Kết luận về trình độ phát triển con người tại Việt
Nam hiện nay và những kiến nghị
1.1 Trình độ phát triển con người của Việt Nam hiện nay
Báo cáo Tuổi thọ GDP Giáo dục HDI
Năm
Tính
cho
năm
Tuổi
thọ bình
quân
trung
bình
(năm)
Chỉ số
GDP
bình
quân
đầu
người
(PPP
USD)
Chỉ số
Tỷ lệ
biết
chữ
của
người
lớn
(%)
Số năm
1994 1992 63,4 0,62 1.250 0,42 88,6 4,9 năm 60,7 - 0,514 116/160
1995 1992 65,2 0,63 1.010 0,38 91,9 49 0,78 0,539 120/174
1996 1993 65,5 0,63 1.040 0,39 92,5 51 0,79 0,540 121/174
1997 1994 66,0 0,63 1.208 0,42 93,0 55 0,80 0,557 121/175
1998 1995 66,4 0,64 1.236 0,42 93,7 55 0,81 0,560 122/174
1999 1997 67,4 0,71 1.630 0,47 91,9 62 0,82 0,644 110/174
2000 1998 67,8 0,71 1.689 0,47 92,2 63 0,83 0,671 108/174
2001 1999 67,8 0,71 1.860 0,49 93,1 67 0,84 0,682 101/162
2002 2000 68,2 0,72 1.996 0,50 93,4 67 0,84 0,688 109/173
2003 2001 68,6 0,73 2.070 0,51 92,7 64 0,83 0,688 109/175
2004 2002 69,0 0,73 2.300 0,52 90,3 64 0,82 0,691 112/177
2005 2003 70,5 0,76 2.490 0,54 90,3 64 0,82 0,704 108/177
2006 2004 70,8 0,76 2.745 0,55 90,3 63 0,81 0,709 109/177
2007 2005 73,7 0,812 3.071 0,572 90,3 63,9 0,815 0,733 105/177
Chỉ số HDI và các chỉ số thành phần của Việt Nam
1
Trong những năm qua, chất lượng dân số ở nước ta được nâng lên không ngừng. Theo báo
cáo phát triển con người của UNDP, Việt Nam được coi như một ví dụ thành công tiêu
biểu cho nhóm các nước đang phát triển về khả năng tương tác cân bằng giữa phát triển
kinh tế và phát triển con người. Với nhiều nỗ lực thì chỉ số phát triển con người của nước
ta đã liên tục tăng, tuy nhiên vẫn chưa cao. Với HDI = 0.733, nước ta xếp thứ 105 trong
177 quốc gia được so sánh. Tóm lại, Việt Nam hiện nay vẫn là một nước có trình độ phát
triển con người trung bình trên thế giới.
1.2 Kiến nghị giải pháp nâng cao trình độ phát triển con người ở Việt Nam trong
thời gian tới
Để nâng cao trình độ phát triển con người Việt Nam, nhóm dựa vào việc phân tích tháp
nhu cầu của Maslow. Tháp nhu cầu gồm 8 bậc:
- Nhu cầu cơ bản (basic needs)
- Nhu cầu về an toàn (safety needs)
- Nhu cầu về xã hội (social needs)
sinh xã hội theo hướng mở rộng diện bao phủ phổ cập đến mọi người dân, để nhiều hộ
nghèo có mức thu nhập chi cho tiêu dùng ở ngay sát trên chuẩn nghèo được bảo vệ trước
tác động của các cú sốc trong bối cảnh hội nhập; cần phải có giải pháp đồng bộ, quy định
chặt chẽ cho người có thu nhập thấp trong vấn đề nhà ở như chính sách bán trả góp với
thời gian dài hạn không tính lãi suất…
Trong việc giảm sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, đặc biệt ở khu vực nông thôn,
miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, cần thúc đẩy việc đa dạng hoá thu nhập trong nông
nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm bớt việc làm nông nghiệp và tăng
việc làm phi nông nghiệp ở những vùng này. Tuy nhiên, Việt Nam cũng sẽ gặp phải một
thách thức là sự xuất hiện của nhóm nghèo mới do đất nông nghiệp bị thu hồi để
chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác. Vì thế, tác động xã hội của quá trình đô
thị hoá phải được đánh giá cẩn thận và cân nhắc đầy đủ trong quy hoạch đô thị, để
có thể thiết kế kèm theo những giải pháp phù hợp.
3
Trước những khó khăn và thách thức của "bẫy thu nhập trung bình", Việt Nam cần có các
chính sách đa dạng hoá loại hình bảo hiểm nhằm tăng cường khả năng tiếp cận của các
nhóm dân số, thúc đẩy các hình thức hoạt động kinh tế cho người cao tuổi nhằm đảm bảo
thu nhập và các điều kiện về đời sống…
2. Nâng cao chất lượng y tế
Nâng cao chất lượng cho các bệnh viện cơ sở bằng việc củng cố cơ sở hạ tầng, trang thiết
bị, đội ngũ thầy thuốc.
Nâng cao chất lượng điều trị các bệnh viện tuyến tỉnh cũng như tuyến Trung ưong nhằm
rút ngắn ngày điều trị hợp lý, tăng cường điệu trị ngoại trú chăm sóc sức khỏe tại nhà như
Bệnh viên Phụ sản Trung ương vừa triển khai nhằm giảm mật độ khám chữa bệnh nội trú.
Các nước tiên tiến thường tỉ lệ điều trị nội trú và ngoại trú là 1/4. Chúng ta cũng cần phấn
đấu đạt đến tỉ lệ này.
Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực thiết bị y tế theo hướng đào tạo theo nhu
cầu: xác định nhu cầu, xây dựng định biên, chuẩn hóa cán bộ chuyên trách về trang thiết bị
y tế tại các cơ sở y tế trong toàn ngành, ... rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành các
quy định về lệ phí cấp giấy phép nhập khẩu; lệ phí kiểm chuẩn, phí thử nghiệm chất lượng,
mình cũng như phổ cập cho các đối tượng chưa biết chữ (đặc biệt với các đối tượng ở vùng
đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu vùng xa và người dân tộc thiểu số).
Ngoài ra chính phủ cần tăng ngân sách cho giáo dục nhằm cải thiện cơ sở vật chất và hỗ
trợ những đối tượng khó khăn cũng như nâng cao chất lượng hơn trong giảng dạy. Hợp tác
và tranh thủ sự giúp đỡ của nước ngoài để nâng cao chất lượng giáo dục cũng như đào tạo
thêm các đội ngũ tri thức chất lượng cao như thạc sĩ, tiến sĩ tuy nhiên không nên ồ ạt mà
phải đề cao vấn đề chất lượng.
Sau đây nhóm sẽ trình bày mô hình thể hiện sự tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và
việc tăng trưởng trong giáo dục.
Như trên đã trình bày, nhân chỉ số kinh tế là K, chỉ số giáo dục là G. Gán cho mỗi nhân tố
kinh tế và giáo dục một ngưỡng giá trị (G
t
, K
t
). Như vậy G sẽ chia thành 2 miền, G
a
≥ G
t
gọi là miền trên gưỡng
,
G
b
≤ G
t
gọi là miền dưới ngưỡng. Tương tự ta cũng có 2 miền đối
với K. Kết hợp 2 hệ số giữa K và G (chỉ số K trên trục tung và G trên trục hoành) ta thu
được 4 vùng. G
t
và K
t