VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỒNG KHÁNH
VAI TRỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TẠM GIỮ TỪ THỰC TIẾN
TỈNH CAO BẰNG
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Thị Lâm Thi
Hà Nội -2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được cơng bố trong
bất cứ cơng trình nào.
Tác giả luận văn
NGUYỄN HOÀNG KHÁNH
TTHS
Tố tụng hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
VKSNDTC
Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao
VKSND/ Viện KSND
Viện kiểm sát nhân dân
THTT
Tiến hành tố tụng
BPNC
Biện pháp ngăn chặn
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
THQCT
phịng ngừa tội phạm. Bên cạnh đó các biện pháp ngăn chặn này còn là
phương tiện pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân khơng
những đối với người bị tạm giữ, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án mà cịn cả đối với người có liên quan
đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo và thân nhân của họ. Việc quy
định và áp dụng một cách đúng đắn, chính xác, các biện pháp ngăn chặn trong
đó có biện pháp tạm giữ là cần thiết cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của luật
tố tụng hình sự nhằm phát hiện và ngăn chặn, xử lý chính xác, nhanh chóng,
kịp thời đối với mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan,
sai người vô tội.
Tại Điều 107 Khoản 1 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát
nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Đảng và
Nhà nước giao thực hiện chức năng này, đây là hai chức năng hiến định mà
khơng có cơ quan nào có được. Để cụ thể hố hai chức năng thực hành quyền
cơng tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp mà pháp luật đã quy định cho Viện
kiểm sát nhân dân những nhiệm vụ và quyền hạn để thực hiện được tốt chức 1
năng, nhiệm vụ của mình mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong đó việc thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến
pháp và pháp luật được thực hiện đúng sẽ góp phần tích cực trong định hướng
q trình xác minh, điều tra tội phạm được chính xác, đảm bảo cho công tác
khởi tố, bắt giam, giữ, thay thế, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn cũng như ra
các quyết định tố tụng tiếp theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xử lý
đúng người, đúng tội, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Do vậy, để thực hiện vai trò của Viện KSND trong kiểm sát hoạt động
tạm giữ có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
cũng như yêu cầu của cơng cuộc đấu tranh phịng, chống tội phạm trong tình
kiểm sát nhân dân đối với công tác bắt, giam giữ, việc bắt giam phải được
xem xét phê chuẩn đối với từng trường hợp, từng đối tượng cụ thể. Đối với
trường hợp bắt giam cũng được hoặc không bắt giam cũng được thì khơng
bắt giam. Sai sót trong việc bắt, giam, giữ ở địa phương nào thì trước hết
Viện kiểm sát nhân dân ở địa phương đó chịu trách nhiệm”.
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị xác định về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới chỉ rõ: Tăng
cường công tác kiểm sát giam, giữ bảo đảm đúng pháp luật, những trường hợp
chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm
giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong việc
bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình.
Viện kiểm sát các cấp có trách nhiệm về những vi phạm trong việc bắt,
tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền của mình dẫn đến oan, sai.
Nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp
khi thi hành công vụ cũng như nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của những người bị tạm giữ, tạm giam, Ủy ban thường vụ cũng đã ban hành
Nghị quyết số: 388/2003/NQ-UBTVQH 11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc bồi thường thiệ hại cho người bị oan do người có
thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Bộ luật Tố tụng hình sự 3
năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ,
trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tham
gia tố tụng thống nhất để giải quyết đúng và hiệu quả các vụ án, tránh hạn chế
được các oan, sai đáng tiếc trong việc tạm giữ, tạm giam.
Những năm gần đây, trước tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
diễn biến ngày càng phức tạp cả về số lượng, quy mơ, tính chất, mức độ, cơng
cụ, phương tiện và thủ đoạn, theo đó việc tạm giữ người “đối tượng” nghi
phạm tội ngày càng tăng về số lượng. Do vậy, công tác kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân ngày càng đóng vai
kiểm sát tạm giữ.
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu thực trạng vai trị của Viện KSND
trong cơng tác kiểm sát tạm giữ để từ đó xác định được nguyên nhân của
những hạn chế, tồn tại, đề ra các giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao vai
trị của Viện KSND trong kiểm sát tạm giữ, từ đó đảm bảo chất lượng công
tác kiểm sát tạm giữ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ.
Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: "Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong kiểm sát hoạt động tạm giữ từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng" làm đề tài
luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp của ngành kiểm sát nhân dân, trong đó kiểm sát việc áp dụng
biện pháp tạm giữ là một trong những mục đích quan trọng của cơng cuộc cải
cách tư pháp nói chung, đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân nói riêng. Bởi vậy vấn đề này đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của
giới chuyên môn nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn trong và ngồi
ngành kiểm sát. Nổi bật trong số đó là các cơng trình nghiên cứu sau đây:
-
Nguyễn Huy Hồng,“Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư
pháp của Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sỹ luật.
-
Nguyễn Tiến Đạt, “Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ,
tạm giam”, Báo điện tử của trường Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh (Truy
cập thứ bảy, ngày 21/03/2020).
-
phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như bảo
đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong
giai đoạn hiện nay theo quan điểm của tôi là thật sự có ý nghĩa cấp thiết, sâu
sắc cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Là cán bộ đang công tác tại một Cơ
quan bảo vệ pháp luật ở tỉnh Cao Bằng, tôi mong muốn được đem những kiến
thức đã học tập, nghiên cứu của mình nhất là qua việc thực hiện đề tài này
góp phần giải quyết một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra
cho tỉnh nhà.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
-
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng trong kiểm sát hoạt động tạm giữ.
-
Nhiệm vụ của luận văn: Luận văn có nhiệm vụ phân tích cơ sở lý luận,
quy định của pháp luật trong kiểm sát tạm giữ, nghiên cứu thực tiễn kiểm sát
hoạt động tạm giữ trên địa bàn tồn tỉnh Cao Bằng từ đó đề xuất một số giải
pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát hoạt
động tạm giữ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
-
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận về kiểm sát hoạt động tạm giữ trong
TTHS và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
-
pháp tạm giữ có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc; việc phân tích lý
luận, pháp luật về biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ và thực tiễn áp dụng sẽ
rút ra những kết luận hữu ích, giúp giải quyết những tồn tại, vướng mắc trong
thực tiễn. Viện kiểm sát là chủ thể rất quan trọng trong việc kiểm sát các hoạt
động tố tụng nói chung và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ nói
riêng. Các giải pháp mà luận văn đề xuất sẽ góp phần cho việc kiểm sát việc
áp dụng biện pháp tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam, cũng như kiểm sát
việc áp dụng biện pháp tạm giữ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng
được thực hiện tốt hơn, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
chống oan sai, bỏ lọt tội phạm. Vì vậy, luận văn có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo cho những người đang học tập và làm việc trong lĩnh vực này.
7. Cơ cấu của luận văn.
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số lý luận chung về vai trò của Viện KSND trong kiểm
sát hoạt động tạm giữ.
Chương 2: Đặc điểm tỉnh hình có liên quan và thực trang kiểm sát hoạt
động tạm giữ của Viện KSND tỉnh Cao Bằng.
8
Chương 3: Một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Viện
KSND tỉnh Cao Bằng trong kiểm sát hoạt động tạm giữ.
9
Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
Khái niệm này đã chỉ ra được đối tượng bị giam giữ theo tinh thần của
Bộ luật TTHS năm 2015 nhưng lại chưa đưa ra được mục đích của việc tạm
giữ.
Theo Từ điển luật học năm 2006 thì khái niệm tạm giữ được định nghĩa
như sau: “Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt
trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội
trong thời gian cần thiết, cần ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở
đến việc điều tra, xác định sự liên quan của người này đối với việc phạm tội
của họ”2
Khái quát lại, tác giả cho rằng: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong
TTHS do cơ quan và người có thẩm quyền theo luật định áp dụng với người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội
quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định
truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc điều tra và kịp thời
xử lý tội phạm.
Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định rất nhiều biện pháp cưỡng chế khác
nhau giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình. Trong số các biện pháp cưỡng chế theo quy định Bộ luật TTHS,
biện pháp ngăn chặn là biện pháp rất quan trọng. Tạm giữ là một trong những
biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan điều tra và các cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng để ngăn chặn
hành vi tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, thông cung hoặc cản trở điều tra, tạo điều
kiện cho cơ quan điều tra có thẩm quyền có đủ thì giờ thu thập tài liệu, chứng
cứ, bước đầu xác định hành vi phạm tội và lí lịch, nhân than của người phạm
tội cũng như các tình tiết khác liên quan đến vụ án làm căn cứ ra các quyết
định tố tụng khác như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh tạm giam hoặc trả
tự do cho người bị tạm giữ, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.
11
Thẩm quyền áp dụng: Người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ
gồm:
+
Thủ trưởng, các Phó Thủ trưởng của Cơ quan điều tra các cấp;
+
Đồn trưởng các Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa
khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố tực thuộc Trung
ương; Cục trưởng Cục trinh sát biên phịng của Bộ đội biên phịng; Đồn
trưởng Đồn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm của Bộ đội biên
phòng; Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng;
Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển; Cục trưởng của Cục Nghiệp vụ và
pháp luật thuộc lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Đồn trưởng Đồn đặc
nhiệm phịng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng
Chi cục Kiểm ngư vùng; Thủ trưởng của các đơn vị độc lập cấp trung đoàn và
cấp tương đương.
12
+ Chỉ huy trưởng tàu bay, tàu biển khi đã rời khỏi địa phận sân bay hoặc bến
cảng.
Theo quy định của Bộ luật TTHS nhìn chung thì cơ quan điều tra từ cấp
huyện trở lên mới có quyền ra quyết định tạm giữ. Chính quyền và cơng an
cấp xã, phường, thị trấn khơng có quyền tạm giữ theo thủ tục tố tụng. Vì vậy,
khi nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy
nã, ủy ban nhân dân xã, phường hoặc thị trấn cần phải tiến hành lập biên bản
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và cơ quan đã ra
13
quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Viện KSND ra
quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ trong những trường hợp: Người bị
tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp
phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, và không phải là người đầu thú, tự
thú; Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỏ, tính chất nguy hiểm cho
xã hội khơng đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự;
Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm
tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng và
khơng có biểu hiện sẽ trốn hay cản trở việc điều tra.
Viện KSND phê chuẩn quyết định tạm giữ hoặc ra quyết định hủy bỏ
quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền. Nếu quyết định tạm giữ được
phê chuẩn thì giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ và người có
nhiệm vụ thi hành quyết định. Nếu Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết
định tạm giữ thì cơ quan đang tạm giữ tiến hành trả tự do ngay cho người
đang bị tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ: Tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự sẽ được áp dụng
dựa trên quy định tại Điều 118 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau:
Khơng q thời gian ba ngày kể từ thời điểm Cơ quan điều tra ra quyết
định tạm giữ đối với người ra tự thú, đầu thú; từ thời điểm Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận
người bị giữ, người bị bắt tại trụ sở của mình từ người khác, cơ quan khác
hoặc áp giải người bị giữ, bị bắt về trụ sở của mình.
Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn
tạm giữ, thời hạn gia hạn theo quy định không quá 03 ngày. Trường hợp đặc
biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng
cũng không được quá 03 ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ cần phải được
“1. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp ...”
Theo đó, Viện KSND có hai chức năng cơ bản: thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong đó, kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt
động của Viện KSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định
của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay
từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
15
và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; ngồi ra kiểm sát hoạt động
tư pháp cịn xuất hiện trong việc giải quyết vụ án hành chính, các vụ việc dân
sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án
hình sự, thi hành án dân sự, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động
tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 6 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014, Viện
KSND thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau
đây:
-
Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến
nghị khởi tố;
-
Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
-
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai
Từ quy định trên cho thấy, hoạt động kiểm sát tạm giữ là một trong các
nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp.
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo
đảm:
-
Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân
16
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác
được thực hiện đúng quy định của pháp luật;
-
Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt từ, chế độ tạm giữ, tạm
giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của
pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị
bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt từ không bị luật hạn chế phải
được tơn trọng và bảo vệ;
-
Bản án, quyết định của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi
hành nghiêm chỉnh;
-
Phạm vi của kiểm sát hoạt động tạm giữ bắt đầu từ khi có việc đưa
người bị tạm giữ vào cơ sở giam giữ và kết thúc khi chấm dứt việc tạm giữ.
Cơng tác này vừa mang tính thường xun vừa mang tính bất thường, trong
q trình tạm giữ Viện KSND có thể tiến hành kiểm sát thường kỳ theo kế
hoạch, kiểm sát bất thường nếu xét thấy cần thiết để đảm bảo việc phát hiện,
khắc phục kịp thời những vi phạm, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ.
-
Mục đích của kiểm sát hoạt động tạm giữ: nhằm đảm bảo việc tạm giữ,
chế độ tạm giữ theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị tạm giữ được tôn trọng và được
bảo vệ; Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tạm giữ phải được phát hiện,
xử lý kịp thời, nghiêm minh.
Có thể nói, cơng tác tạm giữ là một trong những nhiệm vụ quan trọng
trong hoạt động tư pháp, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự được diễn ra thuận lợi theo trình tự thủ tục tố tụng hình sự.
Trong đó, tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật TTHS,
việc áp dụng biện pháp tạm giữ mục đích để ngăn chặn khả năng gây khó
khăn cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng từ phía bị can; ngăn
chặn khả năng tiếp tục phạm tội của bị can. Với chức năng thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt tư pháp theo quy định của Luật tổ chức Viện KSND
năm 2014, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam; Quy chế, Chỉ thị và văn bản có
liên quan khác. Viện kiểm sát phải thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tạm
giữ, bảo đảm thực hiện đúng theo quy định của pháp luật; bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tạm giữ, kịp thời phát hiện những thiếu sót vi phạm
để ban hành kiến nghị, kháng nghị nhằm đảm bảo pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh và thống nhất.
trước mà đã bị Viện KSND kháng nghị yêu cầu sửa chữa, đánh giá kết quả
sửa chữa vi phạm của Trưởng nhà tạm giữ. Đối với nhà tạm giữ, KSV phải
kiểm sát việc tạm giữ hàng ngày; kiểm sát từng mặt 3 tháng 01 lần, kiểm tra
trực tiếp toàn diện 6 tháng 01 lần về việc tạm giữ và có kết luận bằng văn bản.
Để có thể thực hiện được yêu cầu của công tác kiểm sát việc tạm giữ theo
đúng quy định của pháp luật, trong khi tiến hành công tác kiểm sát thường kỳ và
19