MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT...................................................2
DANH MỤC BẢNG............................................................................. 4
MỞ ĐẦU............................................................................................... 5
1.1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
5
2.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
7
2.1.1. Nghiên cứu bạo lực học đường trên thế giới........................................7
2.1.2. Nghiên cứu bạo lực học đường ở Việt Nam........................................10
3.1. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
15
3.1.1. Ý nghĩa lý luận....................................................................................15
4.1. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
16
5.1. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
16
6. 1. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
16
NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ HỌC
SINH BỊ BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG.................................................56
2.1. THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG TẠI CÁC TRƯỜNG PHỔ
THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
56
PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ..................................107
KHUYẾN NGHỊ..............................................................................109
45. WHAT IS A SCHOOL SOCIAL WORKER? BY NANNETTE
RICHFORD...................................................................................... 113
HTTP://WWW.EHOW.COM/ABOUT_4612056_WHAT-SCHOOLSOCIAL-WORKER.HTML...........................................................113
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CTXH
Công tác xã hội
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ĐH KHXH & NV
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.3. Các hình thức hỗ trợ cho học sinh bị bạo lực học đường...............90
Bảng 2.4. Thời gian làm công tác kiêm nhiệm của nhân viên CTXH .........100
Bảng 2.5. Giải pháp nâng cao vai trò của nhân viên CTXH trong hỗ trợ học
sinh bị bạo lực học đường.............................................................................103
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Tháp nhu cầu của Maslow..................................................................
DANH MỤC BIỂU
Biểu 1. Hành động của học sinh khi chứng kiến bạo lực học đường..............
Biểu đồ 2. Hình thức bạo lực của học sinh......................................................
Biểu 3. Các hoạt động phòng ngừa bạo lực học đường..................................
Biểu 4. Đánh giá của nhân viên CTXH về hình thức hỗ trợ HS bị bạo lực học
đường...............................................................................................................
4
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tình trạng bạo lực trong học đường đang
diễn ra mạnh mẽ và có chiều hướng gia tăng cả về số lượng, hình thức, tính
chất. Theo thống kê trên thế giới, mỗi năm có 6 triệu em trai và 4 triệu em gái
có liên quan trực tiếp đến bạo lực học đường. Trên thực tế, con số này đang
ngày càng tăng lên và bạo hành trường học đang dần trở thành vấn đề chung
của giáo dục quốc tế.
Ở Việt Nam theo số liệu được đưa ra tại "Hội thảo giải pháp phòng
ngừa từ xa và ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau" do Bộ Giáo dục và
Đào tạo tổ chức ngày 28/07/2010 thì trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến
động trong cả nước. Hiện nay trên địa bàn tỉnh nói chung và thị xã Phúc Yên
nói riêng, ngành giáo dục cũng đang đối mặt với vấn đề liên quan đến bạo lực
trong học đường. Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần có những biện pháp để phòng
ngừa, ngăn chặn và giải quyết vấn nạn này. Trong đó công tác xã hội học
đường được xem là một trong những biện pháp can thiệp hữu hiệu, cần được
đưa vào trường học và đẩy mạnh thực hiện. Thông qua hoạt động trợ giúp của
nhân viên công tác xã hội học đường sẽ giúp cho các học sinh phòng ngừa, và
ngăn chặn bạo lực trong trường học, tiến tới xây dựng môi trường học tập lành
mạnh, an toàn, thân thiện. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, chưa có các
nghiên cứu đề cập đến vai trò của các nhân viên CTXH trong hỗ trợ học sinh
bị bạo lực học đường, đặc biệt là trên địa bàn thị xã Phúc Yên- tỉnh Vĩnh
Phúc. Những vấn đề trên đã gợi mở trong tôi hướng nghiên cứu đề tài“ Vai
trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ học sinh bị bạo lực học
đường” ( Nghiên cứu trường hợp tại thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.)
6
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Nghiên cứu bạo lực học đường trên thế giới
Bạo lực học đường là một vấn nạn chung, xảy ra ở hầu khắp các quốc
gia trên thế giới. Đây cũng là chủ đề mà nhiều nước trên thế giới đang nghiên
cứu để ngăn chặn.
* Nghiên cứu về thực trạng bạo lực học đường:
Năm 2012 một cuộc khảo sát trên quy mô lớn của Trung tâm kiểm soát
và phòng ngừa bệnh tật (CDC) tại Mỹ có tên “ Hiểu biết về bạo lực học
đường” (Underdtanding school vilolence). Nghiên cứu đã đưa ra những con số
thống kê về tình trạng môi trường học đường với những hành vi đe dọa, hành
vi bạo lực gây tử vong và không gây tử vong. Cụ thể có 5.9% học sinh mang
theo một loại vũ khí (như súng, dao) vào trường học trong 30 ngày trước thời
nạt, hoặc cả hai. Tác giả cho rằng: sự phổ biến của hành vi bắt nạt thường
xuyên ở trẻ em trường tiểu học là rất đáng kể. Mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt
và các vấn đề trong trường học cho thấy đây là một vấn đề nghiêm trọng đối
với các trường tiểu học nơi đây.[8]
“Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở học sinh trung học Nam Phi”
là tên một đề tài nghiên cứu về bạo lực học đường được Liang H ( Cục trẻ em
và vị thành niên tâm thần, Viện Tâm Thần, Vương quốc Anh) và cộng sự
được tiến hành nghiên cứu ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi năm
2007. Nghiên cứu nhằm kiểm tra tỉ lệ của hành vi bắt nạt của 5074 học sinh vị
thành niên đang học lớp 8 (tuổi trung bình 14.2 năm) và lớp 11 (tuổi trung
bình 17.4 tuổi) ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi và làm rõ mối
liên quan giữa những hành vi này với mức độ bạo lực và các hành vi nguy
hiểm ở thanh thiếu niên. Kết quả cho thấy: tham gia vào hành vi bắt nạt là một
vấn đề phổ biến đối với trẻ em Nam Phi. Hành vi bắt nạt có thể được coi như
một chỉ báo về các hành vi bạo lực, chống đối xã hội. [13]
8
* Nghiên cứu về các hình thức của biểu hiện bạo lực học đường:
Công trình nghiên cứu của Wang.J ( Viện Y tế quốc gia, Bethesda,
Maryland 20892, Hoa Kỳ) và cộng sự năm 2009 được tiến hành tại Mỹ với đề
tài: “Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ: thể chất, bằng lời
nói, quan hệ, và trên Internet” đã nghiên cứu 4 hình thức trong hành vi bắt nạt
trường học ở nhóm thanh thiếu niên Mỹ và mối liên quan với các đặc điểm về
mặt nhân học xã hội, hỗ trợ của cha mẹ và bạn bè. Qua nghiên cứu cho thấy tỉ
lệ tương ứng của việc bắt nạt người khác và bị bắt nạt ở trường ít nhất 1 lần
trong 2 tháng qua là 20.8% về mặt vật chất, 53.6% về lời nói, 51.4% về mặt
xã hội, hoặc 13.6% bằng điện tử. Các học sinh nam thường liên quan đến các
hành vi bắt nạt về thể chất hoặc bằng lời nói, trong khi các nữ sinh lại có nguy
cơ liên quan đến việc bắt nạt dựa trên các mối quan hệ. Những người Mỹ gốc
tâm lý xã hội dẫn đến hành vi bạo lực học đường giữa học sinh với học sinh.
Các nguyên nhân cụ thể được đưa ra là do: quan hệ giữa cha mẹ và con cái
trong gia đình; sự khao khát khẳng định cái tôi của trẻ và ảnh hưởng của văn
hóa và phương tiện truyền thồng. Nghiên cứu cũng đưa ra một số biện pháp
nhằm hạn chế tình trạng bạo lực học đường. Song theo ông, đứng trước những
hành vi bạo lực của trẻ, cha mẹ, thầy cô nên có thái độ bình tĩnh, ân cần chỉ
bảo cho các em để các em dần dần nhận ra sự không đúng đắn và từ bỏ nó. Sự
quát tháo, đánh đập, nhiếc móc hoặc trừng phạt chỉ làm tăng thêm những hành
vi đó ở trẻ. Giải pháp tận gốc của vấn đề là trẻ phải tự nhận ra và từ bỏ hành vi
đó một cách tự nguyện.[16]
Đề tài “ Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại trường trung học
cơ sở Lê Lai- Quận 8- Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009” do Lê Thị Hồng
Thắm, Tô Gia Kiên thực hiện. Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương
pháp nghiên cứu định lượng (điều tra bằng bảng hỏi, áp dụng phương pháp
chọn mẫu đa dạng và đồng nhất với mục đích kiểm tra chéo các thông tin của
10
các đối tượng cung cấp; nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo
luận nhóm. Kết quả cho thấy: các em học sinh có hành vi bạo lực luôn muốn
chứng tỏ mình. Ba mẹ các em thường la rầy, đánh đập mỗi khi các em sai
phạm và ba mẹ có thái độ xúi giục các em thực hiện hành vi bạo lực khi bị
người khác xúc phạm, anh chị thì không quan tâm đúng cách đến các em. Nhà
trường chưa tổ chức được chương trình phòng chống bạo lực học đường và
không đồng nhất trong cách xử lý các hành vi sai phạm của các em, đôi khi
nhà trường còn dùng hành vi bạo lực đối với các em. Khi gặp thầy cô, đôi khi
các em không chào vì một số nguyên nhân nào đó. Kết luận về nguyên nhân
dẫn đến bạo lực học đường tại trường trung học cơ sở Lê Lai- Quận 8- Thành
phố Hồ Chí Minh là do các em thực hiện hành vi bạo lực luôn muốn chứng tỏ
mình. Anh chị quan tâm đến em mình không đúng cách, phụ huynh và nhà
nhau cho rằng bạo lực giữa nữ sinh là “bình thường” (57,3%) và “chấp nhận
được” (39,6%). Với câu hỏi “Khi đánh nhau với học sinh khác, bạn thường
dùng hình thức nào là chủ yếu?”, kết quả thu được cho thấy có từ 41% đến
59,5% “đánh một mình” và 47,7% đến 52% “đánh tập thể”. Điều này cho
thấy, bạo lực học đường không chỉ là chuyện của mỗi học sinh, mà có tính
chất lây lan theo nhóm bạn. Về phương tiện sử dụng khi đánh nhau, 33%
không sử dụng phương tiện nào, đây là những em khi đánh nhau thường dùng
các “chiêu thức võ công” như túm tóc, cào cấu, xé áo... Việc sử dụng “võ
mồm” kết hợp với tay chân tuy không gây nên những thương tích nghiêm
trọng về thể chất nhưng lại gây nên những tổn thương về tâm lý, tinh thần đối
với nạn nhân khi bị chửi rủa hết sức tục tĩu, hoặc bị xé tung áo giữa đám đông.
Dụng công cụ sử dụng khi đánh nhau là 28% sử dụng dép, guốc; 8% sử dụng
gậy gộc, 4% dùng gạch đá, và 0,7% dùng dao lam, ống tuyp nước. Những
phương tiện này, tùy mức độ mà có thể gây nên thương tích, thậm chí gây nên
tàn phế hoặc cướp đi mạng sống của bạn học.
12
Về nguyên nhân đánh nhau giữa các bạn nữ, khảo sát cho thấy có
những lý do rất đơn giản nhưng cũng là cơ sở để các em đụng tay đụng chân,
như thấy ghét thì đánh (24%), bạn dám nhìn đểu (16%), trả thù tình (13,3%).
Đáng lo ngại là có những lý do không thể hình dung được, ví dụ người khác
nhờ đánh (20%) và chả có lý do gì cũng đánh (12%). Điều này cho thấy, bạo
lực học đường không chỉ là chuyện của mỗi học sinh, mà có tính chất lây lan
theo nhóm bạn, cũng có nghĩa rằng, đa số học sinh coi chuyện đánh nhau bình
thường. Thậm chí, nhiều em còn đứng ngoài xem và cổ vũ đánh nhau, như là
cổ vũ bóng đá. [10]
Một nghiên cứu khác là: “Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ
thông” của Trần Thị Minh Đức, tác giả đề cập về bạo lực học đường hay gây
hấn học đường dưới góc độ Tâm lý học. Nghiên cứu này cũng áp dụng các
trạng, đề tài đã đề xuất được 4 nhóm giải pháp ngăn ngừa hành vi bạo lực ở
học sinh THPT gồm: Nhóm giải pháp từ phía nhà trường (10 giải pháp); nhóm
giải pháp từ gia đình (2 giải pháp); nhóm giải pháp từ xã hội (5 giải pháp);
nhóm giải pháp từ bản thân học sinh (5 giải pháp). Các giải pháp đưa ra cũng
được trưng cầu lấy ý kiến về sự cần thiết và tính khả thi của từng giải pháp
nhằm khẳng định tính hiệu quả của chúng.
Nhìn chung trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề bạo lực học đường, nhất là về bạo lực giữa các học sinh tại các
trường phổ thông. Những nghiên cứu đã thống kê về thực trạng bạo lực bằng
những số liệu cụ thể, mô tả hiện trạng về tính chất hoặc hành vi bạo lực học
đường, xem xét nguyên nhân, hậu quả và cách thức can thiệp. Trong đó công
tác xã hội mà chủ thể là người nhân viên công tác xã hội đóng vai trò quan
trọng trong hỗ trợ giải quyết nạn bạo lực học đường. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của người nhân viên công tác xã
hội trong hỗ trợ học sinh bị bạo lực học đường, nhất là trên địa bàn thị xã
14
Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc. Do đó nghiên cứu “ Vai trò của nhân viên công
tác xã hội trong hỗ trợ học sinh bị bạo lực học đường” là vấn đề mới, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, mang đến cái nhìn cụ thể về vai trò của
người nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực học đường hiện nay.
3.1. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
3.1.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài được tiến hành trên cơ sở tổng hợp các khái niệm, lý thuyết liên
quan đến vấn đề bạo lực học đường, chỉ ra các vai trò của nhân viên công tác
xã hội trong hỗ trợ học sinh bị bạo lực học đường. Kết quả nghiên cứu sẽ làm
sáng tỏ các lý thuyết trong công tác xã hội, xã hội học, tâm lý học như: lý
thuyết mâu thuẫn, nhận thức hành vi, lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết
vai trò… Qua đó bổ sung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận về vai trò
Bạo lực học đường được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như:
bạo lực về tinh thần, thể chất, lời nói… Bạo lực học đường không chỉ là học
sinh trong và ngoài trường đánh nhau mà còn có học sinh bạo lực với giáo
viên hoặc ngược lại. Song trong điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi chủ yếu
tập trung nghiên cứu về bạo lực giữa học sinh với nhau trong trường học.
- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu bắt đầu từ tháng 11/2012 đến tháng
11/2013
- Không gian nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện tại 2 trường THCS Lê
Hồng Phong và THPT Bến Tre thuộc thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc.
6. 1. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Tình trạng bạo lực học đường tại các trường Phổ thông trên địa bàn thị xã
Phúc Yên – tĩnh Vĩnh Phúc hiện nay đang diễn ra như thế nào? Nguyên nhân
của tình trạng này là do dâu?
16
- Nhân viên công tác xã hội trong trường Phổ thông trên địa bàn thị xã Phúc
Yên - tỉnh Vĩnh Phúc đã thể hiện vai trò của mình như thế nào trong hoạt động
hỗ trợ học sinh bị bạo lực học đường?
- Cần phải làm gì để nhân viên Công tác xã hội học đường nâng cao hơn nữa
vai trò của mình trong hỗ trợ học sinh bị bạo lực học đường?
6.1.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Bạo lực học đường tại các trường Phổ thông trên địa bàn nghiên cứu diễn ra
mạnh mẽ, với nhiều hình thức và mức độ gia tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do
sự thiếu quan tâm của gia đình.
- Nhân viên Công tác xã hội học đường đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ
học sinh bị bạo lực học đường như: tư vấn – tham vấn tâm lý, can thiệp ngăn
ngừa hành vi bạo lực… song các hoạt động nay chưa đạt hiệu quả cao.
- Văn bản pháp lý: Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1990,
Quyết định số 1305/QĐ-LĐTBXH ngày 22/10/2010 của Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội về Quyết định phê duyệt Kế hoạch tổng thể thực hiện
Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2015, Quyết định số
32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Đề án " Phát triển nghề công tác xã hội”, Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT
ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc
phát động phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013, Công văn số
1241/BGDĐT- CTHSSV ngày 12/03/2010 về việc ngăn chặn tình trạng vi
phạm pháp luật, bạo lực học đường...
- Chương trình: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 20012010 và 2011- 2015
18
- Báo cáo: Báo cáo kết quả giám sát Việc thực hiện chính sách, pháp luật
phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em giai đoạn 2008-2010 của Ủy ban Văn
hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Ngoài ra còn tìm đọc tham khảo các tài liệu, tạp chí sách báo liên quan
đến những lý tưởng, nội dung phù hợp với nghiên cứu của mình hoặc trích
đẫn khi cần thiết.
8.1.2. Phương pháp trưng cầu ý kiến
Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài.
- Dung lượng mẫu: 250 người. Trong đó bao gồm: 200 học sinh và 50 giáo
viên ( Nhân viên CTXH )
Tổng số phiếu phát ra là 250 phiếu, thu về 201 phiếu, trong đó có 181
phiếu hợp lệ ( loại bỏ 69 phiếu do trả lời không đúng hoặc không thu hồi
được). Trong 181 phiếu này có 151 phiếu của học sinh và 30 phiếu của giáo
viên.
70
10
44.4
55.6
100
11.9
35.1
46.4
6.6
Tổng
151
100
+ Đối với cán bộ giáo viên làm công tác xã hội học đường ( gọi chung là Nhân
viên công tác xã hội học đường)
* Về thời gian đảm nhận hoạt động CTXH trong trường học: ( đơn vị: %)
Nữ
Tổng
Trung cấp
Trình độ học Cao đẳng/Đại học
Trên Đại học
vấn
Tổng
Từ 20- 30
Từ 31- 40
Tuổi
Từ 41- 50
Từ 51- 60
Tổng
8.1.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
10
20
30
0
21
9
30
9
11
7
3
30
33,3
66.7
vi bạo lực trong học đường của học sinh trong nhà trường.
21
PHẦN HAI
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. 1. Cơ sở lý luận chung
1.1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1.1. Khái niệm về vai trò
Thuật ngữ vai trò được dùng để xác định thành phần các mô hình văn
hóa gắn liền với một địa vị cụ thể. Nó gồm tâm thế, giá trị hành vi do xã hội
gắn cho bất cứ ai hoặc tất cả những người chiếm địa vị cụ thể. Nó bao gồm
những kỳ vọng được hợp pháp hóa của những người giữ chức vụ đối với hành
vi người khác hướng đến họ. [21].
Theo nhà xã hội học Robertsons “ Vai trò là một tập hợp các chuẩn
mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định”.
1.1.1.2. Khái niệm bạo lực
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về bạo lực như:
“Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp, chống lại lực lượng đối lập hay
lật đổ chính quyền” [6].
“ Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối
với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng
người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại
về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát.” (WHO).
Bạo lực xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như:
do mâu thuẫn giữa hai bên về các lĩnh vực trong cuộc sống không thể hòa giải;
do sự cạnh tranh, ghen ghét, đố kỵ lẫn nhau; do sự tham vọng hay cố chấp của
bao gồm các hành vi bắt nạt, lạm dụng thân thể, lạm dụng bằng lời nói, ẩu
đả, bắn,… Bắt nạt và lạm dụng vật chất là những hình thức phổ biến nhất của
23
bạo lực có liên quan đến bạo lực học đường. Tuy nhiên, trường hợp cực đoan
như bắn và giết người cũng đã được liệt kê như là bạo lực học đường [35].
Mặc dù, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất trong giới
nghiên cứu, tuy nhiên, với những định nghĩa như vậy chúng ta có thể hiểu:
bạo lực học đường là những hành vi cố ý, sử dụng vũ lực hoặc quyền lực của
học sinh hoặc giáo viên đối với những học sinh, giáo viên hoặc những người
khác và ngược lại. Đó có thể là những hành vi bạo lực về thể xác, bạo lực về
tinh thần, bạo lực về tình dục, bạo lực ngôn ngữ, những bắt ép về tài chính
hoặc những hành vi khác có thể gây ra nhưng tổn thương về mặt tinh thần
hoặc thể xác cho người bị hại.
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về bạo lực học
đường xảy ra giữa các học sinh với nhau. Theo đó, bạo lực giữa các học sinh
với nhau là cách ứng xử, giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng nảy sinh trong
học tập, sinh hoạt trong nhà trường giữa các học sinh bằng bạo lực.
Bạo lực học đường thể hiện ở các loại hành vi sau:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi xâm hại đến sức khoẻ tính
mạng, thể xác người khác.
- Hành vi, lời nói lăng mạ, xỉ nhục, xúc phạm danh dự, nhân phẩm làm tổn
thương về mặt tinh thần của con người.
- Xâm hại, cưỡng bức tình dục nơi trường học
- Hành vi chiếm đoạt, huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác.
- Cưỡng ép người khác đóng góp tài chính quá khả năng của họ, kiểm soát
nguồn tài chính của họ.
1.1.1.4. Nhân viên công tác xã hội
* Khái niệm nhân viên công tác xã hội
đào tạo đặc biệt với mục đích làm việc với trẻ em, gia đình, giáo viên và cộng
đồng để cung cấp dịch vụ cần thiết cho trẻ em có thể thành công ở trường. Họ
25