:G:trần đại nghĩa - Pdf 70

Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
1/20/2009 11:52:12 AM
Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngoài tinh thần yêu nước của
quân và dân ta còn có sự đóng góp của các loại vũ khí chiến đấu mà thế hệ sau không
thể quên công lao người đã sáng chế ra chúng. Đó là Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
với sự thành công của súng SKZ không giật.
Giáo sư Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913, tại xã
Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, Nam Bộ trong một gia đình nhà giáo
nghèo. Đây là một vùng giàu truyền thống cách mạng. Cha ông Phạm Văn Mùi là một
nhà nho nghèo thường dạy con theo các chuẩn mực đạo Khổng: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Mồ côi cha từ năm lên 6 tuổi, Phạm Quang Lễ do tiếp thu được truyền thống yêu nước
thương người của gia đình và có trí óc thông minh, đã được mẹ và chị hết lòng nuôi
dưỡng.

Năm 1926, Lễ học xong bậc tiểu học, tốt nghiệp hạng ưu và sau đó đỗ tiếp vào Trường
Trung học Mỹ Tho. Vì đỗ hạng ưu nên Lễ được cấp học bổng. Suốt bốn năm học ở bậc
trung học đệ nhất cấp, Lễ là học sinh xuất sắc, thường đạt điểm cao và đứng đầu về các
môn khoa học tự nhiên như toán, vật lý, hoá học. Năm 1930, Lễ tốt nghiệp trung học
phổ thông và tiếp tục học Trung học đệ nhị cấp Pê-trus Ký, một trường học nổi tiếng
của Sài Gòn. Trường quy định chặt chẽ giờ học, giờ nghỉ, giờ ăn, giờ ngủ nhưng đối
với những học sinh ham học như Lễ, giờ học trong nội quy còn quá ít. Anh và các bạn
đã nghĩ ra cách học. Khi có lệnh tắt đèn đi ngủ, họ chia nhau người vào nhà tắm, người
vào nhà cầu, bật đèn học tiếp. Thoạt đầu, các giám thị rất ngạc nhiên: nhà cầu đóng cửa
hàng giờ mà không có ai ra, nhà tắm đóng cửa mà không có tiếng xối nước. Sau đó
nhiều người phát hiện được mưu mẹo của Lễ và các bạn anh nhưng rồi nể họ là những
học sinh ham học nên phần đông giám thị cho qua. Cũng trong thời kỳ Lễ học Trung
học đệ nhị cấp Pê-trus Ký, có nhiều hoạt động chống thực dân Pháp nổ ra như hoạt
động của cụ Phan Bội Châu, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, các cuộc bãi công, bãi thị
do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức, khởi nghĩa Yên Bái. Các sự kiện đó khơi sâu
lòng yêu nước trong giới học sinh. Tuy nhiên, hầu hết đều bị thực dân đàn áp dã man và
bị thất bại. Một trong những nguyên nhân thất bại là vấn đề vũ khí: lực lượng cách

Ngay từ năm 1936, anh sinh viên Phạm Quang Lễ đã được nghe đến tên tuổi Nguyễn
Ái Quốc, từ thời điểm này, tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã định hướng về
mặt chính trị cho Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa sau này.
Sau khi tốt nghiệp các trường đại học (từ năm 1936 đến năm 1941), Phạm Quang Lễ đã
lần lượt làm việc tại ba công ty chế tạo máy bay của Pháp. Trong thời gian này, ông đã
thu thập thêm kiến thức về pháo, súng máy và bom mìn đồng thời quan sát các ụ súng
của quân đội Pháp chuẩn bị ứng chiến với phát xít Đức.
Tháng 9 năm 1946, ông cùng với một số trí thức khác theo Bác Hồ về nước để chuẩn bị
cho cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta. Lúc về nước, ông không mang
theo một thứ gì khác ngoài một tấn sách và tài liệu được đóng hòm dán nhãn ngoại
giao. Khi còn lưu tại Pháp, Bác Hồ đã hỏi ông hai câu:
Câu thứ nhất: "Ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu được không?" – Ông thưa: "Chịu
nổi".
Câu thứ hai: "Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không có, máy móc thiếu, liệu
chú có làm được việc không?" - Ông nói: "Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị mười một năm rồi
và tôi tin là làm được".
Ngày 5 tháng 12 năm 1946, trước Ngày Toàn quốc kháng chiến, tại Bắc Bộ Phủ, ông
được Bác Hồ giao cho một trọng trách. Bác nói: "Kháng chiến sắp đến nơi rồi. Hôm
nay, Bác quyết định giao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Chú sẽ
chăm lo vũ khí cho quân đội. Đây là việc đại nghĩa. Vì thế, từ nay Bác đổi tên cho chú
là Trần Đại Nghĩa..."
Ngày 12 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ đến thăm Trường Võ bị Sơn tây, cùng đi với bác
có Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Đại Nghĩa vừa được bác
bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục quân giới. Trước đông đảo cán bộ, học viên nhà trường,
Bác giới thiệu: “Bác vừa qua Pháp có dẫn về một chuyên gia vũ khí”. Mọi người hồ
hởi chào đón đồng chí Cục trưởng mới vừa bắt tay vào nhận nhiệm vụ.
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, Trần Đại Nghĩa với tư cách là một lãnh đạo và
một nhà khoa học, đã cùng với các đồng chí của mình và hàng ngàn công nhân kỹ thuật
trong cả nước hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình: sản xuất vũ khí cho quân đội
Việt Nam. Thành công về quân giới của chúng ta trong hai cuộc kháng chiến chủ yếu là

Vì những đóng góp to lớn đối với quân đội Việt Nam nói riêng và nhân dân Việt Nam
nói chung, Trần Đại Nghĩa được kết nạp vào Đảng năm 1949.
Ngày Quốc tế lao động năm 1952, Trần Đại Nghĩa được tuyên dương Anh hùng lao
động trong số bảy Anh hùng của Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn
quốc được tổ chức tại Việt Bắc. Bác Hồ trong một bài báo ký tên C.B đã viết về ông:
"Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về
phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến".
Năm 1996, giáo sư Trần Đại Nghĩa đã được Nhà nước trao Giao thưởng Hồ Chí Minh
với công trình: "Nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo súng Bazôka, súng SKZ, đạn
bay trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954". Trước đó, ông cũng
được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân
công hạng ba và Huân chương Quân công hạng nhất.
Những năm cuối đời, Giáo sư Viện Sĩ Trần Đại Nghĩa cùng gia đình trở về quê hương
miền Nam, sinh sống tại quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Với những cống
hiến cho đất nước, có một nhân cách lớn và lý tưởng sống cao đẹp. Giáo sư Viện sĩ
Trần Đại Nghĩa đã để lại sau lưng cả một huyền thoại.
Ông mất vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997, hưởng thọ 85 tuổi.
Được Đảng và Nhà nước tin tưởng, ông đã lần lượt đảm trách những chức vụ quan
trọng:
- Cục trưởng Cục Quân giới (12/1946-05/1954)
- Cục trưởng Cục Pháo binh (8/1949-11/1951)
- Thứ trưởng Bộ Công nghiệp (9/1950-9/1960)
- Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng (9/1960-2/1963)
- Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiến thiết Nhà nước (2/1963-3/1972)
- Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước (10/1965-8/1966)
- Phó Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần (8/1966-1/1977)
- Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam (1/1977-1/1983), tiền thân của Trung tâm Khoa
học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia ngày nay.
- Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học bách khoa Hà Nội.
- Đại biểu Quốc hội khoá II, III.

không phải là điều thiếu căn cứ.
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS. Tạ Quang Bửu, chúng tôi xin trích đăng một số
nội dung chính trong bài viết của tác giả Hàm Châu đăng trên trang Văn hóa Nghệ An.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc:

Ngay trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, ông đã mời một số nhà toán học
Pháp được tặng Huy chương Fields (được coi như Giải thưởng Nobel trong toán học)
như Laurent Schwartz, Alexandre Grothendieck sang thăm Việt Nam, đọc bài giảng về
các vấn đề toán học hiện đại nhất, để cập nhật kiến thức cho đội ngũ nghiên cứu toán
học nước ta.
Ông là người đề xướng và tổ chức thực hiện việc thi tuyển sinh đại học và kiểm tra
kiến thức nghiên cứu sinh một cách công bằng, minh bạch. Ông cũng là một trong
những người chủ trương mở các lớp phổ thông chuyên toán ở nước ta vào năm 1965, từ
đó đào tạo được mấy thế hệ các nhà khoa học tài năng cho đất nước. Ông mạnh dạn
đưa học sinh ta đi dự các Olympic Toán Quốc tế ngay từ mùa hè năm 1974, khi nửa
nước còn chiến tranh giải phóng. Nhiều học sinh chuyên toán thời ấy, về sau, đã trở
thành những nhà toán học, nhà vật lý, nhà cơ học hay nhà quản lý khoa học và giáo dục
có tiếng...
Giáo sư Tạ Quang Bửu.
Bộ óc bách khoa
Có người cho rằng “Tạ Quang Bửu là một bộ óc Lê Quý Đôn thời nay”. Nhận định ấy
cần có thêm thời gian để bình tĩnh kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể nói ngay rằng đó
không phải là điều thiếu căn cứ.
Tạ Quang Bửu sinh ngày 23/7/1910 tại làng Hoành Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Cha là cụ cử nhân nho học Tạ Quang Diễm.
Mẹ là bà Nguyễn Thị Đào (tức nữ sĩ Sầm Phố) có nhiều bài thơ vịnh cảnh nghèo, gửi
gắm chút tình non nước in trên các báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Thời Đàm...

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố Giáo sư Tạ Quang Bửu (23/7/1910 - 23/7/2010),
chiều qua 22/7, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận và lãnh đạo Văn phòng Bộ đã tới thăm

Ngay trong mấy năm đầu chống Pháp vô cùng khó khăn, ông liên tiếp cho ra mắt bạn
đọc nhiều cuốn sách như: Thống kê thường thức, Vật lý cương yếu, Nguyên tử - Hạt
nhân - Vũ trụ tuyến, và Sống. Mới đây, Nhà xuất bản Giáo Dục đã in lạicác tác phẩm
ấy.
Tại Hội nghị Văn hoá toàn quốc năm 1948 ở Việt Bắc, ông Nguyễn Xiển nói: “Trong
thời kỳ kháng chiến này, ông Bửu là nhà khoa học viết được nhiều nhất, do vậy có thể
ảnh hưởng nhiều nhất đến các thế hệ đương thời.” Rồi ông Xiển dự báo: “Với những
người mở đường như ông Bửu, ông Thiêm, chắc chắn nước ta sẽ có hàng trăm nhà toán
học có tài không kém nước khác”.
GS. Lê Văn Thiêm có lần kể lại: “Năm 1951, đến thăm anh Bửu tại một ngôi nhà lá
dùng làm trụ sở của cơ quan Bộ Quốc phòng giữa rừng Tuyên Quang, tôi kinh ngạc và
thú vị khi thấy, tuy chìm ngập trong công việc, anh vẫn dành thời gian đọc các sách báo
toán nổi tiếng qua tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức...”.
GS Bửu có thói quen đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc, đọc rất nhanh, nhớ rất lâu. Có lần
qua châu Sơn Dương, ngồi trên lưng ngựa, mải mê đọc Nicolas Bourbaki, ông ngã tòm
xuống suối! Về sau, ông viết cuốn Về cấu trúc của N. Bourbaki (1960). Và, cuốn sách
giới thiệu khoa học hiện đại cuối cùng của GS. Bửu là cuốn Hạt cơ bản in sau khi ông
qua đời.
Theo GS. Thiêm thì “năng lực tự học của anh Bửu gần như là một thiên huyền thoại!”
Nhà ngôn ngữ học toán học người Mỹ Noam Chomsky, người được tạp chí Mỹ
Newsweek (Tuần Tin tức) đánh giá là “một trong những nhà bác học lớn nhất thế kỷ
20”, nhiều lần sang thăm Việt Nam và trò chuyện với GS Tạ Quang Bửu. Trở về Mỹ,
N. Chomsky viết bằng tiếng Pháp: “Monsieur Ta Quang Buu est un homme d’une
intelligence formidable!” (Ông Tạ Quang Bửu là một người thông minh khủng khiếp!).
GS. Bửu còn là người tinh thông nhiều ngoại ngữ. Ông Nguyễn Xuân Huy cho biết:
Hồi Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta nhận được pháo phòng không của Liên Xô
(cũ), kèm theo một bản hướng dẫn cách sử dụng máy ngắm bắn máy bay bằng tiếng
Nga. Ông Huy không biết nhờ ai dịch, bởi vì lúc đó ở Bộ Quốc phòng chỉ có phiên dịch
tiếng Trung Quốc. Nghe nói trên Bộ có ông Bửu chỉ tự học ba tháng đã đọc hiểu tiếng
Nga, ông Huy liền cuốc bộ suốt một ngày một đêm lên gặp.

Sách, Đàm Trung Đồn, Vũ Thanh Khiết, Nguyễn Lân Dũng, Đặng Vũ Minh, Nguyễn
Văn Điệp, Hà Huy Khoái, Ngô Huy Cẩn (tiến sĩ khoa học cơ học, thân phụ nhà toán
học Ngô Bảo Châu), v.v.
GS. Nguyễn Văn Hiệu, nhà vật lý Việt Nam được tặng Giải thưởng Lenin và Giải
thưởng Hồ Chí Minh về khoa học - kỹ thuật, kể lại: “Đầu năm 1958, tại giảng đường
Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, GS. Tạ Quang Bửu thuyết trình về phát minh vật lý
mới đoạt Giải thưởng Nobel của hai nhà bác học người Mỹ gốc Hoa là Lý Chính Đạo
và Dương Chấn Ninh về sự không bảo toàn tính chẵn lẻ trong tương tác yếu. Buổi
thuyết trình hôm ấy đã mang đến cho tôi một niềm hứng thú vô biên và đột ngột mặc
dù, vào lúc đó, tôi chưa thật hiểu rõ nội dung phát minh nói trên. Tương tác yếu trở
thành một đề tài nghiên cứu mang tính thời sự nóng hổi, hấp dẫn đến mức có nhà vật lý
nước ngoài từng quả quyết: “Trái tim tôi thuộc về tương tác yếu!” Tôi cảm thấy câu nói
đó không xa lạ đối với chính mình. Cho nên, ngay sau khi được cử sang làm việc tại
Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna ở Liên Xô, tôi say mê lao vào nghiên cứu
lĩnh vực nói trên và chẳng bao lâu sau, công bố 12 công trình về neutrino…”.
GS. Ngô Việt Trung, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba, Viện trưởng
Viện Toán học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho biết: “Tôi còn nhớ
đó là một buổi chiều chớm lạnh giữa thập niên 70 thế kỷ trước. Sau giờ làm việc, GS.
Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, sang công tác tại
CHDC Đức, cho gọi tôi và vài anh em ta đang học tập, nghiên cứu tại đây đến khách
sạn, nơi ông lưu trú. Lúc bấy giờ, tôi đang theo học Đại học Berlin. GS. Bửu thân mật
hỏi chuyện chúng tôi và, đối với riêng tôi, ông cho mượn một cuốn sách chuyên khảo
thuộc chuyên ngành tôi đang nghiên cứu, rồi căn dặn nên đọc thêm những nhà toán học
nào ở phương Tây, bởi vì, theo ông, trong chuyên ngành này, các công trình của các
nhà toán học CHDC Đức và các nước xã hội chủ nghĩa khác chưa phải là tiên tiến nhất.
Cuộc trò chuyện kéo dài đến quá nửa đêm. GS. Bửu bảo chúng tôi ngủ lại tại phòng
ông. Nhưng trong phòng chỉ có… một cái giường! Ông nêu ra “sáng kiến”: Tất cả ngủ
ngay dưới sàn nhà bởi vì, theo ông, sàn có trải thảm len, không sợ lạnh… Tôi cảm thấy
ngành khoa học và giáo dục nước ta, vào thời điểm ấy, đã có một nhà lãnh đạo tài, đức
tuyệt vời. Vì vậy, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ khoa học toán học ở nước bạn, tôi vui vẻ trở

hàng hải, khai thác than và in ấn.
Bạch Thái Bưởi đã được nhiều doanh nhân Việt Nam sau này coi là một tấm gương
sáng. Những tôn chỉ nghiêm túc trên thương trường của ông như thương phẩm, thương
hội, tín thực, kiên tâm, nghị lực, trọng nghề, thương học, giao thiệp, tiết kiệm và coi
trọng hàng nội hóa được thương nhân sau này đánh giá là đã đã lấp đầy 10 khiếm
khuyết cơ bản của doanh nghiệp Việt Nam mà Lương Văn Can đã từng chỉ ra. Khi
nhận định về ông, hội Khai trí Tiến Đức cho rằng: Ông là một bậc vĩ nhân đất Bắc, một
bậc trượng phu nơi thương trường mà cuộc đời của ông đáng phô bầy cho quốc dân, sự
nghiệp của ông đáng làm gương cho các nhà buôn bán noi theo. Ứng Hoè Nguyễn Văn
Tố trong Hội truyền bá chữ quốc ngữ viết về Bạch Thái Bưởi trong tạp chí Đông
Thanh: Bậc anh hùng kinh tế thứ nhất trong kinh tế giới nước nhà.
Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874 trong một gia đình nông dân nghèo ở làng An Phúc,
Thanh Trì, Hà Đông (nay là ngoại thành Hà Nội).Gia đình ông vốn họ Đỗ nhưng vì cha
mất sớm, ông phải phụ giúp mẹ kiếm sống bằng nghề bán hàng rong. Sau có một người
nhà giàu họ Bạch nhận ông làm con nuôi và cho ăn học, ông mới đổi từ họ Đỗ sang họ
Bạch. Sau thời gian học quốc ngữ và tiếng Pháp; ông bỏ học đi làm ký lục cho một
hãng buôn của người Pháp ở phố Tràng Tiền, Hà Nội. Khi đó ông có tên là Ký Năm.
Năm 1895, nhân dịp Bắc Kỳ có gian hàng triển lãm tại hội chợ Bordeux (Pháp), Phủ
thống sứ Bắc Kỳ cần một người Việt Nam thạo tiếng Pháp giới thiệu các mặt hàng
trưng bày. Thế là chàng thanh niên Bạch Thái Bưởi, mới 21 tuổi, được chọn đi dự đấu
xảo. Lúc này ông có dịp sang Pháp, tiếp xúc trực tiếp với văn minh phương Tây. Về
nước, ông tiếp tục làm việc cho hãng thầu công chính thêm nửa năm. Lúc ấy người
Pháp đang chuẩn bị làm cầu Long Biên, Bạch Thái Bưởi xin vào làm đốc công ở công
trình này. Khi người Pháp xúc tiến việc mở đường sắt nối liền Bắc-Nam, nhận thấy nhu
cầu tà-vẹt gỗ rất lớn, Bạch Thái Bưởi dốc hết vốn liếng dành dụm bấy lâu hùn với một
người Pháp vào việc lãnh thầu cung cấp tà-vẹt cho công trình này. Suốt 3 năm ròng,
ông lùng khắp rừng sâu, núi thẳm tìm cho được gỗ thật bền, thật tốt để đáp ứng yêu
cầu, gây uy tín với người Pháp. Sau vụ làm ăn này, ông được số tiền lời trên mấy vạn.
Rồi ông bỏ vốn, xoay sang buôn ngô, nhưng lần này vận may không đến nên ông bị lỗ
nặng, mất gần hết vốn tích cóp được từ mấy năm buôn gỗ. Chỉ còn ý chí kinh doanh

là đáng khuyến khích, bỏ tiền vào, giúp cho chủ tàu đỡ bị lỗ, đủ sức cạnh tranh. Kết
quả hành khách đều bỏ tàu Hoa mà đi tàu Việt.
Cuối cùng nhờ vậy ông đã thắng. Đội tàu của ông không những vượt qua sóng gió mà
còn lớn mạnh, được bổ sung bằng những đội tàu của công ty Pháp, Hoa bị phá sản như:
Marty d’Abbadie, Desch Wanden… Năm 1915, ông còn mua lại xưởng đóng và sửa
chữa tàu của R.Marty.
Sau bảy năm kinh doanh trên sông nước, Bạch Thái Bưởi đã tạo dựng một cơ ngơi
khép kín từ chạy tàu đến đóng tàu, sửa chữa tàu và các chi nhánh ở nhiều nơi. Năm
1916, ông chuyển trụ sở từ Nam Định vào Hải Phòng và đặt tên cho hãng là “Giang hải
luân thuyền Bạch Thái Công ty”, với lá cờ hiệu màu vàng có hình mỏ neo và ba sao đỏ.
Năm 1917, Hãng Deschwanden của Pháp bị phá sản, Bạch Thái Bưởi mua lại sáu chiếc
tàu khác của hãng này. Ngày 7/9/1919, công ty của Bạch Thái Bưởi đã làm rạng danh
ngành hàng hải Việt Nam khi cho hạ thủy tại Cửa Cấm (Hải Phòng) chiếc tàu Bình
Chuẩn hoàn toàn do người Việt thiết kế, thi công. Con tàu Bình Chuẩn dài 42m, rộng
7,2m, cao 3,6m, trọng tải 600 tấn, động cơ compound 450 mã lực, chạy bằng hơi nước
có dung tích tám mét khối, vận tốc đạt 8 hải lý/giờ. Tàu Bình Chuẩn chạy chuyến đầu
tiên từ Hải Phòng cập bến Sài Gòn ngày 17/9/1920, trong sự đón chào nồng nhiệt của
giới công thương Sài Gòn lúc đó.
Công ty của Bạch Thái Bưởi bắt đầu mở rộng tầm hoạt động khắp Đông Dương và các
nước lân cận như Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật, Singapore…Nhưng đỉnh cao phát
triển của công ty là khoảng cuối thập niên 1920 đầu 1930, khi ấy công ty có trên 40 con
tàu, với số lượng nhân viên lên tới 2.500 người làm việc trên các đội tàu, xưởng đóng
tàu. Văn phòng và chi nhánh của công ty có ở các thành phố lớn như Hà Nội, Nam
Định, Tuyên Quang, Việt Trì, Bến Thủy, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Sài Gòn…
Đến những năm cuối thập ký 20 của thế kỷ trước, Bạch Thái Bưởi đã có trên 40 chiếc
tàu và nhiều sà lan. Đội tàu hùng hậu của ông, treo lá cờ hiệu màu vàng có hình mỏ neo
và ba ngôi sao đỏ, chạy hầu hết các tuyến đường sông Bắc Kỳ, chạy ven biển cả nước
và đã có những chuyến tàu vươn ra các nước như Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản,
Philippin, Xingapo… Bạch Thái Bưởi đã từ sông vươn ra biển và nuôi mộng vượt đại
dương.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status