KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY XE MÁY XE ĐẠP THỐNG NHẤT - Pdf 71

KHẢO SÁT VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THỊ
TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY XE MÁY XE ĐẠP
THỐNG NHẤT.
I. Giới thiệu khái quát về Công ty Xe máy - Xe đạp Thống Nhất.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Vào những năm 50 nền kinh tế nước ta còn rất lạc hậu, sản xuất trong nước
hầu như không phát triển. Ở Hà Nội, do điều kiện sống còn thấp và nhu cầu thị
trường chưa cao cho nên sản xuất xe đạp lúc bấy giờ chỉ là một vài cơ sở nhỏ bé,
sản xuất cầm chừng. Ngày 30/06/1960 sau một thời gian dài hoạt động kém hiệu
quả và nhận thức được rằng việc hợp tác làm ăn, mở rộng quy mô sản xuất sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế cao, các hãng sản xuất xe đạp ở Hà Nội gồm có 3 tập
đoàn: Bình Định, Sài Gòn, Đồng Tâm và hãng xe đạp Dân Sinh của người Hoa đã
liên kết hợp nhất thành Công ty hợp doanh xe đạp Thống Nhất. Năm 1962 Công ty
chuyển thành nhà máy xe đạp Thống Nhất.
Nhà máy xe đạp Thống Nhất trực thuộc bộ công nghiệp nặng quản lý. Đến
1969, bộ công nghiệp nặng tách thì nhà máy trực thuộc Bộ cơ khí luyện kim.
Trong giai đoạn này, ngoài việc chuyên sản xuất khung xe đạp và một số phụ tùng
như vành sắt 650, ghi đông, pô tăng, nan hoa nhà máy còn nhận các bộ phận khác
của xe đạp ở hợp tác xã lân cận để phục vụ cho việc lắp ráp hoàn chỉnh. Năm 1978,
xí nghiệp xe đạp Thống Nhất tách khỏi Bộ cơ khí luyện kim trực thuộc sở công
nghiệp Hà Nội, xí nghiệp xe đạp Thống Nhất cùng với các xí nghiệp xe đáp khác
cùng trực thuộc sở tiến hành hạch toán nội bộ không có tư cách pháp nhân.
Năm 1981, liên hiệp các xí nghiệp xe đáp Hà Nội (Lixeha) ra đời theo quyết
định của UBND thành phố, xí nghiệp xe đạp Thống Nhất đóng vai trò là một thành
viên quan trọng, hạch toán độc lập có đầy đủ tư cách pháp nhân. Thời gian này xí
nghiệp vẫn đi sâu sản xuất các loại sản phẩm truyền thống là khung xe đạp, vành,
ghi đông, pô tăng, nồi, trục xe đạp.
Thời kỳ bao cấp đã kìm hãm sự phát triển của xí nghiệp trong một thời gian
dài, xí nghiệp không chủ động được về vật tư, về thị trường, về kế hoạch sản xuất.
Sản phẩm làm ra được tiêu thụ theo những địa chỉ mà Nhà nước định sẵn, Nhà
nước bao tiêu xe đạp của xí nghiệp sản xuất ra do vậy mà không được cải tiến mẫu

tăng thị phần tiêu thụ, đưa sản phẩm của mình lên đứng đầu toàn ngành. Chính vì
thế đến đầu năm 2000 số vốn của Công ty đã lên đến 10,456 tỷ đồng, trong đó số
vốn cố định chiếm 6,532 tỷ đồng, vốn lưu động chiếm 3,924 tỷ đồng.
Số vốn này chủ yếu do ngân sách cấp, vốn tự có không đáng kể.
Hàng năm, Công ty vừa nhận bổ sung của Nhà nước, vừa trích một phần từ
các quỹ để tăng vốn kinh doanh. Trong thời gian tới, khi dây truyền sản xuất mới
đi vào hoạt động chắc chắn Công ty xẽ còn gặt hái được nhiều thành công. Được
như vậy chính là sự cố gắng nỗ lực của các thành viên trong Công ty. Họ đang làm
việc hết mình vì sự sinh tồn, sự lớn mạnh của toàn Công ty và toàn xã hội.
2. Những đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty.
Từ xưa tới nay đối với người Việt Nam chiếc xe đạp là một phương tiện quý
giá, trong thời chiến nó góp phần vào thành công thắng lợi bởi nó giúp quân đội
làm xe thồ để vận chuyển lương thực đạn dược và cho tới nay ở thời bình thì nó
giúp cho người dân làm phương tiện đi làm, đi học, chủ yếu là các tiểu thương
dùng trong lưu thông buôn bán. Vì thế xe đạp là một thành quả quan trọng giải
quyết chủ lực trong đời sống người dân khi mức sống còn thấp. Do vậy ta thấy
chiếc xe đạp là phương tiện quan trọng trong đời sống người dân Việt Nam giàu
tính truyền thống. Cho dù thời chiến hay thời bình, người xưa hay ngày nay thì
những từ "xe đạp Thống Nhất" đã ăn sâu vào tiềm thức của người tiêu dùng. Trong
thời bao cấp có thời kỳ xe đạp Thống Nhất là sản phẩm độc quyền ở thị trường
miền Bắc và cho tới nay tuy rằng đã ra đời nhiều loại xe đạp thuộc nhiều cơ sở sản
xuất khác nhau nhưng xe đạp Thống Nhất vẫn giữ vững trên thị trường bởi Công ty
luôn quan tâm tới nhu cầu của khách hàng, đa dạng hoá mặt hàng, mở rộng chủng
loại sản phẩm.
Hiện nay trong danh sách mặt hàng của Công ty có tới hơn 10 mặt hàng với
mẫu mã đẹp, kiểu dáng phù hợp. Trong đó có một số mặt hàng chủ lực như Thống
Nhất nam, Thống Nhất nữ, Mifa, Mini 600, Mini 660 … Đây là những mặt hàng
chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm tiêu thụ của Công ty. Chính vì
vậy để tăng sản lượng tiêu thụ cần phải chú trọng vào những mặt hàng chủ yếu như
nâng cao chất lượng sản phẩm, hơn nữa cần phải cải tiến mẫu mã đối với những

nâng cao trình độ công nhân, bảo hộ lao động, điều hành kế hoạch tác nghiệp của
các phân xưởng.
3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban.
- Phòng công nghệ: Nghiên cứu các quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm
mới phụ trách công tác an toàn lao động, kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm.
- Phòng kinh doanh tổng hợp: cung ứng vật tư, thanh toán, quyết toán vật tư
lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Phòng tổ chức lao động tiền lương: Tổ chức cán bộ và nhân sự, công tác lao
động tiền lương, tổ chức các phong trào thi đua khen thưởng, kỷ luật.
- Phòng tài vụ: làm nhiệm vụ kế toán, có chức năng thu thập xử lý và cung
cấp thông tin kinh tế, phục vụ cho công tác quản lý, kiểm tra tình hình sử dụng vật
tư lao động, tiền vốn và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Ban thiết kế cơ bản: Tham mưu cho giám đốc về công tác thực hiện kế
hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, kế hoạch xây dựng sửa chữa nhỏ.
- Trung tâm dịch vụ: Tham mưu cho giám đốc về việc kinh doanh dịch vụ,
cho thuê tài chính, làm đại lý, giới thiệu sản phẩm cho Công ty.
- Phòng hành chính bảo vệ: Tổ chức công tác hành chính quản trị, tổ chức
huấn luyện, bảo vệ, tự vệ, thực hiện nghĩa vụ quân sự.
3.3. Nhiệm vụ các phân xưởng sản xuất:
Hoàn thành tốt kế hoạch sản xuất của Công ty giao tổ chức tốt các mặt hàng
quản lý nhằm phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và áp dụng
các thao tác tiên tiến, tăng năng suất và nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu
đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch tác nghiệp của phân xưởng, giữ gìn và sử
dụng máy móc thiết bị, bảo quản tốt các phương tiện dụng cụ sản xuất được trang
bị
II. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng đến việc mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
1. Đặc điểm về lao động.
Cùng với những thay đổi quan trọng về tổ chức sản xuất qua các thời kỳ, quy

3 Bậc thợ bình quân Bậc 5,3 5,5 5,7
Lao động của Công ty qua các năm từ 1998 đến năm 2000 biến động không
nhiều và xu hướng giảm. lao động gián tiếp hầu như không thay đổi, chủ yếu là
biến động của lao động trực tiếp. So với các ngành kinh doanh khác thì lao động
của Công ty có tuổi đời và bậc thợ bình quân tương đối cao, chứng tỏ Công ty có
đội ngũ lao động già, giàu kinh nghiệm trong sản xuất. Nhờ có họ mà sản phẩm
của Công ty tránh được những sai sót về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm được đảm
bảo, khắc phục được những điểm yếu, tồn tại của máy móc thiết bị lạc hậu. Hơn
nữa, ở họ lại có lòng nhiệt tình yêu nghề, sự tận tuỵ với công việc, hết lòng vì sự
nghiệp chung của Công ty. Chính điều này đã gắn bó và cùng Công ty trải qua
những bước thăng trầm, biến đổi. Mặc dù có những đóng góp to lớn, những công
lao nhất định đối với Công ty song lực lượng lao động có nòng cốt còn lại là những
người chậm chạp trong công việc tiếp thu công nghệ mới, nắm bắt nhu cầu của thị
trường.
Để khắc phục những khó khăn trên, Công ty đã quyết định đầu tư kinh phí cho
việc đào tạo cán bộ, kỹ sư về quản lý và kỹ thuật, nâng cao chất lượng lao động
giúp họ có những hiểu biết đầy đủ và mới nhất về trình độ quản lý và chuyên môn
nghiệp vụ …
Hàng năm, Công ty còn tổ chức thi nâng bậc thợ vừa để soát lại chất lượng lao
động, vừa khuyến khích công nhân làm việc vươn lên khẳng định mình.
Tình hình lao động của Công ty năm 2000 như sau:
Tổng số lao động 326 người
Trong đó: Lao động công nghệ: 174 người chiếm 53,4% tổng lao động
Lao động phục vụ: 96 người chiếm 29,4% tổng lao động
Lao động quản lý: 56 người chiếm 17,2% tổng lao động
Chất lượng lao động:
- Trình độ đại học: 32 người chiếm 9,8% tổng lao động
57,1% lao động quản lý
- Trình độ trung cấp: 24 người chiếm 7,4% tổng lao động
42,9% lao động quản lý

1996: 22.577 xe
1997: 33.163 xe
1998: 48.237 xe
1999: 51.787 xe
2000: 54.064 xe
Như vậy trung bình mỗi năm Công ty đã tăng sản lượng tiêu thụ lên tới hơn
10 nghìn xe, nhưng trong năm 2000 sản phẩm tiêu thụ của Công ty có tăng nhưng
chỉ tăng hơn 3000 chiếc so với năm 1998, như vậy tốc độ tăng là giảm so với các
năm trước. Điều này là do cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt không
những với sản phẩm cùng loại mà còn với các sản phẩm thay thế như các loại xe
gắn máy trên thị trường giá rất rẻ, hơn nữa thu nhập của người dân (đặc biệt ở thị
trường Hà Nội) cho nên họ chuyển sang đi xe máy. Tuy vậy doanh nghiệp vẫn tiêu
thụ được một số lượng không phải là nhỏ, nó thể hiện được nỗ lực của toàn bộ cán
bộ công nhân viên trong Công ty. Thị trường của Công ty ngày càng được mở
rộng, không chỉ ở các tỉnh phía bắc mà sang cả khu vực miền trung.
2.2. Dây chuyền công nghệ.
Đứng trước thực trạng máy móc thiết bị lạc hậu không đủ sức để đưa ra thị
trường những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao, Công ty Xe máy - Xe đạp
Thống Nhất đã quyết định đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất. Song do chỉ là một
Công ty có quy mô sản xuất trung bình, nguồn vốn ngân sách hạn hẹp, vốn đầu tư
cho công nghệ mỗi năm chỉ khoảng 30 đến 40 triệu đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status