Nhu cầumong muốn và yêu cầuSảnphẩmGiá trị chi phísự hài lòngTrao đổi, giao dịch và các mối quan hệThịtrườngMarketing và người làm Marketing
NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING VÀ
QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH MARKETING
Khái quát chung về chiến lược.
Chiến lược là thuật ngữ có nguồn gốc quân sự; trong quân sự thuật ngữ chiến
lược thường được sử dụng để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở
dự đoán được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương không làm. Sau
đó thuật ngữ này mới du nhập vào các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội.
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, chiến lược kinh doanh được triển khai áp dụng
khá rộng rãi trong lĩnh vực quản lý. Và quản lý chiến lược đã thực sự được khẳng
định như một hướng, một phương pháp quản lý hiệu quả. Ngày nay quản lý chiến
lược đã được áp dụng ở hầu hết các công ty ở các nước có nền kinh tế phát triển.
I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA CHIẾN LƯỢC MARKETING.
1.1 Khái niệm
Các định nghĩa cơ sở
Khái niệm về Marketing: là quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các
cá nhân, tập thể có thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo
ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.
Khái niệm này của Marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi sau: (và được
minh hoạ trong hình 1).
Sơ đồ 1: Những khái niệm cốt lõi của Marketing
Nhu cầu, mong muốn và yêu cầu.
Nhu cầu: là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.
Mong muốn: là một nhu cầu có dạng đặc thù, tương ứng với trình độ văn hoá
và nhân cách cao của cá thể.
Yêu cầu: là mong muốn được kèm thêm điều kiện có khả năng thanh toán.
Mong muốn trở thành yêu cầu khi có sức mua hỗ trợ.
Thị trườngnhà nước
Thị trườngtài nguyên
Thị truờnghàng hoá
Thị trườngngười tiêu dùngThị trườngngười sản xuất
Quản trị Marketing: là sự phân tích, hoạch định, thực hiện và kiểm tra các
trương trình đã đề ra, nhằm tạo dựng, bồi đắp và duy trì những trao đổi có lợi với
người mua mà mình muốn hướng đến trong mục đích đạt thành và mục tiêu của tổ
chức. Nói đơn giản quản trị Marketing là điều khiển nhu cầu.
Nhà quản trị Marketing: là người có thể tìm kiếm đủ số khách hàng cần thiết
để mua toàn bộ khối lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tại thời điểm đó.
Họ là người có một chức vụ do công ty uỷ quyền làm nhiệm vụ phân tích các tình
huống Marketing, thực hiện những kế hoạch đã đề ra và thực hiện các chức năng
kiểm tra.
Chiến lược Marketing: là một chuỗi những hoạt động hợp nhất dẫn đến một
ưu thế cạnh tranh vững chắc.
Hay theo Philip Kotler: chiến lược Marketing là một hệ thống luận điểm logic,
hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị, tổ chức tính toán cách giải quyết những
nhiệm vụ Marketing của mình. Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị
trường mục tiêu, đối với Marketing-mix và mức chi phí cho Marketing.
Chiến lược Marketing phải xác định chính xác phần thị trường mà công ty cần
tập trung những nỗ lực cơ bản của mình vào đó. Những phần thị trường này khác
nhau về các chỉ tiêu, mức độ ưa thích, phản ứng và thu nhập. Công ty sẽ phải hành
động khôn ngoan, tập trung nỗ lực và công sức vào nhưng phần thị trường mà có
thể phục vụ tốt nhất, xét theo góc độ cạnh tranh. Đối với mỗi phần thị trường mục
tiêu được chọn cần xây dựng một chiến lược Marketing riêng.
1.2 Vai trò và vị trí của chiến lược Marketing trong công ty
Căn cứ vào kế hoạch Marketing có thể xây dựng những phần khác trong kế
hoạch của công ty cụ thể như chương trình hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, cung
ứng, sản xuất, nhân sự, tài chính... Kế hoạch Marketing là một công cụ trung tâm
để chỉ đạo và phối hợp nỗ lực Marketing. Mỗi công ty muốn nâng cao hiệu quả
Marketing và hiệu suất của mình đều phải học cách xây dựng và thực hiện những
kế hoạch Marketing có căn cứ.
Kế hoạch Marketing gồm các chiến lược Marketing và các chương trình hỗ trợ.
Thực hiện tốt các chiến lược Marketing giúp công ty tiến hành các kế hoạch
nhu cầu và khả năng thanh toán của sản phẩm mà doanh nghiệp dự định cung ứng
cho thị trường để thực hiện giá trị của sản phẩm, còn đối với người tiêu dùng họ lại