VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG KHÁNH
VAI TRỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ TỪ THỰC TIẾN
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Thị Lâm Thi
Hà Nội -2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được cơng bố trong
bất cứ cơng trình nào.
Tác giả luận văn
NGUYỄN HOÀNG KHÁNH
MỤC LỤC
Bộ luật Tố tụng hình sự
VKSNDTC
Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
VKSND/ Viện KSND
Viện kiểm sát nhân dân
THTT
Tiến hành tố tụng
BPNC
Biện pháp ngăn chặn
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
THQCT
Thực hành quyền công tố
đ/v
Đơn vị
40
tiếp tại Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thời gian từ năm
2015 đến 2019.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong giai đoạn hiện nay xây dựng Nhà nước pháp quyền, nền tư pháp
trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền
con người, định hướng của Đảng ta về hồn thiện hệ thống pháp luật đấu
tranh phịng, chống tội phạm theo hướng xây dựng các cơ quan bảo vệ pháp
luật là nòng cốt, phát huy sức mạnh của tồn xã hội trong việc phát hiện,
phịng ngừa, ngăn chặn tội phạm, bảo đảm yêu cầu để hoàn thiện pháp luật tố
tụng hình sự nói chung và chế định các biện pháp ngăn chặn nói riêng.
Chế định các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ nói
riêng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật tố tụng hình sự,
bởi chúng là phương tiện cưỡng chế Nhà nước có hiệu quả nhất để ngăn chặn,
phịng ngừa tội phạm. Bên cạnh đó các biện pháp ngăn chặn này còn là
phương tiện pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân khơng
những đối với người bị tạm giữ, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà cịn cả đối với người có liên quan
đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo và thân nhân của họ. Việc quy
định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác, các biện pháp ngăn chặn trong
đó có biện pháp tạm giữ là cần thiết cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của luật
tố tụng hình sự nhằm phát hiện và ngăn chặn, xử lý chính xác, nhanh chóng,
kịp thời đối với mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan,
sai người vô tội.
Tại Điều 107 Khoản 1 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát
thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác được giao, liên tục điều tra, truy tố
những vụ án tham những, chức vụ lớn gây thiệt hại đến kinh tế cho nhà nước,
gây ảnh hưởng sấu trong dư luận, các vụ án xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe của con người cũng như các các vụ án ma túy lớn xuyên quốc gia, vụ án
các đối tượng phạm tội sử dụng công nghệ cao để đánh bạc qua mạng, sử
dụng thẻ tin dụng giả… được Đảng và Nhà nước đánh giá cao, nhân dân tin
tưởng, ủng hộ. Để có được kết quả đó phần lớn là do sự lãnh chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước và sự nỗ lục của toàn ngành đã thực hiện tốt các chỉ tiêu,
2
nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, trong đó có chức năng kiểm sát
tạm giữ nhằm đảm bảo cho việc tạm giữ được thực hiện theo đúng theo quy
định của pháp luật; chế độ tạm giữ được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng,
tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ và các quyền khác của họ
không bị pháp luật tước bỏ và được tôn trọng. Các văn kiện của Đảng về công
tác tư pháp đều nhấn mạnh đến hoạt động kiểm sát việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn của các cơ quan tiến hành tố tụng, của Viện kiểm sát như. Tại
Chỉ thị số: 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Ban chấp hành trung ương Đảng
cộng sản Việt Nam về một số công tác cấp bách của các Cơ quan tư pháp cần
được thực hiện trong năm 2000 đã nhấn mạnh: “Tăng cường trách nhiệm của
Viện kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt, giam giữ, việc bắt giam phải
được xem xét phê chuẩn đối với từng trường hợp, từng đối tượng cụ thể. Đối
với trường hợp bắt giam cũng được hoặc không bắt giam cũng được thì
khơng bắt giam. Sai sót trong việc bắt, giam, giữ ở địa phương nào thì trước
hết Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương đó chịu trách nhiệm”.
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị xác định về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ: Tăng
cường công tác kiểm sát giam, giữ bảo đảm đúng pháp luật, những trường
hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt,
406. 934 người, dân số nam là 265. 620 người, dân số nữ 264.721 người, gồm
8 dân tộc chung sống trong đó dân tộc Tày chiếm đại đa số, ngoài ra các dân
tộc khác như Kinh, Nùng, Mơng, Dao, Lơ Lơ… có số lượng ít hơn - mỗi dân
tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập qn và trình độ dân trí rất khác
nhau hợp thành đại gia đình các dân tộc trong tồn tỉnh. Vì những đặc điểm
đa dạng về dân tộc và những khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế cũng như
tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, số tội phạm tăng cao mà công
tác kiểm sát của Viện KSND nói chung và cơng tác VKS kiểm sát hoạt động
tạm giữ nói riêng cịn nhiều khó khăn, hạn chế như: chất lượng kiểm sát tạm
giữ chưa cao vẫn cịn để xảy ra tình trạng, tiêu chuẩn của người bị tạm giữ
chưa được đảm bảo theo đúng quy định pháp luật, cịn diễn ra tình trạng vi
phạm nội quy, quy chế, hồ sơ tiếp nhận không đầy đủ,… Đồng thời có những
4
lý luận về vai trò của Viện KSND trong kiểm sát tạm giữ chưa được nghiên
cứu làm rõ, thống nhất như: khái niệm, đối tượng và mục đích của hoạt động
kiểm sát tạm giữ.
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu thực trạng vai trị của Viện KSND
trong cơng tác kiểm sát tạm giữ để từ đó xác định được nguyên nhân của
những hạn chế, tồn tại, đề ra các giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao vai
trị của Viện KSND trong kiểm sát tạm giữ, từ đó đảm bảo chất lượng công
tác kiểm sát tạm giữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ.
Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: "Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong kiểm sát hoạt động tạm giữ từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng" làm đề tài
luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp của ngành kiểm sát nhân dân, trong đó kiểm sát việc áp dụng
biện pháp tạm giữ là một trong những mục đích quan trọng của cơng cuộc cải
kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng trong kiểm sát hoạt động tạm giữ.
- Nhiệm vụ của luận văn: Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở lý luận,
quy định của pháp luật trong kiểm sát tạm giữ, nghiên cứu thực tiễn kiểm sát
hoạt động tạm giữ trên địa bàn toàn tỉnh Cao Bằng từ đó đề xuất một số giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt
động tạm giữ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về kiểm sát hoạt động tạm giữ trong
TTHS và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kiểm sát tạm giữ của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Cao Bằng, thời gian lấy số liệu trong 05 năm (2015 - 2019).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở lý luận
của chủ nghĩa Mác - LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;
quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật do dân và
vì dân; đặc biệt là dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
về cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
7
cứu như phân tích, tổng hợp để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về công
tác kiểm sát tạm giữ của Viện KSND tại tỉnh Cao Bằng; phương pháp thống
kê, so sánh, tổng hợp làm rõ kết quả thực hiện vai trò của Viện KSND trong
hoạt động kiểm sát tạm giữ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Về lý luận: Nghiên cứu góp phần hồn thiện cơ sở lý luận về vị trí,
vai trị, nhiệm vụ, quyền hạn của ngành kiểm sát nhân dân trong thực hiện
kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ.
- Về thực tiễn: Việc nghiên cứu công tác kiểm sát việc áp dụng biện
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được
áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với người trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nhằm ngăn chặn hành vi nguy
hiểm cho xã hội của họ, ngăn chặn việc họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp
luật hay có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm,
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định nhiều biện pháp ngăn chặn và
được ghi nhận tại Chương VI Bộ luật TTHS và tạm giữ là một trong các biện
pháp ngăn chặn đó. Bên cạnh đó tạm giữ còn là một biện pháp ngăn chặn, bảo
đảm trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Luật xử lý vi phạm
hành chính 2012. Tuy nhiên trong luận văn này tôi chỉ đề cập đến vấn đề tạm
giữ trong tố tụng hình sự.
Hiện nay, khái niệm tạm giữ cụ thể còn chưa được thống nhất với nhiều
quan điểm khác nhau. Tham khảo giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
của trường Đại học Luật Hà Nội thì Tạm giữ được hiểu là: “biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối
với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp
phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt
theo quyết định truy nã”
9
Khái niệm này đã chỉ ra được đối tượng bị giam giữ theo tinh thần của
Bộ luật TTHS năm 2015 nhưng lại chưa đưa ra được mục đích của việc tạm
giữ.
Theo Từ điển luật học năm 2006 thì khái niệm tạm giữ được định nghĩa
như sau: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong
thời gian cần thiết, cần ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở đến
+ Người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu thú, tự
thú.
Như vậy trong quá trình tố tụng hình sự, việc tạm giữ sẽ được diễn ra
trước khi tạm giam và có thể sẽ được áp dụng đối với tất cả các mức độ phạm
tội nghiêm trọng, ít nghiệm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng và có thể áp dụng đối với bất cứ đối tượng nào (có thể áp dụng đối với
người chưa bị khởi tố như khi người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang
và trong trường hợp khẩn cấp), với mục đích ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho
xã hội, ngăn ngừa hành vi tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở
công tác điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án.
Thẩm quyền áp dụng: Người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ
gồm:
+ Thủ trưởng, các Phó Thủ trưởng của Cơ quan điều tra các cấp;
+ Đồn trưởng các Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa
khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố tực thuộc Trung
ương; Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng của Bộ đội biên phịng; Đồn
trưởng Đồn đặc nhiệm phịng, chống ma túy và tội phạm của Bộ đội biên
phòng; Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng;
Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển; Cục trưởng của Cục Nghiệp vụ và
pháp luật thuộc lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Đoàn trưởng Đoàn đặc
nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng
Chi cục Kiểm ngư vùng; Thủ trưởng của các đơn vị độc lập cấp trung đoàn và
cấp tương đương.
11
+ Chỉ huy trưởng tàu bay, tàu biển khi đã rời khỏi địa phận sân bay hoặc bến
cảng.
Theo quy định của Bộ luật TTHS nhìn chung thì cơ quan điều tra từ cấp
huyện trở lên mới có quyền ra quyết định tạm giữ. Chính quyền và cơng an cấp
tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp
phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, và không phải là người đầu thú, tự
thú; Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho
xã hội khơng đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự;
Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm
tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và
khơng có biểu hiện sẽ trốn hay cản trở việc điều tra.
Viện KSND phê chuẩn quyết định tạm giữ hoặc ra quyết định hủy bỏ
quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền. Nếu quyết định tạm giữ được
phê chuẩn thì giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ và người có
nhiệm vụ thi hành quyết định. Nếu Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết
định tạm giữ thì cơ quan đang tạm giữ tiến hành trả tự do ngay cho người
đang bị tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ: Tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự sẽ được áp dụng
dựa trên quy định tại Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:
Khơng q thời gian ba ngày kể từ thời điểm Cơ quan điều tra ra quyết
định tạm giữ đối với người ra tự thú, đầu thú; từ thời điểm Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận
người bị giữ, người bị bắt tại trụ sở của mình từ người khác, cơ quan khác
hoặc áp giải người bị giữ, bị bắt về trụ sở của mình.
Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn
tạm giữ, thời hạn gia hạn theo quy định không quá 03 ngày. Trường hợp đặc
biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng
cũng không được quá 03 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ cần phải được
Viện KSND cùng cấp hoặc Viện KSND có thẩm quyền phê chuẩn. Viện kiểm
sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn trong thời
hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm giữ. Viện kiểm sát phê
13
và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; ngồi ra kiểm sát hoạt động
tư pháp cịn xuất hiện trong việc giải quyết vụ án hành chính, các vụ việc dân
sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án
hình sự, thi hành án dân sự, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động
tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 6 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014, Viện KSND
thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau đây:
- Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố;
- Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai
đoạn truy tố;
- Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự;
- Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự;
- Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hơn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo
quy định của pháp luật;
- Kiểm sát việc thi hành án dân sự, thi hành án hành chính;
- Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của
các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền;
- Kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp.
Từ quy định trên cho thấy, hoạt động kiểm sát tạm giữ là một trong các
nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo
đảm:
- Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hơn nhân
của người bị tạm giữ.
- Phạm vi của kiểm sát hoạt động tạm giữ bắt đầu từ khi có việc đưa
người bị tạm giữ vào cơ sở giam giữ và kết thúc khi chấm dứt việc tạm giữ.
16
Cơng tác này vừa mang tính thường xun vừa mang tính bất thường, trong
q trình tạm giữ Viện KSND có thể tiến hành kiểm sát thường kỳ theo kế
hoạch, kiểm sát bất thường nếu xét thấy cần thiết để đảm bảo việc phát hiện,
khắc phục kịp thời những vi phạm, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ.
- Mục đích của kiểm sát hoạt động tạm giữ: nhằm đảm bảo việc tạm giữ,
chế độ tạm giữ theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị tạm giữ được tôn trọng và được
bảo vệ; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tạm giữ phải được phát hiện,
xử lý kịp thời, nghiêm minh.
Có thể nói, công tác tạm giữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
trong hoạt động tư pháp, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự được diễn ra thuận lợi theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự.
Trong đó, tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật TTHS,
việc áp dụng biện pháp tạm giữ mục đích để ngăn chặn khả năng gây khó
khăn cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng từ phía bị can; ngăn
chặn khả năng tiếp tục phạm tội của bị can. Với chức năng thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt tư pháp theo quy định của Luật tổ chức Viện KSND
năm 2014, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; Quy chế, Chỉ thị và văn bản có
liên quan khác. Viện kiểm sát phải thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tạm
giữ, bảo đảm thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tạm giữ, kịp thời phát hiện những thiếu sót vi phạm
để ban hành kiến nghị, kháng nghị nhằm đảm bảo pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh và thống nhất.
Để có thể thực hiện được u cầu của cơng tác kiểm sát việc tạm giữ theo
đúng quy định của pháp luật, trong khi tiến hành công tác kiểm sát thường kỳ và
trực tiếp đối với nhà tạm giữ cần chú ý đến việc kiểm sát đối tượng, thủ tục,
thẩm quyền và thời hạn tạm giữ đảm bảo các yêu cầu; phân loại, quản lý người
bị tạm giữ theo quy định pháp luật; thực hiện chế độ đối với người bị tạm giữ và
đảm bảo an tồn về tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm cũng như việc tôn
trọng các quyền khác không bị pháp luật tước bỏ của người bị tạm giữ.
18
Khi xét thấy cần thiết, Viện KSND có thể kiểm sát bất thường tại nhà tạm
giữ. Trường hợp được áp dụng hình thức kiểm sát này là khi phát hiện có dấu
hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng xảy ra tại nhà tạm giữ hoặc trường hợp
người bị tạm giữ trốn, phạm tội mới, chết do tai nạn, chết bất thường không rõ
nguyên nhân, tự tử, … Kiểm sát bất thường có thể thực hiện vào bất kỳ thời gian
nào. Khi thực hiện hoạt động kiểm sát đột xuất phải có quyết định trực tiếp kiểm
sát và có kết luận bằng văn bản khi kết thúc. Trong văn bản kết luận có xác định
nguyên nhân và hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra và yêu cầu Trường
nhà tạm giữ có biện pháp kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và xử lý
người vi phạm.
- Kiểm sát hồ sơ tạm giữ: Khi kiểm tra hồ sơ, tài liệu của cơ quan, đơn vị,
KSV cần nắm được tình hình chấp hành pháp luật từ việc tiếp nhận cho đến khi
trả tự do người bị tạm giữ; năm rõ quá trình thực hiện thủ tục, các chế độ đối với
người bị tạm giữ. Từ đó thu thập các tài liệu, chứng cứ chứng minh vi phạm,
trường hợp cần thiết thì có thể kiểm danh, kiểm diệm, gặp, hỏi người bị tạm giữ
về việc tạm giữ.
- Yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ, Trưởng buồng tạm giữ Bộ đội Biên phịng
tự kiểm tra việc tạm giữ và thơng báo kết quả cho Viện KSND; cung cấp hồ sơ,
tài liệu thi hành tạm giữ; thơng báo tình hình thi hành tạm giữ. Viện KSND cũng
có thể yêu cầu người có thẩm quyền thi hành tạm giữ trả lời về quyết định, vi
nay được thay thế bằng Quyết định số 501/QĐ-VKSTC của Viện KSNDTC
ngày 12/12/ 2017, hoạt động kiểm sát việc tạm giữ bao gồm các nội dung cơ
bản dưới đây:
- Kiểm sát việc tiếp nhận người bị tạm giữ và hồ sơ quản lý tạm giữ.
+ Viện kiểm sát kiểm sát việc tiếp nhận hồ sơ, tài liệu người bị tạm giữ
của cơ sở giam giữ nhằm bảo đảm cơ sở giam giữ thực hiện đầy đủ trách
nhiệm theo quy định tại Điều 16 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và
các quy định của pháp luật khác có liên quan.
Theo đó, Viện KSND kiểm sát việc cơ sở tạm giữ thực hiện đúng trách
nhiệm kiểm tra thông tin người bị tạm giữ; lập biên bản giao nhận người bị
20