Luận văn thạc sĩ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm HIV AIDS tại trung tâm khám chữa bệnh sở lao động thương binh xã hội tỉnh thái bình - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ HOA VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO ĐỐI TƯỢNG NHIỄM HIV/AIDS TẠI
TRUNG TÂM KHÁM CHỮA BỆNH
SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH XÃ HỘI TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Công tác xã hội

1.2.1 Khái niệm Công tác xã hội 26
1.2.2 Khái niệm Nhân viên Công tác xã hội 29
1.2.3 Khái niệm vai trò và vai trò của nhân viên Công tác xã hội 31
1.2.4 Khái niệm HIV/AIDS 34
1.2.5 Những đặc trưng tâm lý của đối tượng nhiễm HIV/AIDS 36
1.2.6 Khái niệm tham vấn 39
1.2.7 Khái niệm khủng hoảng 44
1.2.8 Khái niệm hỗ trợ tâm lý 45
1.3 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 47
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2: NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ TÂM LÝ
CHO ĐỐI TƯỢNG NHIỄM HIV/AIDS 50
2.1. Những khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng nhiễm
HIV/AIDS 50
2.1.1. Khủng hoảng tâm lý 50
2.1.2. Phân biệt và kì thị đối xử - tự kì thị 52
2.2 Nhu cầu của đối tượng nhiễm HIV/AIDS 54
2.3 Hỗ trợ tâm lý của NVCTXH cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương đầu
và vượt qua khủng hoảng 57
2.3.1 Vai trò của NVCTXH trong tham vấn cho đối tượng trong giai đoạn hai
: Giai đoạn bắt đầu bị tác động của khủng hoảng (Khi thông báo họ có HIV
dương tính) 59
2.3.2 Vai trò của NVCTXH trong tham vấn giúp đỡ đối tượng khi họ phủ nhận
tình huống 64
2.3.3 Vai trò của NVCTXH trong tham vấn hỗ trợ đối tượng trong giai đoạn
3: Giai đoạn bối rối, quẫn trí 68
2.3.4 Vai trò của NVCTXH trong tham vấn hỗ trợ đối tượng trong giai đoạn 4:
Lúc họ mặc cảm và tìm các phương án đối phó tích cực hoặc tiêu cực 71
2.3.5 Vai trò của NVCTXH trong tham vấn hỗ trợ đối tượng trong giai đoạn
5: Giai đoạn xử lý khủng hoảng 78

Theo thứ trưởng, Việt Nam đã kiểm soát được tốc độ gia tăng của các
ca nhiễm mới HIV, giảm số người tử vong do AIDS. Tuy nhiên, tình hình lây
nhiễm bệnh có nhiều diễn biến phức tạp.Mỗi năm nước ta có khoảng 10.000
ca nhiễm mới HIV được phát hiện, HIV/AIDS vẫn là nguyên nhân hàng đầu
gây gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam. Sự quay trở lại của đại dịch HIV/AIDS
đang trở nên hiện hữu khi tốc độ đầu tư cho công tác phòng chống đang giảm
xuống. Bên cạnh đó, các biện pháp can thiệp chưa được triển khai đủ mạnh và
tình trạng phân biệt đối xử chưa giảm xuống. Dịch HIV ở Việt Nam vẫn tập
trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm cao: người
nghiện chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm. 2
Việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV mới được báo cáo,
chiếm hơn 32% các ca nhiễm mới trong năm 2013, cho thấy sự lây truyền
HIV từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình.
Quyết tâm ngăn ngừa đại dịch HIV/AIDS lan tràn ở Việt Nam là công
tác vô cùng cấp bách đòi hỏi tất cả các ngành các cấp cùng tham gia.
Công tác xã hội (CTXH) là một nghề tương đối mới mẻ ở Việt Nam,
tuy nhiên từ khi ra đời nó đã được ứng dụng vào rất nhiều hoạt động đặc biệt
là hoạt động hỗ trợ người yếu thế. Với sứ mệnh của ngành, CTXH hướng đến
an sinh, công bằng và hạnh phúc cho toàn thể mọi người. Đảng và Nhà nước
ta đã thấy rõ được tầm quan trọng của nghề CTXH trong công tác giải quyết
các vấn đề xã hội và hỗ trợ người yếu thế, chính vì vậy mà năm 2011 đã thành
lập mã nghề CTXH và thực hiện nâng cao năng lực cho cán bộ xã hội tại các
địa phương với đề án 32 của chính phủ. Điều này chứng minh được rằng,
CTXH và nhân viên CTXH (NVCTXH) có vai trò hết sức quan trọng trong
quá trình thực hiện hỗ trợ những người yếu thế.
Một trong những nhóm người yếu thế mà CTXH hướng đến để hỗ trợ
đó chính là đối tượng nhiễm HIV/ AIDS. Trong đó, vai trò của các NVCTXH

Tuy nhiên vào thời gian đó những dấu hiệu xuất hiện mới chỉ được coi là
những ca viêm nhiễm và chưa được giải thích và cũng chưa được sự quan tâm
của xã hội. Trên thực tế các hồ sơ về các trường hợp bị nhiễm virut cũng
không được lưu giữ cẩn thận, và cũng chưa ai khẳng định được rằng đã có
bao nhiêu trường hợp nhiễm virut ở Châu phi lúc bấy giờ.Cho đến khi các
nước Phương Tây với hệ thống chăm sóc y tế hiện đại hơn đã phát hiện ra nó.
Năm 1992, một nghiên cứu ở Rwanda đã có cuộc nghiên cứu của các
nhà xã hội học trong việc kiểm tra tác động của tư vấn phòng ngừa đối với
người nhiễm HIV. Và nghiên cứu chỉ ra rằng đối với phụ nữ đối tác mà cũng
đã được thử nghiệm và tư vấn, hàng năm tỷ lệ nhiễm HIV mới giảm từ 4,1%
đến 1,8%. Ở đây, tư vấn đã giúp giảm tỉ lệ người nhiễm H [25,99]. 4
Một nghiên cứu dựa vào cộng đồng, cách tiếp cận cho thanh thiếu niên
và phụ nữ. Yangon, UNICEF, năm 1995, được thiết kế để giúp đỡ cộng đồng
người lao động ở nông thôn tăng nhận thức và phát triển cuộc sống kỹ năng
liên quan đến HIV / AIDS. Tất cả các vấn đề liên quan, chẳng hạn như chăm
sóc trong thanh niên và phụ nữ, tư vấn cho họ cách bảo vệ mình trước HIV.
Chủ đề được tiếp cận trong thực tế một cách thân thiện và tập trung vào tầm
quan trọng của sự tham gia cộng đồng, bạn bè và gia đình. UNAIDS chính
sách về xét nghiệm HIV và tư vấn. Ở nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng,
những người nhiễm HIV/AIDS rất cần sự hỗ trợ từ phía gia đình, cộng
đồng, bạn bè đặc biệt là từ những nhà chuyên môn – hỗ trợ về mặt tâm lý
để họ vượt qua khủng hoảng và rào cản về mặt tâm lý để họ hòa nhập với
cộng đồng. Vì vậy, nghiên cứu này được UNICEF tài trợ đã có kết quả khả
quan hơn khi họ nhấn mạnh đến vai trò của những nhà chuyên môn trong
công tác tham vấn cho người nhiễm HIV/AIDS [25,99]
Ngọn nến của niềm hy vọng : AIDS chương trình của Hội Chữ thập đỏ
Thái Lan và Chiến lược ActionAid, 1994 đã cung cấp cái nhìn tổng quan của

bạo lực tình dục đối với trẻ em, bao gồm cả mại dâm trẻ em và buôn bán trẻ
em. Trong đó có hai tội phạm đặc biệt có liên quan đến HIV/AIDS cũng đã
được đề cập đến là tội lây truyền HIV cho người khác và tội cố ý truyền HIV
cho người khác.
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS
đã tạo cơ sở pháp lý, hình thành một khung pháp luật khá đầy đủ cho việc
triển khai thống nhất, đồng bộ các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trong
phạm vi toàn quốc, góp phần quan trọng trong việc hạn chế sự gia tăng lây
nhiễm HIV trong cộng đồng; đồng thời góp phần giáo dục, nâng cao ý thức
pháp luật, nâng cao sự hiểu biết về HIV/AIDS và công tác phòng, chống
HIV/AIDS trong nhân dân, góp phần giảm thiểu tác hại của dịch HIV/AIDS
đối với nhiều mặt trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. 6
Toàn xã hội đã và đang quan tâm đến vấn đề này, nó được thể hiện rõ
trong những nghiên cứu, diễn đàn, hội thảo cấp nhà nước, liên ngành và quốc tế.
“Một số cảm xúc tiêu cực ở người nhiễm HIV/AIDS và cách thức hỗ
trợ” của GS. TS. Trần Thị Minh Đức và cử nhân Tâm lý học Trương Phúc
Hưng, Tạp chí Tâm lý học số 6/2000, cũng đã chỉ ra rằng, ở người nhiễm H
có những cảm xúc tiêu cực mà đối tượng phải trải nghiệm, vì vậy gây ra cho
họ những trạng thái tiêu cực và nhà tham vấn cần hỗ trợ cho họ để họ ứng phó
với những cảm xúc, trạng thái tiêu cực đó [23,99.
“Diễn đàn của những người sống chung với HIV/AIDS” do Trung tâm
Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới- Gia đình- Phụ nữ và Vị thành
niên (CSAGA), 2004 thực hiện tại Hà Nội và Thanh Hóa (thành thị) với sự hỗ
trợ của Quỹ Canada. Nội dung:
Tạo cơ hội để những người sống chung với HIV/AIDS nói lên tiếng nói
của mình
 Tăng cường năng lực và sự tự tin của người nhiễm HIV/AIDS

thông tin, tư vấn hỗ trợ; (3) được hỗ trợ và chăm sóc trong điều trị: (4) được
hỗ trợ về giáo dục; (5) được vui chơi giải trí như các bạn khác; (6) được hỗ
trợ tâm lý xã hội và (7) được tham gia và được lắng nghe.
Trong giai đoạn 2005-2011, có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về
HIV/AIDS cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành và cấp cơ sở được triển khai. Kết
quả nghiên cứu đã giúp công tác lập kế hoạch, xây dựng các chương tình can
thiệp, chăm sóc và điều trị đạt hiệu quả. Kết qủa nghiên cứu đã được báo cáo
tại các hội nghị khoa học và đăng tải ở nhiều tạp chí khoa học trong nước và
quốc tế. Trong thời gian qua (2010 - 2012), hơn 150 công trình, đề tài nghiên
cứu về dịch tễ học, các mô hình, biện pháp can thiệp dự phòng và điều trị về
HIV/AIDS, nghiên cứu về hành vi, xã hội học của các viện nghiên cứu, các
trường đại học, bệnh viện đã được triển khai và ứng dụng có hiệu quả.
Hội nghị Khoa học quốc gia về HIV/AIDS lần thứ IV diễn ra ngày 01-
03/12/2010 tại Hà Nội tập trung vào 4 chủ đề: Khoa học cơ bản về HIV/AIDS 8
và dịch tễ học về HIV/AIDS, HIV/AIDS/STI/Lao; Can thiệp, dự phòng lây
nhiễm HIV/AIDS; Chăm sóc, điều trị nhiễm trùng cơ hội và AIDS; Lãnh đạo,
quản lý và sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong phòng, chống
HIV/AIDS. Hội nghị có 4 phiên toàn thể và 16 phiên chuyên đề. 112 báo cáo
được lựa chọn để trình bày tại hội trường và 38 báo cáo được trình bày dưới
dạng poster.
Năm 2012, với nghiên cứu về HIV/AIDS, Phạm Văn Tư, trưởng bộ
môn cơ sở Công tác xã hội, Khoa Công tác xã hội, Đại học sư phạm Hà Nội
đã nghiên cứu về nội dung: Vai trò của NVCTXH trong việc hỗ trợ trẻ em bị
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hòa nhập học đường, nghiên cứu này diễn ra tại Hà
Nội, Thái Bình, Thái Nguyên và Quảng Ninh [14,98]. Nghiên cứu này đã chỉ
ra rằng :
- Nhân viên Công tác xã hội can thiệp, hỗ trợ trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ vai trò của nhân viên CTXH trong tham vấn cho đối tượng
nhiễm HIV/AIDS đương đầu và vượt qua khủng hoảng và tham vấn giúp
đối tượng nhiễm HIV/AIDS giảm căng thẳng tâm lý.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn về vai trò của nhân
viên CTXH, vai trò của NVCTXH trong tham vấn cho đối tượng nhiễm
HIV/AIDS; các giai đoạn khủng hoảng của đối tượng nhiễm HIV/AIDS.
- Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến đối tượng HIV/AIDS, những yếu tố
làm gia tăng căng thẳng của đối tượng nhiễm HIV/AIDS.
- Nghiên cứu và làm rõ quá trình tham vấn của nhân viên Công tác xã
hội giúp đối tượng nhiễm HIV/AIDS trong các giai đoạn của khủng hoảng.
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường khả năng đương đầu và
vượt qua khủng hoảng cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS.
4. Ý nghĩa của nghiên cứu 10
Nghiên cứu vấn đề có ý nghĩa trực tiếp về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận: Chỉ rõ được vai trò và tầm quan trọng của CTXH và nhân
viên CTXH trong hỗ trợ cho đối tượng yếu thế nói chung và đối tượng nhiễm
HIV/AIDS nói riêng.
- Về thực tiễn: Nghiên cứu vấn đề vai trò của nhân viên CTXH có ý
nghĩa thiết thực và trực tiếp đối với tỉnh Thái Bình, tham mưu cho sở Lao
động - Thương binh xã hội tỉnhThái Bình trong việc thực hiện phương hướng,
nhiệm vụ của tỉnh xây dựng trung tâm CTXH và hỗ trợ tốt hơn cho đối tượng
nhiễm HIV/AIDS.
5 . Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của nhân viên CTXH trong hỗ trợ tâm lý cho đối tượng nhiễm

Nghiên cứu vấn đề tham vấn cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương
đầu vượt qua khủng hoảng là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề về
đạo đức, xã hội, điều kện kinh tế Vì vậy để nghiên cứu vấn đề này có hiệu
quả, chúng tôi đã vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận khoa học cho đề tài, đó chính là
quan điểm toàn diện lịch sử, cụ thể và phát triển. Phương pháp luận này đòi
hỏi khi xem xét vấn đề khủng hoảng của đối tượng nhiễm HIV/AIDS, cần đặt
đối tượng vào hoàn cảnh cụ thể, giai đoạn khủng hoảng cụ thể, các giai đoạn
phát triển của bệnh cụ thể và sự phát triển của xã hội và tính nhân văn cao cả
trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Phương pháp luận này cũng đòi hỏi khi xem xét
khủng hoảng của đối tượng nhiễm HIV/AIDS phải nhìn đối tượng theo quan
điểm phát triển, tích cực, không nhìn vào mặt hạn chế, tiêu cực của đối tượng.
9.2 Phương pháp thu thập thông tin:
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định tính 12
Mẫu nghiên cứu
Tổng số mẫu khách thể nghiên cứu là 32 người, cụ thể : 16 cán bộ,
nhân viên tại trung tâm và 16 đối tượng nhiễm HIV.
Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi chọn ngẫu nhiên : 16 cán bộ, 16 đối tượng nhiễm HIV.
- Tổ chức 02 buổi thảo luận nhóm, nhóm nhân viên chăm sóc và đối
tượng nhiễm H. Trong đó, nhóm cán bộ 6 người, nhóm đối tượng nhiễm H 6
người.
- Tổ chức 20 cuộc phỏng vấn sâu, cụ thể 10 đối tượng nhiễm H và 10
người chăm sóc (người quản lý và nhân viên trực tiếp chăm sóc) .
Những cán bộ và đối tượng tham gia thảo luận nhóm không thuộc
những người/không tham gia vào phỏng vấn sâu.

của trung tâm.

Đối tượng: tham gia thảo luận nhóm: cán bộ và đối tượng nhiễm
HIV/AIDS
Hình thức và thời gian: Tổ chức buổi thảo luận trong 30 - 60 phút.
Nội dung: Bàn luận về các vấn đề liên quan đến những sự kiện gây nên
khủng hoảng và cách thức mà đối tượng đã thực hiện để đương đầu với khủng
hoảng . Tùy theo chủ đề dự kiến trước hoặc có những vấn đề nảy sinh; nhưng ưu
tiên việc bàn về những vấn đề lo lắng các đối tượng gặp phải trong cuộc sống.
Cách thức thực hiện:
Bước 1: Nhân viên xã hội yêu cầu các thành viên chia theo nhóm nhỏ .
Mỗi nhóm có 6 thành viên.
Bước 2: Nhân viên xã hội đưa ra chủ đề thảo luận và những câu hỏi,
những vấn đề nhóm cần thảo luận làm rõ. Chủ đề và những câu hỏi thảo luận
đưa ra phải rõ ràng, ngắn gọn và đảm bảo tất cả các thành viên hiểu được. 14
Bước 3: Đưa ra những yêu cầu về thời gian thảo luận, địa điểm thảo
luận và phân công người trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Lưu ý là nhắc
nhở các thành viên thay phiên nhau trình bày các kết quả thảo luận. Không để
việc trình bày cho duy nhất một hay một vài thành thành viên trong nhóm mà
tất cả thành viên đều có nhiệm vụ trình bày . Trong quá trình các nhóm thảo
luận,nhân viên xã hội có thể đi đến các nhóm để giải thích cho các thành viên
những vấn đề họ chưa hiểu cặn kẽ.
Bước 4: Sau khi các nhóm đã hoàn thành phần thảo luận,nhân viên xã
hội yêu cầu các thành viên lên trình bày kết quả nhóm. Sau khi thành viên
nhóm đại diện trình bày xong, có thể đề nghị các thành viên khác trong nhóm
đó bổ xung ý kiến và hỏi ý kiến từ những thành viên của nhóm khác.
Bước 5: Phân tích, tóm lược những ý chính nhóm và các nhóm khác đã

Cuối cùng được phân tích sâu và trình bày báo cáo kết quả bằng phần
mềm Microsoft Word.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Chỉ tiến hành thu thập thông tin khi được sự đồng ý của đối tượng
nghiên cứu
- Đảm bảo quyền lợi của người cung cấp thông tin bao gồm thông báo
về mục đích và việc sử dụng kết quả nghiên cứu; đảm bảo tính bảo mật thông
tin cá nhân
- Đảm bảo đối tượng không bị tổn thương bởi các phương pháp nghiên
cứu hoặc bị thiệt hại bởi kết quả nghiên cứu

16
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
Học thuyết, lý thuyết là sự đúc rút, tổng hợp các kinh nghiệm thực tiễn
và là cơ sở để người giúp đỡ/ nhà tham vấn phân tích, giải nghĩa, lập kế hoạch
can thiệp giúp đỡ.
Nếu một chuyên gia hỗ trợ không sử dụng kiến thức cũng như lý thuyết
đã được nghiên cứu mà chỉ dựa trên sự suy đoán, kinh nghiệm cá nhân hay
các ý kiến chưa được kiểm chứng, các giá trị, niềm tin của riêng cá nhân thì

chính là khuyến khích thân chủ tự hiện thực hóa những tiềm năng của bản
thân để phát triển tâm lý lành mạnh ở thân chủ.
Theo Carl Rogers mối tương giao hữu ích giữa nhà tham vấn và thân
chủ là mối tương giao xác định bằng một sự trong suốt về phân tôi, trong đó
các giác quan của tôi biểu hiện thật sự rõ ràng sự chấp nhận người khác như
một con người riêng biệt, có giá trị riêng và bằng một sự cảm thông sâu xa.
Nhiệm vụ của nhà tham vấn theo phương pháp tiếp cận này là tạo ra
một môi trường thuận lợi để giúp thân chủ gỡ bỏ “rào cản tâm lý” đang hạn
chế sự bày tỏ khuynh hướng tích cực vốn có và giúp thân chủ làm sáng tỏ và
chấp nhận tình cảm của riêng mình.
Phương pháp thân chủ trọng tâm đánh giá cao quá trình tập trung vào
mối quan hệ trị liệu hơn là tập trung vào kĩ thuật trị liệu. Với nhà trị liệu thì
thái độ đóng vai trò rất quan trọng trong quan hệ trị liệu. Bởi vì trị liệu thân
chủ trọng tâm nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ
cho nên thái độ của nhà trị liệu đóng vai trò chủ yếu . Chính vì vậy, lắng
nghe tích cực là một kĩ năng nền tảng trong phương pháp thân chủ là trọng 18
tâm. Nó đòi hỏi nhà tham vấn phải lắng nghe bằng tất cả các giác quan ,
bằng “trái tim”
Quan điểm tiếp cận của C.Rogers cho rằng con người có bản tính tốt ,
tích cực. Con người có khả năng tự lo liệu, tự giải quyết vấn đề của họ mà
không cần định hướng của người hỗ trợ. Mục đích của tiếp cận thân chủ
trọng tâm là giúp thân chủ trải nghiệm vấn đề của mình, biết chấp nhận bản
thân, tự tin, cởi mở, sẵn sàng đương đầu với những biến cố, sống thực với
bản chất bên trong của mình, tự giải quyết vấn đề của mình.
Khái niệm chủ đạo trong tiếp cận thân chủ trọng tâm là: mỗi người đều
có thể định hướng được cuộc sống của chính mình. Các thân chủ đều có khả
năng giải quyết những vấn đề phức tạp trong cuộc sống một cách hiệu quả.

thân chủ tự hiện thực hóa những tiềm năng của bản thân, tự tin, cở mở và đương
đầu với những biến cố, khủng hoảng của bản thântạo điều kiện dễ dàng cho sự
phát triển tâm lý lành mạnh từ đó tự giải quyết vấn đề của mình.
Tiếp cận thân chủ trọng tâm ứng dụng trong các tình huống giao tiếp xã
hội, trong trị liệu và trong đào tạo lấy học sinh là trung tâm, trong quan hệ cha
mẹ - con cái, thích hợp trong tham vấn khủng hoảng, ứng dụng với nhiều
khách hàng thuộc nhiều nền văn hóa khác nhau.
Trong nghiên cứu này, lý thuyết thân chủ là trọng tâm được ứng dụng
trong quá trình tham vấn cho đối tượng và nhà tham vấn theo phương pháp
tiếp cận này là giúp thân chủ gỡ bỏ rào cản tâm lý đang hạn chế sự bày tỏ
khuynh hướng tích cực vốn có và giúp thân chủ làm sáng tỏ, hiểu rõ bản thân
và chấp nhận bản thân. Đồng thời việc ứng dụng lý thuyết vào trong quá trình
tham vấn cho đối tượng nhiễm HIV/AIDS đương đầu và vượt qua khủng
hoảng đặc biệt trong những giai đoạn của khủng hoảng.
1.1.2 Lý thuyết nhận thức – hành vi
Nội dung 20
Từ những năm 1960, các tác giả như Albert Ellis đặt tiền đế mô hình trị
liệu xúc cảm hợp lý ( Rational Emotive Behaviour Therapy – REBT), Aaron
Beck phát triển liệu pháp nhận thức , Maxie C. Maultsby phát triển liệu pháp
hành vi. Năm 1990 tên gọi liệu pháp nhận thức hành vi bắt đầu được sử
dụng. Sự phát triển của mô hình tiếp cận nhận thức – hành vi đã đưa tham
vấn cũng như trị liệu nhận thức hành vi trở nên phổ biến trên thế giới.
Lý thuyết nhận thức – hành vi quan niệm rằng, con người không phải là
sinh vật thụ động bị kiểm soát chặt chẽ của môi trường. Các cách thức con
người hành động đều xuất phát từ sự hiểu biết và nhận thức của họ. Nếu sự
nhận thức dựa trên các quan điểm hay niềm tin phi lý nó thường gây ra các
hỗn loạn cảm xúc và ứng xử không thích ứng.

và những đau khổ cá nhân thường được bắt nguồn từ những suy nghĩ cứng
nhắc, không hợp lý và không hoàn hảo cũng như từ những niềm tin không
thực tế, không được tìm thấy về cách thức mà chúng nên tồn tại (theo sự
mong đợi của cá nhân).
Trong suốt quá trình trị liệu nhận thức - hành vi, thân chủ được hỗ trợ
nhận biết, giám sát, kiểm tra, và thay đổi những hình mẫu suy nghĩ đó và
những giả định khiếm khuyết mang tới sự gia tăng của vấn đề. Thân chủ cũng
được dạy những kỹ năng đặc thù và thủ tục để nhận biết nội hàm và tương tác
trong suy nghĩ của họ, đánh giá tính đúng đắn trong nhận thức của mình cùng
với những giả định và cách xem xét các sự kiện cũng như các trạng thái qua
quan sát kỹ tường tận hơn.
Việc ứng dụng lý thuyết trong tham vấn cho đối tượng nhiễm HI/AIDS
đương đầu và vượt qua khủng hoảng. Đối tượng đang trong giai đoạn khủng hoảng,
nhà tham vấn áp dụng lý thuyết để hỗ trợ cho đối tượng thay đổi hành vi từ đó thay
đổi nhận thức, chấp nhận thực tế và vươn lên trong chính hoàn cảnh của mình.
1.1.3 Lý thuyết vai trò
Nội dung 22
Đây là một trong những lý thuyết cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu
xã hội học và có ứng dụng mạnh mẽ trong thực hành CTXH.
Lý thuyết vai trò cho rằng một cá nhân trong xã hội có một vị trí nhất định
và từ đó có một vai trò nhất định gắn với vị trí đó. Sự tương tác giữa các
nhóm và giữa các cá nhân bao gồm cả sự tương tác giữa các vi trí, giữa các
vai trò này. Mỗi người có một khoảng cho cá nhân của mình, khoảng này gắn
với vị trí, với vai trò và có những tương tác với nhau để dẫn đến bản sắc xã
hội nhất định. Trong tương tác này, mỗi người có một kết cấu cá nhân, mỗi
người có ý tưởng riêng của mình về một sự vật, sự kiện nhất định và họ trao
đổi nhau, tương tác với nhau từ những kết cấu này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status