khóa luận tốt nghiệp dịch bệnh truyền nhiễm thường gặp trên lợn - Pdf 70

Phần i
mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam đang trong tiến trình chủ động hội nhập ngày càng sâu vào nền
kinh tế thế giới và khu vực đó là tham gia cam kết trong khuôn khổ các khối liên
kết kinh tế: Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM), hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á (ASEAN) và khu vực mậu dịch Tự do của ASEAN (AFTA), khu Mậu dịch tự
do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á (APEC) và
là thành viên của tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Tiến trình hội nhập này đã
và đang mang lại nhiều cơ hội cùng không ít thách thức cho nền kinh tế cả nớc nói
chung, trong đó có nền kinh tế của huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.
Hội nhập đa đến cho đất nớc ta những cơ hội pháp triển về mọi mặt của xã
hội bao gồm kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá - xã hội. Nhng cũng mang lại những
mâu thuẫn trong cạnh tranh thơng mại và mâu thuẫn này ngày một gay gắt hơn khi
hội nhập sâu hơn. Có thể nói đây là thời đại của công nghiệp, dịch vụ, bu chính
viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học Nh ng trên hết ngành mang
lại thu nhập chính cho nông dân ta hiện nay vẫn là ngành nông nghiệp. Và ngành
chăn nuôi cụ thể là nghề chăn nuôi lợn là nghề mang lại thu nhập chính cho nông
dân.
Yên Khánh là huyện có dân c sống chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp.
Trong đó chăn nuôi lợn là nghề thu hút đợc quan tâm của đông đảo nhân dân trong
Huyện. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của Huyện phát triển theo h-
ớng quy mô trang trại tập trung vừa và nhỏ, chăn nuôi theo hộ gia đình. Hiện nay
trên địa bàn huyện đã hình thành, phát triển các mô hình trang trại chăn nuôi các
loại gia súc có hiệu qủa kinh tế cao trong đó có các trang trại chăn nuôi lợn sữa,
lợn siêu nạc.
Nhng do vốn đầu t còn hạn chế và đầu ra cha thật ổn định, khả năng cạnh
tranh của sản phẩm chăn nuôi còn hạn chế. Nói chung chăn nuôi cụ thể là chăn
nuôi lợn vẫn mang tính nhỏ lẻ, thiếu tập trung, phân tán, tự phát, cha có những quy
[1]
hoạch cụ thể. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi còn hạn

2.1.1. Khái niệm bệnh truyền nhiễm:
+ Bệnh truyền nhiễm gia súc dựa vào tính chất lây lan bệnh, phát tán rộng.
Cho nên khi một dịch bệnh nào sảy ra thì có thể diễn ra trong một vùng nhất định,
hoặc trong một vùng rộng lớn, hoặc lây lan cả những vùng lãnh thổ, quốc gia
khác.
Đây đợc coi là quá trình sinh dịch và là một trong những điều kiện kiên
quyết của quá trình sinh bệnh dịch mà các bệnh khác không có.
Một quá trình sinh dịch yêu cầu phải có vi sinh vật gây ra bệnh dịch và
động vật nuôi. Điều kiện tự nhiên nh: khí hậu, dân c, chim ăn thịt di c, sự hiếu kỳ
tò mò của con ngời đã tác động tới quá trình sinh dịch. Mục tiêu của chúng ta
cụ thể là ngời tham gia trong công tác chăn nuôi là khống chế quá trình sinh dịch,
chống lại quá trình sinh dịch thiên nhiên.
Quá trình sinh dịch có ba khâu là: Nguồn bệnh - Nhân tố trung gian
truyền bệnh - Động vật cảm thụ.

Sơ đồ của quá trình truyền lây
[3]
Nguồn
bệnh
động
vật cảm
thụ
Yếu tố
truyề
n lây
Mầm bệnh
Dịch bệnh
M. bệnh
M. bệnh
Vì vậy có thể đa ra nguyên lý của quá trình sinh dịch nh sau: để bùng nổ

và con khoẻ mang trùng.
Động vật mang trùng là loại nguồn bệnh nguy hiểm, chính loại nguồn bệnh
này thờng làm cho dịch tái phát trong ổ dịch cũ hoặc làm lan rộng từ nơi này sang
nơi khác rất nguy hiểm.
Nh vậy nguồn bệnh bao gồm vật nuôi đã bị mắc, nghi mắc, nhiễm, nghi
nhiễm hoặc mang trùng một bệnh truyền nhiễm nào đó. Cụ thể là những vật
nuôi mắc bệnh truyền nhiễm bị chết, những con vật nuôi mắc bệnh đang biểu hiện
triệu chứng của bệnh, những con vật nghi bệnh bởi từng nhốt chung chuồng với 2
con vừa nói trên, những con vật nghi bệnh bởi nó đã tiếp xúc với những con bệnh.
Tất cả các nguồn bệnh vừa nói trên bài thải mầm bệnh ra ngoài môi trờng qua
nhân tố trung gian truyền bệnh khi cùng chăn trên một đồng cỏ, cùng sân chơi,
cùng nguồn nớc uống.
2.1.3. Nhân tố trung gian truyền bệnh
Nhân tố trung gian truyền bệnh là khâu thứ hai của quá trình sinh dịch, nó
đóng vai trò trung gian đa mầm bệnh từ nguồn bệnh tới súc vật thụ cảm. (Nguyễn
Nh Thanh, 2007/ trang[25]). Muốn lan truyền từ cơ thể ốm sang cơ thể khoẻ, mầm
bệnh thờng phải sống một thời gian nhất định ở ngoại cảnh trên các nhân tố trung
gian truyền bệnh. Thời gian đó dài hay ngắn phụ thuộc vào loại mầm bệnh, điều
kiện thời tiết, khí hậu, Nói chung, mầm bệnh không sinh sản phát triển ở đó và
sau một thời gian nhất định sẽ bị tiêu diệt (Nguyễn Vĩnh Phúc, 1987/ trang [23]).
Có thể chia làm hai nhóm nh sau:
Nhóm 1: Các nhân tố trung gian truyền bệnh cơ học: Bao gồm đất, nớc,
không khí, thức ăn vật nuôi, dụng cụ trang thiết bị phục vụ chăn nuôi, phơng tiện
vận chuyện, chuồng trại chăn nuôi, dụng cụ thú y
Nhóm 2: Các nhân tố trung gian truyền bệnh sinh học: Bao gồm các loài
gặm nhấm (chuột, ), các ký sinh trùng (rận, rệp, be ,bét, ), chim ăn thịt di c , và
con ngời,
[5]
2.1.4. Động vật cảm thụ
Đây là khâu thứ ba không thể thiếu của quá trình sinh dịch. Có nguồn bệnh

Ví dụ vi khuẩn Pasterella mutocida gây bệnh tụ huyết trùng ở các loại gia súc, gia
cầm. Bình thờng vi khuẩn tồn tại trong đờng hô hấp trên của trâu bò, dê, lợn, gà,
Khi gặp điều kiện bất lợi, stress, làm cho con vật giảm sức đề kháng, vi
khuẩn nhân lên nhanh chóng tiết độc tố gây bệnh.
2.2.3. Virus
Virus là một phần tử dới tế bào, có đặc chng của vật chất sống, có khả năng
tái sinh chỉ trong tế bào sốngvà có thể gây bệnh cho hầu hết các loài sinh vật.
Virus thờng có hớng tổ chức nhất định, do đó thờng gây nên những biểu
hiện giống nhau ở những gia súc khác loài. Virus gây bệnh lở mồm long móng
(FMD) thuộc họ Picornaviridae là virus có hớng thợng bì do đó đích tác động của
chúng là những tế bào thợng bì nhất là những tế bào thợng bì non, động vật cảm
thụ là loài guốc chẵn. Chúng gây bệnh với biểu hiện đặc chng là sự xuất hiện các
mụn nớc ở miệng, mũi, móng, và triệu chứng này th ờng gặp ở tất cả các loài
động vật mẫn cảm nhng ở mức độ khác nhau: trâu, bò thấy mụn nớc ở cả miệng,
mũi, móng, với mức độ ngang nhau tuy nhiên ở lợn mụn nớc chủ yếu ở chân. Bệnh
do virus gây nên thờng lây lan mạnh, cho miễn dịch mạnh và thờng có hiện tợng
mang trùng và là điều kiện trỗi dậy các bệnh ghép khác.
2.3. Một số bệnh truyền nhiễm ở lợn
2.3.1. Bệnh Dịch tả lợn (Pestis suum)
2.3.1.1. Tình hình dịch bệnh.
Bệnh dịch tả lợn (Pestis suum) là một bệnh truyền nhiễm rất lây lan của lợn
và giết hại nhiều lợn do một virus gây ra. Bệnh thờng biểu hiện chứng bại huyết, tụ
máu, xuất huyết, hoại tử và loét ở nhiều cơ quan phủ tạng.
Bệnh lần đầu tiên đợc ghi nhận ở Mỹ năm 1833, sau đó ngời ta phát hiện
thấy bệnh ở khắp nơi trên thế giới. Đến năm 1968 bệnh đã giảm và đợc thanh toán
ở một số nớc nh Australia, Canada, thụy Sĩ, Mỹ, Phần Lan, Đan Mạch,
[7]
ở Việt Nam, bệnh đợc phát hiện lần đầu tiên vào năm 1923 - 1924 ở các
tỉnh miền Bắc, sau đó bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nớc, đã có nhiều
vụ dịch xảy ra gây tổn thất rất lớn cho ngành chăn nuôi lợn.

tiêu chảy ở bò (BDV - Bovine viral diarhae virus) và virus gây bệnh Border ở cừu
(Border disease virus). Nhng khi nghiên cứu về cấu trúc phân tử của Pestivirus thì
thấy bộ gen của chúng tơng ứng với virus thuộc họ Flaviridae (Nguyễn Văn Ty,
1975)[32]. Hiện nay đã chứng minh đợc virus gây bệnh Dịch tả lợn thuộc họ
Flaviridae.
Theo Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2008)[17] cho biết các chủng virus Dịch tả lợn đ-
ợc phân chia thành hai nhóm: chủng cờng độc Alfort, chủng C, chủng Thiveral
gây bệnh ở thể cấp tính; chủng 331 và nhiều chủng khác phân lập đợc từ lợn bị
bệnh thể mạn tính; chủng độc lực thấp thờng gây chết cao đối với bào thai và lợn
sơ sinh. Tiêm truyền nhiều đời (khoảng trên 150 đời) virus gây bệnh Dịch tả lợn sẽ
tạo ra chủng nhợc độc không gây bệnh cho lợn nhng có khả năng kích thích sinh
miễn dịch chống lại bệnh Dịch tả lợn nh chủng C, chủng Thiveral.
1. Hình thái cấu trúc
Virus Dịch tả lợn (Pestis suum virus) gây bệnh Dịch tả lợn là AND virus
một sợi có vỏ bọc ngoài là Lipoprotein. Virus có hình cầu, capxit đối xứng khối,
có đờng kính khoảng 40 - 50 àm.
Các chủng virus Dịch tả lợn giống nhau hoàn toàn về tính kháng nguyên,
nhng có độc lực khác nhau. Cấu trúc kháng nguyên đồng nhất không thay đổi nên
có thể tạo vacxin phòng bệnh Dịch tả lợn có hiệu quả. Trong tự nhiên tồn tại
những chủng có độc lực cao thờng gây bệnh cấp tính với tỷ lệ chết cao và những
chủng có độc lực trung bình thờng gây bệnh ở thể mạn tính. Dựa vào độc lực của
virus Dịch tả lợn ngời ta tạm chia chúng thành hai nhóm: nhóm cờng độc và nhóm
độc lực thấp.
2. Nuôi cấy
Có thể nuôi cấy virus trong tổ chức sống của lợn nh tuỷ xơng, thận, dịch
hoàn, Đặc biệt môi tr ờng nuôi cấy tế bào thận lợn thờng đợc sử dụng. Khi nuôi
cấy virus nhân lên ở nguyên sinh chất nhng không gây bệnh tích tế bào. Virus lan
[9]
rộng từ tế bào nhiễm sang tế bào lành bên cạnh nhờ cầu nối nguyên sinh chất và
tồn tại lâu bên trong tế bào.

bú sữa, lợn mới cai sữa. Lợn nái mắc bệnh truyền bệnh cho lợn con. Theo Thân
Văn Thuỳ (2003)[30] thì tỷ lệ mắc bệnh Dịch tả lợn theo lứa tuổi cao nhất là từ 2 -
4 tháng tuổi với 61,44% và thấp nhất ở lợn nái: 2,07%.
[10]
Nếu dùng virus Dịch tả lợn tiêm truyền liên tục 150 đời qua thỏ sẽ đợc
giống virus hoàn toàn không độc với lợn nhng vẫn giữa nguyên đợc tính kháng
nguyên. Đây là giống virus nhợc độc Dịch tả lợn qua thỏ mà đang đợc dùng để chế
vacxin phòng bệnh Dịch tả lợn ở nớc ta.
2. Chất chứa virus
ở lợn ốm, virus có trong máu, chất bài tiết, lách, hạch Lympho và các cơ
quan phủ tạng trong cơ thể.
Lợn khỏi bệnh thờng mang virus và thải qua nớc dãi, nớc tiểu và phân trong
sáu tháng sau khi khỏi bệnh.
3. Phơng thức truyền lây
Virus dịch tả lợn tồn tại bất cứ nơi đâu có chăn nuôi lợn. Bệnh thờng lây
trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ qua tiếp xúc.
Lợn có chửa nhiễm virus có thể truyền virus sang con qua nhau thai, lợn
con đẻ đã nhiễm virus và là nguồn lây bệnh rộng rãi nếu chúng đợc chọn làm lợn
giống.
Trần Văn Chơng (2007)[4] cho biết lợn nái mang thai mắc bệnh có thể
truyền virus cho bào thai ở tất cả các giai đoạn phát triển của bào thai. Virus thờng
lan truyền từ qua đờng máu và phát triển ở một vài nơi dọc theo nhau thai và lan
truyền từ bào thai này sang bào thai khác. ở các bào thai virus cũng phân bố trong
các nội tạng và máu giống nh lợn nhiễm với chủng có độc tính sau khi sinh.
Những bào thai bị nhiễm trong giai đoạn 45 ngày đầu sau khi thụ thai có khuynh
hớng chết trớc khi sinh hoặc phát sinh hiện tợng lây nhiễm dai dẳng và có đáp ứng
miễn dịch cao hơn những bào thai bị nhiễm lúc 65 ngày tuổi hoặc muộn hơn.
Những bào thai lây nhiễm bởi những virus có độc lực trung bình lúc 45 ngày tuổi
cuối của kỳ mang thai thờng biểu hiện triệu chứng bệnh sau khi sinh hoặc một thời
gian ngắn sau khi sinh hoặc thải virus trong trờng hợp lây nhiễm những chủng

tiết và biến động của đàn lợn nên bệnh có thể lúc tăng lúc giảm.
[12]
ở Miền Bắc, bệnh thờng nổ ra từ tháng 11 - 12 năm trớc đến tháng 1 - 2
năm sau. Nguyên nhân do thời tiết khí hậu trong vụ Đông xuân khắc nghiệt, thức
ăn thiếu và việc thu gom một số thịt lợn lớn để ghiết mổ trong dịp tết cổ truyền.
5. Cơ chế sinh bệnh
Quá trình xâm nhiễm của virus vào cơ thể lợn đợc đặc trng bởi các giai
đoạn: Nhiễm virus ở hệ thống Lympho, nhiễm virus huyết và nhiễm virus ở các
phủ tạng.
Hạch Amidan là vị trí đầu tiên đế virus nhân lên khi xâm nhập bằng đờng
mũi, miệng. Từ hạch Amidan, virus theo đờng bạch huyết đến các hạch Lympho
vàng. ở đây chúng lại nhân lên và đi vào máu ngoại vi. Sau khi vào máu, chúng
tiếp tục xâm nhập vào các cơ quan Lympho nội tạng, rồi nhân lên ở đây tạo ra số
lợng virus lớn, vào máu và xâm nhập vào các cơ quan nhu mô, đờng hô hấp, não.
Virus gây thoái hoá tế bào biểu bì thành mạch quản, làm giảm tiểu cầu, rối
loạn Fibrin gây đông máu, hình thành các mụn nhỏ làm tắc tuần hoàn và gây xuất
huyết lấm tấm.
Virus phá huỷ các nang Lympho ở niêm mạc ruột gây hoại tử hình thành
các mụn loét dầy hình cúc áo trên có phủ Fibrin tạo những vòng tròn đồng tâm.
Cũng do sự tổn thơng mạch quản mà các phủ tạng bị lấm tấm tơng dịch,
xuất huyết, nhồi huyết (lách) và hoại tử cục bộ.
Trần Đình Từ (1990)[31] cũng cho biết các chủng virus có độc lực cao th-
ờng lay nhiễm, từ khi xâm nhập vào cơ thể chúng lan toả ra tất cả các cơ quan
khác trong cơ thể từ 5 - 6 ngày. Các dạng xuất huyết trong bệnh dịch tả lợn ở thể
cấp tính là kết quả của sự thoái hoá tế bào nội bì và biểu bì thành mạch quản do
virus phá huỷ gây giảm tiểu cầu và rối loạn tổng hợp Fibrin, hình thành các cục
máu đông nhỏ làm tắc nghẽn tuần hoàn gây xuất huyết lấm tấm. Virus tác động
gây mụn loét ở niêm mạc ruột già, những mụn này dầy lên, hình cúc áo do những
sợi huyết đông đặc lại và do virus tác động từng đợt, từng đợt nên tạo ra các vòng
tròn đồng tâm.

Con vật có thể bị co giật khi sốt cao, trớc khi chết lợn bị liệt hai chân sau.
Đối với lợn nái đang mang thai, virus có thể gây sảy thai, thai gỗ, chết lu hoặc thai
dị dạng, lợn con chết yểu sau khi đẻ.
Trong trờng hợp nhiễm vi khuẩn kế phát nh Salmonella cholerae suis, lợn bị
ỉa chảy nặng, phân hôi thối. Còn nếu ghép với Pasteurella suiseptica thì lợn có
biểu hiện viêm phổi và màng phổi nặng, mũi chảy dịch nhày có mủ.
Trên da xuất hiện hàng trăm, hàng ngìn nốt xuất huyết điểm ngoài da nhỏ ly
ti nh muỗi đốt, kim châm.
2.3.1.5. Bệnh tích
Niêm mạc miệng, lỡi, lợi viêm tụ máu, loét, nốt loét có phủ một lớp bựa
vàng hoặc màu trắng.
[14]
Niêm mạc dạ dày ở phía hạ vị viêm sng có màu đỏ gạch, xuất huyết, có thể
có mụn loét có bờ.
Niêm mạc ruột, nhất là vùng van hồi manh tràng virus phá huỷ các nang
Lympho gây hoại tử, hình thành các vết loét dầy, tròn, trên có phủ Fibrin tạo các
vòng tròn đồng tâm (5 - 6 vết loét) trông giống nh hình cúc áo (bệnh tích điển hình
của bệnh). ở niêm mạc trực tràng, hậu môn đều biểu hiện viêm, xuất huyết, có các
nốt loét.
Hạch Lympho ruột sng gấp 2 - 3 lần, tụ máu, đỏ thẫm hoặc tím bầm, xuất
huyết trên vỏ (nh quả mận chín), khi bổ ra thấy xuất huyết hình vân, ở bên trong
nh đá hoa vân.
Lách không sng hoặc ít sng, có hiện tợng xuất huyết và nhồi huyết ở rìa
lách, đỉnh nhọn quay vào trong. Các tam giác này xếp liền nhau trông giống hình
răng ca (lách xuất huyết hình răng ca). Hiện tợng nhồi huyết này cũng chính là
một bệnh tích đặc trng của bệnh Dịch tả lợn. ở trong tổ chức lách còn có các đám
xuất huyết lồi ra ngoài, nổi lên từng chỗ làm cho bề mặt lách lồi lõm không đều.
Thận xuất huyết ở lớp vỏ thành những chấm đỏ hoặc tím to bằng đầu đinh
ghim rải rác khắp bề mặt thận. Bổ đôi quả thận thấy bể thân ứ máu hoặc có cục
máu.

lợn ra hoặc vào ổ dịch. Cấm bán chạy lợn ốm hoặc mổ thịt bừa bãi. Xác lợn chết
cần chôn sâu giữa hai lớp vôi. Tiêu độc kỹ chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng n-
ớc vôi 10% hoặc xút Xử lý triệt để thức ăn thừa, phân rác Tiêm thẳng vacxin
vào ổ dịch.
Hiện nay, ở nớc ta sử dụng rộng rãi vacxin nhợc độc Dịch tả lợn chủng C để
phòng bênh Dịch tả lợn với hai loại vacxin phòng bệnh Dịch tả lợn đợc dùng chủ
yếu là: Vacxin nhợc độc Dịch tả lợn chế qua hạch lách thỏ đông khô và vacxin nh-
ợc độc Dịch tả lợn chế qua nuôi cấy tế bào gốc (tế bào BHK
21
) đông khô.
Sử dụng vacxin tiêm dới da cổ lợn với liều 1ml/con thời gian miễn dịch đợc
1 năm. Tiêm 2 lần: Lần 1 vào lúc 20 ngày tuổi, lần 2 tiêm sau lần 1 là 15 ngày. Có
thể tiêm nhắc lại sau 5 tháng, riêng với lợn đực giống và lợn nái mỗi năm tiêm một
[16]
lần. Định kỳ tiêm phòng 1 năm 2 lần vào tháng 3 - 4 và tháng 9 - 10, có tiêm bổ
xung.
Theo tác giả J.M.Aynaud (2003)[34] thì những thất bại sau khi tiêm vacxin
Dịch tả lợn mà không tạo đợc bảo hộ đối với bệnh Dịch tả lợn cho đàn lợn đã đợc
tiêm phòng do các nguyên nhân sau:
* Lọ vacxin không chứa virus sống.
* Lọ vacxin có chứa virus sống nhng bị vô hoạt do bảo quản không đúng
phơng pháp.
* Lọ vacxin chứa virus sống nhng bị vô hoạt trong xilanh do xilanh đợc tiệt
trùng bằng chất sát trùng trớc khi sử dụng.
* Liều virus khi tiêm vào lợn con bị trung hoà bởi kháng thể mẹ truyền cho
lợn con tại thời điểm tiêm phòng.
Nếu lợn nái mang trùng và đàn lợn con sinh ra từ những đàn lợn nái trên ở
dạng dung nạp miễn dịch thì khi tiêm vacxin phòng bệnh, lợn con không tạo ra
miễn dịch và một thời gian sau sẽ phát bệnh. Việc không bảo hộ sau khi tiêm cũng
có thể lý giải là do sự xuất hiện một chủng gây bệnh mới mà chủng dùng để chế

Nuôi cấy
Là vi khuẩn hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp để tồn tại là: 37
0C
,
pH thích hợp là: 7,6. Nuôi cấy ở môi trờng nớc thịt, môi trờng thạch thờng,
Sức đề kháng
Vi khuẩn có sức kháng yếu đối với sức nóng, chỉ 70
0C
dã chết sau 20 phút,
đun sôi chết sau 5 phút, khử trùng theo phơng pháp Pasteur cũng bị diệt.
Chúng tồn tại một tuần trong nớc thờng nhng có thể sống từ 2 - 3 tháng
trong nớc đá và 2 tháng trong xác chết. Các chất sát trùng thông thờng có thể diệt
đợc vi khuẩn nhanh chóng.
2.3.2.3. Truyền nhiễm học
Loài vật mắc bệnh
Lợn là động vật cảm nhiễm với nhất với bệnh Phó thơng hàn. Đặc biệt là
lợn từ 2 - 4 tháng tuổi.
Chất chứa vi khuẩn
Trong cơ thể bị bênh Phó thơng hàn cấp tính thì máu và tất cả các cơ quan
phủ tạng, chất bài tiết của động vật bệnh này đều có chứa vi khuẩn. Trong cơ thể
khoẻ mạnh luôn có vi khuẩn ký sinh nhng chúng chỉ phát bệnh khi có điều kiện
thuận lợi. Niêm mạc ruột, hạch màng treo ruột, túi mật là nơi c trú của vi khuẩn.
Phơng thức truyền lây
[18]
Bệnh lây chủ yếu qua đờng tiêu hoá do ăn, uống phải thức ăn nớc uống có
nhiễm mầm bệnh. Mặt khác vi khuẩn có thể tồn tại sẵn trong cơ thể lợn khoẻ và
gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi.
Mùa vụ mắc bệnh.
Bệnh thờng phát ra vào mùa ma, nóng và ẩm ớt nh cuối hè sang thu, ở các cơ sở có
điều kiện vệ sinh, nuôi dỡng chăm sóc kém.

miệng kêu la, phân ỉa lầy nhầy, hơi vàng, có máu, có màng giả, nh đã nói ở trên.
[19]
Lợn khó thở, thở gấp, ho, tim đập yếu, thể hiện suy nhợc. Cuối thời kỳ
bệnh, trên da xuất hiện những đám tụ máu thành từng nốt đỏ ửng rồi chuyển sang
màu xanh tím ở tai, mõm, bụng, mặt trong đùi và bốn chân sau đó đen lại (đây là
triệu chứng điển hình của bệnh Phó thơng hàn lợn).
Bệnh tiến triển trong 2 - 4 ngày, con vật gầy còm, ốm yếu, ỉa chảy nặng rồi
chết trong khoảng thời gian nhanh là 7 ngày chậm là 11 - 12 ngày (tím bầm sau 3
- 4 ngày và sau chết sau 15 - 17 ngày). Một số trờng hợp lợn bệnh chuyển sang thể
mạn tính và trở nên còi cọc, chậm lớn, có thể chết do suy kiệt.
2.3.2.5. Bệnh tích
Do con vật ỉa chảy nên xác chết gầy, da khô, thô, nhăm nheo, lông xơ xác,
hậu môn dính đầy phân, thối khắm. Hai đỉnh tai, đầu mõm, bốn kheo chân tím
bần, đen lại.
Lách tăng sinh to gấp hai lần khi con vật chết nhanh, khi con vật chết muộn
thì lách không sng hoặc ít sng, dai nh cao su, màu xanh thẫm, khi cắt ngang thấy
tổ chức lách có màu tím, chắc. Hạch Lympho sng, mềm, thờng đỏ thẫm từ chu vi
vào. Gan tụ máu, có nốt hoại tử bằng hạt kê, hạt vừng màu trắng xám. Niêm mạc
dạ dày và ruột viêm đỏ, nhăn nheo, có điểm xuất huyết, có khi có những điểm hoại
tử ở dạ dày và ruột già.
2.3.2.6. Chẩn đoán
- Chẩn đoán lâm sàng, giải phẫu bệnh lý và dịch tễ học
- Chẩn đoán vi khuẩn học
2.3.2.7. Phòng bệnh
Phòng bệnh bằng vệ sinh nh: Chăm sóc nuôi dỡng đàn lợn nuôi tốt nhằm
tăng sức đề kháng cho lợn. Thực hiện công tác an toàn sinh học nh: Nuôi dỡng
chăm sóc tốt, định kỳ tẩy uế chuồng trại, tiêm phòng triệt để cho đàn lợn ở diện
phải tiêm phòng. Chuồng trại nuôi phải khô ráo thoáng mát, ấm về mùa đông và
mát vào mùa hè. Tiêu độc khử trùng định kỳ chuồng nuôi, khi mua lợn mới về
nuôi cần phải biết rõ nguồn gốc, nuôi cách ly trớc khi nhập đàn, vệ sinh chuồng

[21]
Bệnh Đóng dấu lợn do vi khuẩn Erysipelotrix rhusiopathiae gây ra. Đây là vi
khuẩn bắt màu gram (+), không giáp mô, không sinh nha bào, không có lông nên
không di chuyển đợc. Đây là trực khuẩn nhỏ mảnh có hình sợi, là trực khuẩn tuỳ
tiện (sống đợc cả hiếu khí và yếm khí). Vi khuẩn có sức đề kháng cao với điều
kiện ngoại cảnh và tồn tại lâu trong lớp đất độn nền chuồng đợc vài tháng nên ngời
ta còn gọi là vi khuẩn thổ nhỡng. ở nhiệt độ cao dễ dàng diệt đợc vi khuẩn. Ngoài
ra vi khuẩn còn tồn tại ký sinh ở hầu, hang, hạch Amidan. Khi sức đề kháng của
cơ thể giảm sút, vi khuẩn trỗi dậy gây bệnh cho lợn.
Đặc tính nuôi cấy
Là vi khuẩn hiếu khí tuỳ tiện, nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn phát triển là
37
0C
, pH thích hợp là 7,2 - 7,6.
+ Môi trờng nớc thịt: Sau khi cấy 24h môi trờng hơi đục rồi trong, lắc có
vẩn lên nh mây bay rồi lại mất ngay, đáy ống có cặn màu tro trắng.
+ Thạch thờng: Khuẩn lạc dạng S nhỏ và trong nh hạt sơng.
+ Thạch máu: Vi khuẩn không gây dung huyết thạch máu, khuẩn lạc nhỏ li
ti, tròn và óng ánh nh hạt sơng.
+ Gelatin: Cấy chích sâu vào môi trờng, nuôi ở 28
0C
sau 5 ngày vi khuẩn
mọc lan ngang ra thành những lông nhỏ màu xanh tro giống hình bàn chải rửa ống
nghiệm, gelatin không tan chảy.
2.3.3.3. Triệu chứng
Thời kì nung bệnh 1 - 8 ngày, trung bình từ 3 - 5 ngày. Bệnh biểu hiện ở 3 thể:
Lợn bệnh bắt đầu ủ rũ, mệt mỏi, lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn, chui vào ổ nằm,
lợn sốt 42
0C
- 43

phòng
Nuôi dỡng, chăm sóc tốt
Vệ sinh chuồng trịa thờng xuyên, định kỳ tẩy uế chuồng trại.
Mua lợn ở nơi không có dịch, cách ly theo dõi 15 ngày mới nhập đàn.
Giết mổ đúng nơi quy định, kiểm soát giết mổ chặt chẽ.
+ Khi có dịch xảy ra:
Nhanh chóng cách ly lợn ốm, tiến hành điều trị, những con bị bệnh nặng
thì chúng ta nên thực hiện giết bỏ.
[23]
Tiêu độc triệt để chuồng trại: xử lý phân rác, thức ăn thừa, tẩy uế nền
chuồng bằng NaOH 2% hoặc nớc vôi, vôi bột.
Không mổ lợn và bán chạy lợn bừa bãi
Xác lợn chết phải chôn sâu giữa hai lớp vôi.
Tiêm phòng vacxin cho lợn khoẻ.
Công bố hết dịch 30 ngày sau khi lợn ốm cuối cùng khỏi bệnh hoặc
chết và đã thực hiện các biện pháp chống dịch, sát trùng tiêu độc đầy đủ.
Phòng bệnh bằng vacxin
Hiện nay ở nớc ta có 3 loại vacxin đợc dùng phổ biến:
+ Vacxin nhợc độc VR2: sản xuất bằng chủng vi khuẩn nhợc độc Đóng dấu
lợn chủng VR2. Vacxin an toàn và gây miễn dịch tốt cho lợn. Khi dùng tiêm dới
da cho lợn từ 1,5 đến 2 tháng tuổi trở lên. Liều dùng: 2ml/con. Sau 14 ngày lợn có
miễn dịch chắc chắn, thời gian miễn dịch đợc 7 - 9 tháng. lợn thịt tiêm 1 liều duy
nhất lúc 1,5 - 2 tháng tuổi.
+ Vacxin tụ dấu 3/2: Là loại cacxin nhị giá nhợc độc, một hỗn hợp bao gồm
ba phần canh khuẩn đóng dấu lợn và 2 phần canh khuẩn tụ huyết trùng nhợc độc.
Tiêm dới da cho lợn từ 2 tháng tuổi trở lên với liều lợng 3ml/con, sau 14 ngày có
miễn dịch cho cả 2 bệnh kéo dài, kéo dài 6 - 8 tháng.
+ Vacxin vô hoạt có formol và keo phèn: Vacxin rất an toàn, dùng liều 3 -
5ml/con, miễn dịch kéo dài 6 tháng. Ngoài ra còn có vacxin đa giá Farrowsure B
nhập ngoại phòng 3 bệnh cho lợn: đong dấu lợn, xảy thai do Parvo virus,

quan phủ tạng. Da có những vết, những mảng đỏ xẫm, tím bầm ở ngực, bong,
khôe. Phù nề dới da vùng hầu, cổ và bong rất nặng, tích nhiều nớc trong xoang
ngực, xoang bụng. Xoang bao tim cũng có lẫn nớc tích fibrin và máu. Phổi cũng
thể hiện bệnh tích khá đặc trng: phổi viêm tụ máu từng đám, có nhiều vùng gan
hoá, khi cắt thấy tổ chức phổi có vân, có hạt nhiều màu sắc, mô phổi cứng lên, có
nhiều ổ hoại tử. Phế quản, khí quản xuất huyết, có nhiều bọt nhớt màu hồng.
2.3.4.5. Chẩn đoán
- Chẩn đoán lâm sàng, giải phẫu bệnh lý và dịch tễ học
- Chẩn đoán vi khuẩn học
- Chẩn đoán huyết thanh học
[25]

Trích đoạn Xử lý số liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status