khóa luận tốt nghiệp dịch bệnh truyền nhiễm thường gặp trên lợn - Pdf 70

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành nông nghiệp của nước ta đã có từ rất lâu đời và hiện nay với
khoảng 70%dân số làm nghề nông nghiệp. Dưới sự lãnh đạo của đảng và
nhà nước cùng với đường lối đúng đắn đã đưa ngành nông nghiệp nước ta từ
chổ khủng hoảng, không đáp ứng được nhu cầu trong nước. Đến nay ngành
nông nghiệp đã cung cấp một lượng sản phẩm khá dồi dào và đa dạng. Hơn
nữa đã có nhiều bước tiến nhảy vọt trên 2 phương diện chất và lượng. Đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, ngoài ra mỗi năm còn xuất khẩu được hàng
triệu tấn lương thực. Năm 2006 Việt Nam đã đứng đầu thế giới về sản lượng
gạo xuất khẩu và đã thu về một lượng ngoại tệ không nhỏ cho ngân sách nhà
nước. Trong điều kiện nước ta bình ổn về lương thực đây là cơ sở để phát
triển ngành chăn nuôi, đăc biệt là chăn nuôi lợn. Theo tổ chức Nông Lương
thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi lợn đứng thứ 7 thế giới, đứng thứ 2
châu Á và đứng đầu Đông Nam Á.
Mang nhiều đặc điểm chung của nước ta huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, đất đai màu mở phì
nhiêu thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Ban lãnh đạo huyện đã đề ra
những kế hoạch phát triển bền vững cho ngành chăn nuôi, trong đó có chăn
nuôi lợn. Nhằm tạo ra nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp
nguyên liệu cho một số ngành, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải
thiện được đời sống cho nhân dân trong huyện. Từng bước áp dụng những
tiến bộ khoa học kỷ thuật ngay từ khâu cải tạo giống, công tác thú y và nâng
cao chất lượng thức ăn hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bên cạnh thuận lợi, ngành chăn nuôi lợn còn gặp không ít khó khăn.
Trình độ dân trí còn hạn chế trong việc áp dụng những thành tựu khoa hoc
1
kỷ thuật vào quy trình chăn nuôi. Đang tồn tại những phương thức chăn nuôi
nhỏ lẻ, phân tán. Người chăn nuôi và cán bộ kỷ thuật cơ sở chưa được trang
bị đầy đủ những kiến thức về thú y bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng của

ra trong một vùng nhất định hay phát tán cả một vùng rộng lớn hoặc có
chiều hướng lây lan mang tính chất lãnh thổ. Mỗi quốc gia khác nhau thì quá
trình sinh dịch xảy ra khác nhau. Đây được coi là đặc điểm của bệnh truyền
nhiễm mà các bệnh khác không có.
Nguyên lý: Dịch bệnh muốn phát sinh cần phải có đầy đủ 3 yếu tố.
Nguồn bệnh - Các nhân tố trung gian truyền bệnh - Động vật cảm thụ. Đây
là 3 khâu của quá trình sinh dịch, chỉ cần cát bỏ 1 trong 3 khâu thì dịch bệnh
không thể phát sinh.

Hình 2.1. Qúa trình truyền lây dịch bệnh
2.1.1. Nguồn bệnh
Nguồn bệnh chính là khâu đầu tiên và chủ yếu của quá trình sinh dịch.
Là nơi mầm bệnh có thể cư trú thuận lợi, sinh sôi nảy nở và từ đó trong
NGUỒN BỆNH ĐỘNG VẬT CẢM THỤ
NHÂN TỐ TRUYỀN LÂY
Mầm bệnh
Dịch bệnh
Mầm bệnh
Mầm bệnh
3
những điều kiện nhất định sẻ xâm nhập vào động vật cảm thụ bằng cách này
hay cách khác để gây bệnh. Có nhiều loại nguồn bệnh như: Động vật đang
mắc bệnh, động vật mang trùng, nguồn bệnh là người hay gia súc và nguồn
dịch tự nhiên. Trong đó động vật mang trùng là nguồn bệnh cực kỳ nguy
hiểm chúng thường làm lây lan dịch bệnh hơn cả động vật ốm. Ở một số
bệnh truyền nhiễm, động vật mang trùng có tác dụng quyết định làm cho
dịch phát sinh. Các bệnh như; Dịch tả lợn, phó thương hàn, tụ huyết trùng, lỡ
mồm long móng…Là các bệnh thường phát sinh từ động vật mang trùng.
2.1.2. Nhân tố trung gian truyền bệnh
Nhân tố trung gian truyền bệnh là khâu thứ 2 của quá trình sinh dịch, có

xâm nhiễm vào nhân tế bào. Kết hợp với ngoại độc tố làm cho thành tế bào
giãn nở. Do vậy khi xâm nhập vào cơ thể vật chủ vi khuẩn chỉ tiếp cận và áp
sát vào thành tế bào. Chính vì vậy đa số các loại kháng sinh đều có khả năng
tiêu diệt được vi khuẩn.
Có thể nuôi cấy vi khuẩn trong các môi trường nhân tạo và quan sát
được hình thái của chúng dưới kính hiển vi quang học thông thường. Một số
có khả năng tiết kháng sinh hoặc gây bệnh cho người và động vật bằng các
cơ chế lý hoá hay bằng nội, ngoaị độc tố của chính vi khuẩn đó.
2.2.1.1. Ngoại độc tố
Khi vi khuẩn gây bệnh còn sống và hoạt động được. Nó tiết ra môi
trường xung quanh ngoại độc tố được tính từ khi nó xâm nhập vào cơ thể vật
chủ tại điểm xâm nhập đầu tiên. Ngoại độc tố có nhiệm vụ chống lại sự thực
bào và dịch tiết của cơ thể hoặc chống lại hệ thống đáp ứng miễn dịch đặc
5
hiệu và không đặc hiệu của cơ thể vật chủ. Nhằm mục đích mở đường cho vi
khuẩn tiến sâu vào các cơ quan nội tạng để ký sinh và gây bệnh cho vật chủ.
Ngoại độc tố rất độc, tác dụng rất nhanh và thường có đặc tính hướng thần
kinh như ngoại độc tố vi khuẩn uốn ván.
2.2.1.2. Nội độc tố
Là sản phẩm của nhiều loại vi khuẩn, chủ yếu là vi khuẩn gram âm (Lê
Văn Lãnh và Chu Thị Thanh Hương, 2008)[]). Được sinh ra trong nội bào và
chỉ được giải phóng khi tế bào vi khuẩn bị phá huỷ, nội độc tố có tác dụng
đầu độc cơ thể ký chủ với các triệu chứng ủ rủ, sốt, bỏ ăn, gây còm…Như
nội độc tố của vi khuẩn phó thương hàn. Nội độc tố của vi khuẩn chỉ xuất
hiện khi vi khuẩn đã chết, không độc bằng ngoại độc tố nhưng bền vững và
chịu nhiệt cao hơn ngoại độc tố.
2.2.1.3. Tác động bằng cơ chế lý - hoá
Vi khuẩn thích ứng một cách nhanh chống với các phản ứng lý, hoá học
trong các mô bào của cơ thể có lợi cho nó, từ đó nó phân tán ra khắp các cơ
quan phủ tạng theo con đường lâm ba. Sau đó nhanh chóng tràn vào hệ tuần

lệ chết rất cao đặc biệt khi bệnh đã ghép với các bệnh phó thương hàn, tụ
huyết trùng. Các chủng của virus dịch tả lợn có cấu trúc kháng nguyên đồng
nhất nên phòng bệnh rất hiệu quả nếu tiêm vacxin.
2.3.1.2. Nguyên nhân
Bệnh dịch tả lợn do virus thuộc họ Flavirideae, giống Pestisvirus gây
ra. Dựa vào độc tính của virus, người ta tạm chia chúng thành hai nhóm:
Nhóm cường độc gây bệnh cấp tính và nhóm có độc lực thấp gây bệnh ở
thể mạn tính. Độc lực của virus dịch tả lợn thường không ổn định hay nảy
sinh các biến chủng gây khó khăn cho công tác phòng chống bệnh (Nguyễn
7
Như Thành, 2001,[]). Virus thường xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu
hoá, niêm mặc mắt, mũi và qua da do tiếp xúc với lợn bệnh hoặc có thể lây
gián qua các nhân tố trung gian bị nhiễm virus dịch tả lợn. Sự lây truyền
qua bào thai cũng xảy ra nhất là những chủng có độc lực thấp (Bùi Quang
Anh, 2001)[1]. Virus gây bệnh với các hiện tượng bại huyết, tụ máu, xuất
huyết hoại tử và loét ở nhiều cơ quan phủ tạng (chấm đỏ) đều được thể hiện
trên cơ thể của lợn.
2.3.1.3. Triệu chứng
Thời gian nung bệnh 3 – 4 ngày hoặc hơn.
Thể này thường hay gặp ở nước ta: Con vật ốm, ủ rủ, buồn bả, lười ăn
hoặc bỏ ăn thích nằm ở góc chuồng và cả đàn nằm chồng lên nhau thành
đống. Từ 2 - 3 ngày sau lợn sốt cao từ 41 - 42
0
C và biểu hiện nôn mửa, khát
nước, táo bón ỉa phân thành cục tròn, đen, có màng nhầy bao bọc bên ngoài
như viên bi rất cứng thường kéo dài từ 4 - 5 ngày. Sau đó thân nhiệt giảm
xuống kèm theo hiện tượng ỉa chảy. Càng về cuối phân có nhiều nước xanh
đen lẫn cục máu, vệt xám có màng nhầy trắng xám tạo nên mùi hôi tanh
khắm khó chịu. Ở chổ da mỏng nhất là bên trong đùi, 4 chân, mõm, tai xuất
hiện những nốt xuất huyết đỏ bằng đầu đinh ghim trông giống như vết muỗi

những điểm hoại tử phủ chất bựa nhầy, mụn loét bờ không đều. Niêm mạc
miệng, lợi viêm xuất huyết đôi khi có mụn loét nông hay sâu phủ chất bựa
vàng trắng. Niêm mạc dạ dày đặc biệt phía hạ vị viêm sưng màu đỏ gạch,
xuất huyết phủ chất bựa nhầy. Niêm mạc ruột nhất là vùng van hồi manh
tràng virus phá huỷ các nang Lympho gây hoại tử, hình thành các vết loét
dày, tròn trên có phủ Fibrin tạo ra các vòng tròn đồng tâm trông giống như
hình cúc áo. Niêm mạc trực tràng, hậu môn bị viêm xuất huyết hoại tử và có
các nốt loét màu đỏ gạch.
9
Hạch Lympho viêm sưng, tụ máu đỏ thẩm hoặc tím bầm, xuất huyết
phần vỏ. Khi cát đôi thấy xuất huyết hình vân đá hoa hoặc xuất huyết toàn
bộ. Lách không sưng hoặc ít sưng có hiện tượng nhồi huyết, xuất huyết ở rìa
lách. Do tắc mạch quản ở rìa lách hình thành những khối màu đen hình tam
giác có đáy, đỉnh nhọn quay vào trong. Các tam giác này xếp liền nhau trông
như là hình răng cưa. Ở trong tổ chức lách còn có các đám xuất huyết lồi ra
ngoài, nổi lên từng chổ làm cho bề mặt lách lồi lõm không đều. Thận xuất
huyết ở lớp vỏ thành những chấm đỏ hoặc tím to bằng đầu đinh ghim nằm
rải rác khắp bề mặt. Bổ đôi thận thấy hiện tượng ứ máu hoặc có cục máu ở
bể thận. Niêm mạc bàng quang có viêm cata và xuất huyết chấm đỏ.
Phổi và màng phổi viêm tụ máu, có nhiều vùng bị gan hoá, hoại tử và
trong xoang bụng xuất huyết mặt trong thành bụng. Tim nhão, tâm nhĩ xuất
huyết tâm thất sưng có hiện tượng xoang bao tim xuất huyết. Hạch màng
treo ruột viêm sưng to (gấp 2 – 3 lần) xuất huyết, tụ máu như quả mận chín
hoặc như quả mòng tơi chín.
Nếu bệnh ghép với vi khuẩn Salmonella cholerae và Pasteurella
suiseptica thì có thêm các hiện tượng lách sưng to dai như cao su, viêm phổi
thuỳ, viêm màng phổi và viêm ngoại tâm mạc.
2.3.1.5. Chẩn đoán bệnh
+ Chẩn đoán lâm sàng:
Dựa vào đặc điểm dịch tể, tính chất, triệu chứng và bệnh tích điển

sinh không nuôi chung với các loại động vật với nhau. Khi mới mua lợn về
phải có thời gian cách ly, theo giỏi ít nhất là từ 15 - 30 ngày nếu khoẻ mới
cho nhập đàn.
11
+ Khi có dịch xảy ra:
Chẩn đoán chính xác, công bố dịch. Cách ly lợn ốm hoặc nghi lây lan
mầm bệnh tốt nhất là giết mổ rồi xử lý luộc chín. Cấm vận chuyển ra hoặc
vào ổ dịch không bán chạy, mổ thịt bừa bãi lợn ốm. Xác chết phải chôn sâu
giữa 2 lớp vôi. Sau đó thực hiện các biện pháp tiêu độc khử trùng triệt để
mầm bệnh quanh khu vực lợn ốm, tiêm thẳng vacxin vào ổ dịch.
2.3.1.7. Điều trị
Nguyên tắc không dùng kháng sinh nếu phát hiện bệnh thì nên tiêm
vacxin dịch tả lợn đông khô liều điều trị đúng như liều phòng bệnh. Nếu con
vật ở giai đoạn cuối của bệnh thì lợn sẽ chết sau khi tiêm vacxin từ 1 - 2 giờ.
Còn con vật bị nhẹ thì nó sẽ qua khỏi sau 5 - 7 ngày nhờ vào hiện tượng
miễn dịch do Interferon.
2.3.2 Bệnh phó thương hàn lợn (Paratyphus suum)
2.3.2.1. Đặc điểm
Bệnh phó thương hàn là bệnh truyền nhiễm xảy ra trên mọi lứa tuổi
của lợn nhưng chủ yếu lợn từ 1- 4 tháng tuổi. Ở lợn trưởng thành bệnh ít xảy
ra hơn và thường là do kế phát của bệnh dịch tả. Bệnh lây lan chậm nhưng
phát tán rộng rãi (lây lan nhanh ở những vùng chăn nuôi lợn nái sinh sản do
điều kiện vệ sinh kém). Thường xảy ra vào mùa mưa, mùa hè và vụ đông
xuân bệnh có tính chất là dịch lẻ tẻ hoặc dịch địa phương. Bệnh xảy ra khắp
nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam. Nhưng ở nước ta bệnh thường xảy ra
ở vùng đồng bằng Bắc bộ làm thiệt hại cho ngành chăn nuôi lợn. Vi khuẩn
gây nên hiện tượng bại huyết kèm theo các bệnh lý rất nặng ở đường tiêu
hóa đặc biệt là trên lách và ruột già. Bệnh có thể điều trị khỏi nếu ghép với
bệnh dịch tả lợn thì không thể điều trị được. Tỷ lệ mắc bệnh không cao
nhưng tỷ lệ chết cao tùy theo từng lứa tuổi của lợn.

đen). Toàn bộ quá trình trên diễn ra khoảng từ 11- 12 ngày hoặc từ 15 - 17
13
ngày. Sau đó con vật gầy còm, ốm yếu và chết hoặc một số trường hợp bệnh
chuyển sang thể mạn tính.

2.3.2.4. Bệnh tích
Xác lợn gầy còm, da khô, nhăn nheo và lông không mượt. Hai đỉnh
tai, đầu mỏm và bốn kheo chân đều tím bầm. Lớp mô liên kết duới da bị
xuất huyết và thiếu O
2
. Xuất huyết màng tim, cơ tim và xuất huyết màng
phổi. Xoang bụng lách viêm tăng sinh, có màu xanh nhạt đặc biệt là 1/3
phần ở giữa sưng to hơn 2 đầu lách và dai như cao su. Hạch lâm ba sưng, tụ
máu và xuất huyết. Gan có thể bị tụ máu, viêm thoái hóa hay hoại tử như
hình hạt kê hạt vừng và thận tụ máu ở vỏ thận và bể thận.
Niêm mạc dạ dày ruột viêm đỏ xuất huyết, nhăn nheo, có khi có các
vết loét bằng hạt đậu. Có trường hợp phần ruột non tiếp giáp với ruột già có
nhiều đám loét và hoại tử làm cho thành ruột dày lên, vùng van hồi manh
tràng ngày càng bị thu nhỏ lại gây ra hiện tượng lòng ruột. Do vậy ruột mất
nhu động phân không ra được làm cho con vật kêu la đau đớn.
2.3.2.5. Chẩn đoán
+ Chẩn đoán lâm sàng:
- Dựa vào đặc điểm dịch tể, tính chất, các triệu chứng và bệnh tích
điển hình của bệnh nhằm phân tích để giúp ích cho quá trình chẩn đoán có
hiệu quả hơn. Nhất là phân biệt được với bệnh dịch tả lợn do virus.
+ Chẩn đoán vi khuẩn học:
- Soi kính trực khuẩn : Trực khuẩn hình gậy ngắn, hai đầu tròn, có khả
năng di động và bắt màu Gram âm.
- Nuôi cấy trong các môi trường phân lập vi khuẩn đường ruột, thạch
máu. Nếu số lượng vi khuẩn trong phân ít thì cấy vào môi trường tăng sinh

mầm bệnh. Khi mới mua lợn về phải có thời gian nuôi cách ly.
+ Phòng bệnh bằng vacxin:
15
- Tiến hành tiêm phòng định kỳ bằng vacxin cho lợn để tạo miễn dịch
chủ động cho đàn lợn nuôi. Tiêm vacxin phó thương hàn lợn nhược độc
dạng đông khô: Lợn con dùng lần đầu vào lúc 20 - 30 ngày tuổi pha vacxin
với nước sinh lý sao cho 1 liều tiêm bằng 1ml tiêm dưới da 1ml/con lợn thời
gian miễn dịch từ 9 - 12 tháng.
- Tiêm vacxin phó thương hàn lợn Foocmol keo phèn: Lần 1 dùng cho
lợn từ 21 ngày tuổi. Lần 2 dùng cho lợn 28 ngày tuổi. Tiêm dưới da
2-3ml/con.
2.3.2.7. Điều trị
+ Dùng kháng sinh:
Bệnh phó thương hàn do vi khuẩn Gram âm gây ra, do vậy có thể
dùng kháng sinh để điều trị.

2.3.3. Bệnh tụ huyết trùng ( Pasteurellosis suum )
2.3.3.1. Đặc điểm
Bệnh tụ huyết trùng là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra trên mọi
lứa tuổi của lợn nhưng nhiều nhất là trên lợn từ 3-6 tháng tuổi. Bệnh có khắp
nơi trên thế giới ở Việt Nam do điều kiện khí hậu, đất đai bệnh xảy ra chủ
yếu ở 2 vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ. Nhưng đồng bằng Nam bộ bệnh
xảy ra nhiều, các vùng khác bệnh cũng xảy ra nhưng ít hơn. Bệnh thường
phát sinh rải rác có khi hình thành dịch địa phương ít khi xảy ra dịch lớn và
hay gặp bệnh ở các thời điểm giao mùa (nhất là mùa hè). Tỷ lệ mắc bệnh
thấp tỷ lệ chết cao nếu không điều trị kịp thời. Bệnh hay ghép với các bệnh
dịch tả lợn, phó thương hàn lợn và bệnh suyễn lợn tỷ lệ chết rất cao.
16
2.3.3.2. Nguyên nhân
Bệnh do vi khuẩn Pasteurella muttocida gây ra với đặc điểm viêm

ruột viêm, gan thận tụ máu và thịt màu đen, mềm có nước do máu mất oxy.
2.3.3.5. Chẩn đoán
+ Chẩn đoán lâm sàng:
Dựa vào đặc điểm dịch tể, tính chất, các triệu chứng và bệnh tích điển
hình của bệnh để định hứng cho quá trình chẩn đoán về sau. Nhất là cần
phân biệt với một số bệnh truyền nhiễm khác như Mycoplasmosis, bệnh phó
thương hàn lợn
+ Chần đoán bằng vi khuẩn học:
– Kiểm tra hình thái vi khuẩn trên kính hiển vi.
– Nuôi cấy vi khuẩn vào môi trường thích hợp.
+ Chẩn đoán huyết thanh học:
– Phản ứng ngưng kết
– Phản ứng kết tủa khuếch tán trong thạch (AGID)
2.3.3.6. Phòng bệnh
+ Phòng bệnh bằng vệ sinh:
– Khi chưa có dịch: Cần loại trừ những yếu tố giúp bệnh dễ phát sinh như vệ
sinh kém, dinh dưỡng thiếu, khai thác sử dụng không hợp lý, chuồng trại lạnh
ẩm, lầy lội,…Tiêm phòng vacxin đầy đủ với những lợn ở diện tiêm phòng.
Thực hiện cách ly khi bổ sung lợn mới vào đàn.
– Khi có dịch nổ ra: Cấm xuất, nhập gia súc trong khu vực có dịch. Cách ly
gia súc bệnh, điều trị tích cực và tiêm thẳng vacxin vào ổ dịch. Việc tiến hành
phải được tiến hành thật tốt sau mỗi lần phát hiện bệnh. Xử lý xác chết, chất thải
18
của súc vật ốm, phân rác đúng kỹ thuật. Vệ sinh tiêu độc chuồng trại bằng
nước vôi 10%, NaOH 2% và tích cực diệt chuột.
+ Phòng bệnh bằng vacxin:
– Vacxin tụ huyết trùng vô hoạt có keo phèn:
Khi dùng tiêm dưới da cho lợn từ 2 tháng tuổi trở lên, liều 2ml/con,
tiêm nhắc lại sau 3 tuần, miễn dịch chắc chắn sau tiêm 14 ngày và kéo dài 6
- 9 tháng. Với lợn giống mỗi năm tiêm 2 lần vào tháng 3 - 4 và 9 - 10.

không có lông nên không di chuyển được. Đây là trực khuẩn nhỏ mảnh có
hình sợi, là trực khuẩn tuỳ tiện (sống được trong môi trường hiếu khí và yếm
khí). Vi khuẩn có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh và tồn tại lâu
trong lớp đất độn nền chuồng nên người ta còn gọi là vi khuẩn thổ nhưỡng. ở
nhiệt độ cao dễ dàng diệt được vi khuẩn. Ngoài ra vi khuẩn còn tồn tại ký
sinh ở hầu, hạch Amidan, khi sức đề kháng của cơ thể giảm xuống vi khuẩn
trỗi dậy gây bệnh cho lợn.
2.3.4.3. Triệu chứng
Thời kỳ nung bệnh từ 1 - 8 ngày.
Lợn bệnh bắt đầu ủ rũ, mệt mỏi, lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn, chui vào ổ
nằm, lợn sốt 42 - 43
0
C lúc này phân táo, rắn có màng bọc lầy nhầy, con vật
nôn mửa (về sau mới đi ỉa chảy hoặc đi lị có máu). Lợn run 4 chân, da khô,
các niêm mạc viêm đỏ thẩm hoặc tím bầm, nước mắt, nước mũi chảy, con
vật thở khó. Lợn ốm 2 - 3 ngày thì trên da xuất hiện những vết đỏ ở tai, lưng,
ngực, bụng, phía trong đùi. Các vết đỏ có hình vuông, hình bình hành, hình
bầu dục, hình đa giác,… trong giống như bị đóng dấu. Các dấu này lúc đầu
còn đỏ tươi sau chuyển sang đỏ sẫm hoặc tím bầm, ở giữa nhạt màu, chỗ da
20
viêm có dấu không đau, không thuỷ thũng. Nếu khi ấn ngón tay vào dấu mất
đi bỏ ngón tay ra dấu lại trở về vị trí cũ chứng tỏ có hiện tượng xung huyết
và tụ máu tĩnh mạch. Khi lợn chết các dấu này chuyển sang màu xanh tím.
Bệnh tiến triển từ 3 - 5 ngày con vật yếu dần, thân nhiệt giảm nhanh sau đó
con vật suy kiệt mà chết. Tỷ lệ chết 50 - 60%.
2.3.4.4. Bệnh tích
Da và mô liên kết dưới da tụ máu, thấm nước nhớt màu đỏ, niêm mạc tụ
máu, xuất huyết. Thận sưng to, tụ máu đỏ sẫm, vỏ thận có chấm xuất huyết
do viêm tiểu cầu thận. Lách sưng to, tụ máu màu đỏ nâu, mặt sần sùi nổi
phòng từng chổ, tổ chức lách mềm, cắt ra có màu nâu. Hạch Lympho sưng

Lợn thịt tiêm 1 liều duy nhất lúc 1,5 - 2 tháng tuổi.
– Vacxin vô hoạt có Foormol và keo phèn:
Vacxin rất an toàn, dùng liều 3 - 5ml/con, miễn dịch kéo dài 6 tháng.
Ngoài ra còn có vacxin đa giá Farrowsure B nhập ngoại phòng 3 bệnh cho
lợn: Đóng dấu lợn, xảy thai do Parvovirus, Leptorpirosis.
2.3.4.7. Điều trị
+ Dùng kháng huyết thanh:
Điều trị bằng kháng huyết thanh thường tốn kém nên chỉ dùng trong
các trường hợp đặc biệt. Khi dùng tiêm dưới da 5 -10ml/con dưới 25kg, 20 -
40ml/con trên 30kg.
+ Dùng kháng sinh:
Vi khuẩn đóng dấu lợn là vi khuẩn Gram dương, do vậy có thể dùng
kháng sinh để điều trị.
22
PHẦN III
NỘI DUNG – ĐỐI TƯỢNG – ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1. Điều tra tình hình kinh tế, tự nhiên xã hội của huyện
- Tình hình xã hội: Vị trí địa lý,diện tích, dân số, tài nguyên,…
- Tình hình kinh tế: Ngành nghề chủ yếu, thu nhập bình quân,...
- Tình hình tự nhiên: Khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, mùa vụ,…
3.1.2. Điều tra tình hình chăn nuôi thú y tại huyện Vụ Bản
Điều tra cơ cấu đàn gia súc, gia cầm (trâu, bò, lợn, chó, mèo, gà,…)
3.1.3. Điều tra tình hình hoạt động mạng lưới thú y của huyện Vụ Bản
3.1.4. Kết quả tiêm phòng 4 bệnh đỏ trong giai đoạn từ 2007 đến 2009
Bệnh dịch tả, phó thương hàn, tụ huyết trùng và bệnh đóng dấu lợn.
3.1.5. Điều tra tình hình dịch bệnh xảy ra trên đàn lợn nuôi tại xã thuộc
huyện Vụ Bản – tỉnh Nam Định
Trong đó có 4 bệnh đỏ xảy ra trên lợn

24
- Cách tính tỷ lệ gia súc tử vong:
Tổng số con chết vì một bệnh
+ Tỷ lệ lợn tử vong (%) = ×100
Tổng số con mắc bệnh đó
- Toàn bộ số liệu đều được theo dõi, ghi chép và xử lý theo phương
pháp thống kê sinh vật học trên máy tính bằng chương trình Microsoft
Excel.
PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình kinh tế – chính trị – xã hội – tự nhiên của huyện Vụ Bản
4.1.1. Vị trí địa lý của huyện
Vụ Bản là một huyện của tỉnh Nam Định. Huyện Vụ Bản nằm ở phía
tây thành phố Nam Định, cách Hà Nội 100 km về phía nam. Phía bắc giáp
huyện Mỹ Lộc và thành phố Nam Định; Phía đông giáp huyện Nam Trực,
ngăn cách bởi sông Đào; Phía nam giáp huyện ý Yên; Phía tây bắc giáp với
huyện Bình Lục (Hà Nam) và phía tây nam giáp huyện ý Yên đều ngăn cách
25

Trích đoạn Tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện VụBản từ năm 2007 đến tháng 10 năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status