
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về Tạm giữ.
- Khái niệm tạm giữ.
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được
áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm ngăn chặn hành vi nguy
hiểm cho xã hội của họ, ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp
luật hay có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nhiều biện pháp ngăn chặn và
được ghi nhận tại Chương VI Bộ luật TTHS và tạm giữ là một trong các biện
pháp ngăn chặn đó. Bên cạnh đó tạm giữ còn là một biện pháp ngăn chặn, bảo
đảm trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Luật xử lý vi phạm
hành chính 2012. Tuy nhiên trong luận văn này tôi chỉ đề cập đến vấn đề tạm
giữ trong tố tụng hình sự.
Hiện nay, khái niệm tạm giữ cụ thể còn chưa được thống nhất với nhiều
quan điểm khác nhau. Tham khảo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
của trường Đại học Luật Hà Nội thì Tạm giữ được hiểu là: “biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối
với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp
phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt
theo quyết định truy nã”1



11


- Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ:
Căn cứ áp dụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật TTHS
2015, tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự chỉ có thể được áp dụng trong các
trường hợp sau:
+ Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp;
+ Người bị bắt quả tang khi đang phạm tội;
+ Người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu thú, tự
thú.
Như vậy trong quá trình tố tụng hình sự, việc tạm giữ sẽ được diễn ra
trước khi tạm giam và có thể sẽ được áp dụng đối với tất cả các mức độ phạm
tội nghiêm trọng, ít nghiệm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng và có thể áp dụng đối với bất cứ đối tượng nào (có thể áp dụng đối với
người chưa bị khởi tố như khi người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang
và trong trường hợp khẩn cấp), với mục đích ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho
xã hội, ngăn ngừa hành vi tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở
công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.
Thẩm quyền áp dụng: Người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ
gồm:
+ Thủ trưởng, các Phó Thủ trưởng của Cơ quan điều tra các cấp;
+ Đồn trưởng các Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa
khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố tực thuộc Trung
ương; Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng của Bộ đội biên phịng; Đồn
trưởng Đồn đặc nhiệm phịng, chống ma túy và tội phạm của Bộ đội biên
phòng; Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng;
Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển; Cục trưởng của Cục Nghiệp vụ và
pháp luật thuộc lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Đoàn trưởng Đoàn đặc

+ Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi người có thẩm quyền ra quyết định
tạm giữ, quyết định này phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm
sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Khi kiểm sát việc tạm giữ, nếu
nhận thấy việc tạm giữ trái pháp luật hoặc không cần thiết phải tạm giữ thì
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và cơ quan đã ra
13


quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Viện KSND ra
quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ trong những trường hợp: Người bị
tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp
phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, và không phải là người đầu thú, tự
thú; Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho
xã hội khơng đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự;
Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm
tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và
khơng có biểu hiện sẽ trốn hay cản trở việc điều tra.
Viện KSND phê chuẩn quyết định tạm giữ hoặc ra quyết định hủy bỏ
quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền. Nếu quyết định tạm giữ được
phê chuẩn thì giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ và người có
nhiệm vụ thi hành quyết định. Nếu Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết
định tạm giữ thì cơ quan đang tạm giữ tiến hành trả tự do ngay cho người
đang bị tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ: Tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự sẽ được áp dụng
dựa trên quy định tại Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:
Khơng q thời gian ba ngày kể từ thời điểm Cơ quan điều tra ra quyết
định tạm giữ đối với người ra tự thú, đầu thú; từ thời điểm Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận
người bị giữ, người bị bắt tại trụ sở của mình từ người khác, cơ quan khác
hoặc áp giải người bị giữ, bị bắt về trụ sở của mình.

bản của một hệ thống cơ quan nhà nước - hệ thống Viện KSND các cấp. Theo
quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014:
“1. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp ...”
Theo đó, Viện KSND có hai chức năng cơ bản: thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong đó, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt
động của Viện KSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định
của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay
từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
15


và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; ngồi ra kiểm sát hoạt động
tư pháp cịn xuất hiện trong việc giải quyết vụ án hành chính, các vụ việc dân
sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án
hình sự, thi hành án dân sự, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động
tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 6 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014, Viện
KSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau
đây:
- Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố;
- Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai
đoạn truy tố;
- Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự;
- Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hơn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo
quy định của pháp luật;

quyền trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ theo đúng quy định của pháp luật,
cũng như đểbảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người
bị tạm giữ và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ.
- Đối tượng của kiểm sát hoạt động tạm giữ: là việc tuân theo pháp luật
của cơ quan quản lý tạm giữ, cơ quan thi hành tạm giữ, người có thẩm quyền
và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động tạm giữ. Cụ thể
hơn, là việc tuân theo pháp luật của người có thẩm quyền ra quyết định tạm
giữ, Cơ quan điều tra, nhà tạm giữ và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ
là Trưởng nhà tạm giữ và người khác có trách nhiệm trong việc tạm giữ. Đây
là những đối tượng liên quan trực tiếp đến việc tạm giữ, có quyền hạn và khi
thực hiện quyền hạn của mình rất dễ vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ.
17


- Phạm vi của kiểm sát hoạt động tạm giữ bắt đầu từ khi có việc đưa
người bị tạm giữ vào cơ sở giam giữ và kết thúc khi chấm dứt việc tạm giữ.
Cơng tác này vừa mang tính thường xun vừa mang tính bất thường, trong
q trình tạm giữ Viện KSND có thể tiến hành kiểm sát thường kỳ theo kế
hoạch, kiểm sát bất thường nếu xét thấy cần thiết để đảm bảo việc phát hiện,
khắc phục kịp thời những vi phạm, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ.
- Mục đích của kiểm sát hoạt động tạm giữ: nhằm đảm bảo việc tạm giữ,
chế độ tạm giữ theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị tạm giữ được tôn trọng và được
bảo vệ; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tạm giữ phải được phát hiện,
xử lý kịp thời, nghiêm minh.
Có thể nói, cơng tác tạm giữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
trong hoạt động tư pháp, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự được diễn ra thuận lợi theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự.

KSND tại 14 điều trong Chương VIII – Kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm
giam (Điều 42, 43) và Chương IX – Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố
cáo (Các điều 46, 49, 50 – 55, 59-60). Theo đó, Viện KSND có các nhiệm vụ,
quyền hạn sau khi kiểm sát hoạt động tạm giữ:
- Thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát tại Nhà tạm giữ.
Khi tiến hành kiểm sát thường kỳ, có thể kiểm sát tồn bộ việc chấp hành
pháp luật trong hoạt động tạm giữ hoặc kiểm sát những vấn đề KSV thấy cần
thiết hoặc phúc tra lại những vi phạm đã được phát hiện của lần kiểm sát trước
mà đã bị Viện KSND kháng nghị yêu cầu sửa chữa, đánh giá kết quả sửa chữa vi
phạm của Trưởng nhà tạm giữ. Đối với nhà tạm giữ, KSV phải kiểm sát việc tạm
giữ hàng ngày; kiểm sát từng mặt 3 tháng 01 lần, kiểm tra trực tiếp toàn diện 6
tháng 01 lần về việc tạm giữ và có kết luận bằng văn bản.
Để có thể thực hiện được yêu cầu của công tác kiểm sát việc tạm giữ theo
đúng quy định của pháp luật, trong khi tiến hành công tác kiểm sát thường kỳ và
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status