(Luận văn thạc sĩ) hoàn thiện chính sách thuế đối với nhà thầu nước ngoài tại việt nam - Pdf 71

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN HIỆP HƯNG

HỒN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỐI VỚI NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN HIỆP HƯNG

HỒN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỐI VỚI NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM
Chuyên Ngành: Kinh tế - Tài chính - Ngân Hàng
Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐỊNH

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2011



MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI
1.1.
Tổng quan về thuế đối với nhà thầu nước ngoài
Trang 1
1.1.1. Sự hình thành thuế nhà thầu nước ngồi
Trang 1
1.1.2. Khái niệm thuế nhà thầu nước ngồi
Trang 2
1.1.3. Vai trị của thuế nhà thầu nước ngoài
Trang 3
1.2.
Đặc điểm thuế nhà thầu nước ngoài
Trang 6
1.3.
Thuế nhà thầu nước ngoài tại một số nước
Trang 10
1.3.1. Thuế nhà thầu nước ngoài tại Nhật Bản
Trang 10
1.3.2. Thuế nhà thầu nước ngoài tại Đài Loan
Trang 12
1.3.3. Thuế nhà thầu nước ngoài tại Malaysia
Trang 13
1.3.4. Thuế nhà thầu nước ngoài tại Singapore
Trang 16

2.2.6. Một số trường hợp xác định doanh thu tính thuế
2.2.7. Quy định về đăng ký, kê khai, quyết tốn thuế
Trang 35
2.3.
Thực trạng thuế nhà thầu nước ngồi tại Việt Nam
Trang 32
2.3.1. Đặc điểm thuế nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam
Trang 32
2.3.2. So sánh thuế NTNN của Việt Nam và các nước
Trang 42


2.3.3. Các hạn chế của chính sách thuế NTNN tại Việt Nam
Trang 43
Kết luận chương II
CHƯƠNG III:
HỒN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGỒI CỦA
VIỆT NAM
3.1.
Định hướng hồn thiện chính sách thuế nhà thầu nước Trang 51
ngồi tại Việt Nam
3.2.
Các giải pháp hồn thiện chính sách thuế nhà thầu nước Trang 52
ngoài tại Việt Nam
3.2.1. Các giải pháp vĩ mô
Trang 52
Trang 58
3.2.2. Các giải pháp cụ thể
3.2.3. Các giải pháp hỗ trợ
Trang 61

Thu nhập doanh nghiệp

TNCN

Thu nhập cá nhân

GTGT

Giá trị gia tăng

XNK

Xuất nhập khẩu

TTĐB

Tiêu thụ đặc biệt

NĐT

Nhà đầu tư

CSTT

Cơ sở thường trú

WTO

Tổ chức thương mại thế giới


OECD

Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế Châu Âu

UN

Liên hiệp Quốc

USD

Đô la Mỹ, đơn vị tiền tệ của Mỹ

RM

Ringgit, đơn vị tiền tệ của Malaysia


DANH MỤC BẢNG, HÌNH

BẢNG
Bảng 1.1: Bảng thuế suất NTNN Malaysia .............................................. tr. 14
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp văn bản pháp quy về thuế NTNN .................... tr. 29
Bảng 2.2: Số thu NSNN năm 2010 các tỉnh thành phố ............................ tr. 37
Bảng 2.3: ĐTNN phân theo địa phương ................................................... tr. 38
BIỂU ĐỒ:
Biểu 1.1: Tổng thu thuế Singapore 2006-2010......................................... tr. 15
Biểu 1.2: Tỷ trọng các loại thuế 2009/2010 Singapore ........................... tr. 16
Biểu 2.1: Tỷ lệ các khoản thuế năm 2010 ............................................... tr. 36
Biểu 2.2: Số thu thuế nhà thầu nước ngoài 2005-2011 ........................... tr. 36
Biểu 2.3: Tỷ trọng thuế NTNN của các địa phương năm 2010 ............... tr. 39



hợp với lộ trình cải cách chung của ngành thuế, đáp ứng yêu cầu quản lý thuế
trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ yêu cầu trên, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài:
“ HỒN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỐI VỚI NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM”
II.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Vấn đề trọng tâm mà đề tài muốn giải quyết là trên cơ sở xem xét thực
trạng, phân tích những vấn đề cịn hạn chế, tìm hiểu ngun nhân và đưa ra
các giải pháp phù hợp để hồn thiện chính sách thuế đối với NTNN tại Việt
Nam. Thơng qua đó, giúp cho chính sách thuế NTNN nói riêng, và hệ thống
chính sách thuế nói chung đạt hiệu quả cao, góp phần vào công cuộc phát
triển nền kinh tế quốc gia và hội nhập kinh tế quốc tế.
III.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách thuế đối với NTNN và
những giải pháp hoàn thiện chính sách thuế này ở Việt Nam.
Về khơng gian, luận văn nghiên cứu trên địa bàn cả nước, trong đó tập
trung vào số liệu của thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà rịa - Vũng Tàu.
Đây cũng là ba địa phương dẫn đầu về ĐTNN, cũng như số thuế NTNN của
Việt Nam.
Về thời gian, giới hạn nghiên cứu của đề tài là các văn bản pháp quy
thuế đối với Nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam tới thời điểm hiện tại.
Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu chính sách thuế nhà thầu nước

luận; Bên cạnh đó tác giả sử dụng phương pháp thống kê lịch sử và phương
pháp tổng hợp số liệu để đánh giá về chính sách thuế đối với Nhà thầu nước
ngoài tại Việt Nam; Vận dụng kinh nghiệm của các nước làm cơ sở đề xuất
các giải pháp phù hợp nhằm hồn thiện hệ thống chính sách pháp luật thuế
của Việt Nam trong lĩnh vực này.


Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành ba chương:
Chương 1: Tổng quan về thuế nhà thầu nước ngoài.
Chương 2: Thực trạng thuế nhà thầu nước ngồi tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hồn thiện chính sách thuế nhà thầu nước ngoài
tại Việt nam.


-1-

CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ THUẾ NHÀ THẦU NƯỚC NGOÀI
1.1.

Tổng quan về thuế đối với nhà thầu nước ngồi

1.1.1. Sự hình thành thuế nhà thầu nước ngoài
Sự ra đời và phát triển của thuế là một tất yếu khách quan của lịch sử,
gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và Pháp luật. Sự xuất hiện Nhà
nước địi hỏi cần phải có của cải vật chất cần thiết chi cho hoạt động thường
xuyên của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho Nhà nước tồn tại, duy trì
quyền lực và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình. Và để duy trì sự
tồn tại thì cần thiết phải có những nguồn tài chính để chi tiêu, chính vì vậy, sự
hình thành nguồn thu từ thuế là tất yếu và khách quan.

động kinh doanh của các nhà thầu nước ngoài. Nhà thầu nước ngoài ở đây là
các tổ chức, cá nhân nước ngồi kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại
một nước trên cơ sở hợp đồng hoặc thoả thuận bằng văn bản giữa họ với tổ
chức, cá nhân của nước đó mà khơng hình thành nên một pháp nhân tại nước
có thu nhập phát sinh. Như vậy, nhà thầu nước ngồi là một hình thức kinh
doanh của các tổ chức, cá nhân nước ngồi khác biệt với các hình thức đầu tư
trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng
Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn
của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở
sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay cơng ty nước ngồi đó sẽ nắm quyền quản
lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Cịn đầu tư gián tiếp nước ngồi (tiếng Anh:
Foreign Indirect Investment, viết tắt là FII) là hình thức đầu tư vốn của cá
nhân hay công ty nước này vào nước khác mà nhà đầu tư không trực tiếp điều
hành cơ sở sản xuất kinh doanh, thường là qua thị trường tài chính như thị
trường trái phiếu, thị trường chứng khốn. Cịn nhà thầu nước ngồi chỉ hoạt
động theo các hợp đồng đã ký với bên ký hợp đồng của nước sở tại. Sau khi
kết thúc hợp đồng, hoạt động của nhà thầu nước ngoài cũng chấm dứt.


-3-

Trong các quy định về thuế của các nước, thuế NTNN thường được gọi
là Foreign Contractor Tax (FCT), Foreign Contractor Withholding Tax
(FCWT). Nó cịn được gọi là thuế khấu trừ tại nguồn (withholding tax), do
cách thu chủ yếu là được bên ký hợp đồng khấu trừ tiền thuế phải nộp của
nhà thầu nước ngoài trước khi trả tiền cho nhà thầu. Từ điển Oxford
Dictionaries định nghĩa: “Thuế NTNN là loại thuế được khấu trừ tại nguồn,
do các quốc gia đánh trên tiền lãi vay hoặc cổ tức của người cư trú bên ngồi
nước đó”. Các nước thường khơng có một định nghĩa riêng về thuế đối với
nhà thầu nước ngoài. Các điều khoản về thuế đối với nhà thầu nước ngoài

của các doanh nghiệp trong nước đáp ứng được các nhu cầu về xây
dựng, cung cấp máy móc thiết bị;
Trình độ về cơng nghệ cao, ít phải nhập khẩu cơng nghệ từ nước ngồi,
do vậy ít xuất hiện thuế nhà thầu nước ngồi đối với tiền bản quyền;
Lượng vốn đầu tư trong nước lớn, đáp ứng được nhu cầu đầu tư, do vậy
ít xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài đối với lãi vay.
Ngược lại với các nước phát triển, đối với các nước đang phát triển như
Việt Nam, số thu thuế nhà thầu nước ngồi đóng góp một phần khá quan
trọng trong tổng thu của ngân sách nhà nước từ thuế, do các nguyên nhân sau:
Các nước đang phát triển cần một nguồn vốn rất lớn trong quá trình đầu
tư của mình, do vậy cần vay từ các nguồn bên ngoài, làm xuất hiện thuế
nhà thầu nước ngồi đối với lãi vay;
Trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, cần nhập khẩu khoa học công
nghệ, do vậy xuất hiện thuế nhà thầu nước ngoài đối với tiền bản
quyền;
Khả năng của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, do vậy cần các
nhà thầu nước ngồi cung cấp nhiều dịch vụ, hàng hóa trong nước chưa
sản xuất được, đặc biệt đối với việc xây dựng các nhà máy, cơng trình


-5-

trọng điểm. Do vậy xuất hiện thuế nhà thầu nước ngồi trong lĩnh vực
cung cấp hàng hóa dịch vụ, xây dựng;
Các nước đang phát triển thường áp dụng mơ hình Hiệp định tránh đánh
thuế hai lần của UN, trong khi các nước phát triển thường áp dụng mơ
hình Hiệp định tránh đánh thuế hai lần của OECD. Mơ hình UN áp
dụng nguyên tắc đánh thuế tại nguồn, ưu tiên cho các nước đang phát
triển quyền được đánh thuế đối với các thu nhập có nguồn phát sinh từ
nước mình;


Đặc điểm thuế nhà thầu nước ngoài
Thuế NTNN là loại thuế đánh vào đối tượng là nhà thầu nước ngồi. Nó

bao gồm nhiều loại thuế khác nhau: thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN,
thuế XNK v.v... tương tự như đối với các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, thuế
NTNN có các đặc điểm chính sau:
Về lĩnh vực thu: Thuế NTNN chỉ xuất hiện chủ yếu ở một số loại hình hoạt
động sau:
Đầu tư dự án mới hoặc mở rộng đầu tư phải nhập khẩu máy móc, thiết
bị loại trong nước chưa sản xuất, chế tạo được, kèm theo dịch vụ đào
tạo, lắp đặt, chạy thử, bảo hành, …
Chuyển giao công nghệ, mua bản quyền công nghệ từ nước ngồi (ví
dụ: qui định hợp đồng chuyển giao cơng nghệ dây chuyền sản xuất sản
phẩm: trả phí cho bên chuyển giao trên giá bán tịnh của sản phẩm; hoặc
tiền chuyển giao công nghệ dạng nhãn hiệu thương mại tính phần trăm
trên doanh thu thuần…); trả tiền bản quyền xuất bản phẩm
Vay ngân hàng nước ngoài (lãi tiền vay)
Quảng cáo (tiền bản quyền) hoặc dịch vụ
Cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện cơng nghiệp, thiết bị khoa học,
thiết bị thương mại, phương tiện vận tải và các động sản khác dưới mọi


-7-

hình thức, kể cả các phần mềm đi kèm như phần mềm điều khiển, thiết
bị phụ trợ
Tư vấn, thiết kế (kể cả thiết kế qua Internet)
Dịch vụ thuê/mua dịch vụ
Về thời gian hoạt động của nhà thầu nước ngoài:

thu thuế. Tuy nhiên, cách thu này cũng có nhược điểm là ràng buộc nghĩa vụ
kê khai và nộp thuế của đối tượng nộp thuế - các NTNN - sang bên ký hợp
đồng. Các chế tài về thuế: phạt vi phạm kê khai, khai sai, khai thiếu, nộp
chậm tờ khai v.v... chuyển qua bên ký hợp đồng. NTNN khi ký hợp đồng có
thể chỉ cần biết số tiền mình nhận được khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ, cịn
các vấn đề về thuế do bên ký hợp đồng nước sở tại chịu trách nhiệm.
Về thuế suất:
Do đặc điểm của NTNN chỉ hoạt động trong thời gian ngắn, khơng thực
hiện chế độ sổ sách kế tốn như các doanh nghiệp trong nước nên việc kê
khai, tính thuế không áp dụng như đối với các doanh nghiệp trong nước. Để
tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình hành thu, thuế suất đối với các hoạt
động kinh doanh của NTNN thường được gộp lại theo từng nhóm có hoạt
động kinh doanh tương tự. Cũng do không thực hiện chế độ sổ sách kế toán,
việc xác định thuế TNDN thường theo tỷ lệ % trên doanh thu NTNN nhận
được. Tỷ lệ này cũng được xác định theo từng nhóm hoạt động kinh doanh
tương tự nhau, chẳng hạn: hoạt động dịch vụ; hoạt động xây dựng, hoạt động
thương mại v.v...
Quan hệ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần:
Thuế NTNN có quan hệ chặt chẽ với Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Các quy định về thuế đối với NTNN đều đề cập đến quan hệ giữa thuế NTNN
và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần. Quan hệ giữa thuế NTNN và Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần thể hiện ở các điểm sau:


-9-

Về nghĩa vụ nộp thuế: Trong các quy định về thuế NTNN đều khẳng
định việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với hoạt động
của NTNN. Trường hợp NTNN hoạt động tại nước ký kết hợp đồng
hình thành một Cơ sở thường trú theo định nghĩa tại từng Hiệp định

Philipines.

1.3.1. Thuế nhà thầu nước ngoài tại Nhật Bản
1.3.1.1. Tổng quan về Nhật Bản và Tổng Cục Thuế Nhật Bản
Nhật Bản có diện tích tổng cộng là 377.834 km² nằm xoải theo bên
sườn phía đơng lục địa châu Á. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười
thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người. Quốc gia này là thành viên của
tổ chức Liên Hiệp Quốc, G8, G4 và APEC.
Tổng Cục Thuế Nhật Bản thành lập từ năm 1949, bao gồm Văn phòng
Tổng Cục thuế, 12 Cục thuế vùng và 524 Chi Cục thuế quận huyện với
56.240 nhân viên (số liệu năm 2009 - NTA). Tổng thu NSNN năm 2009 là
88.548 tỷ Yên, trong đó thu từ thuế và phí là 46.143 tỷ n (tương đương 660
tỷ USD), chiếm 52,1% tổng thu NSNN. Thuế thu nhập, thuế cơng ty và thuế
tiêu thụ hàng hóa (như thuế GTGT) chiếm khoảng 80% tổng thu thuế. Cơ
quan thuế Nhật Bản đã đạt đến trình độ cao về áp dụng công nghệ thông tin
trong quản lý thuế. Cơ chế quản lý thuế đang áp dụng là cơ chế tự khai tự nộp
(Self-Assessment). Số cán bộ thuế làm công tác thanh tra, kiểm tra chiếm tới
80% tổng số cán bộ công chức ngành thuế.
1.3.1.2. Thuế NTNN tại Nhật Bản
Nhật Bản có 2 sắc thuế đánh vào đối tượng doanh nghiệp nước ngoài
đến kinh doanh tại Nhật Bản:
-

Corporation tax (tạm gọi là “thuế thu nhập doanh nghiệp”)

-

Withholding income tax (tạm gọi là “thuế khấu trừ tại nguồn”)
Trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm vào đối tượng nhận thu


Hệ thống thuế Đài Loan gồm có: Tổng Cục thuế (Tax Agency), 06 Cục
thuế khu vực. Hệ thống thuế được chia thành 2 loại:


- 12 -

+ Thuế Trung ương (National taxes): Thuế thu được sẽ đưa vào Ngân sách
trung ương.
+ Thuế Địa phương (Metropolitan, country & city taxes): Do địa phương thu
để phục vụ phát triển địa phương. Trước đây Thuế VAT do địa phương thu,
nhưng sau số thu từ VAT lớn nên thuế VAT đã được chuyển về Trung ương
quản lý.
Hiện nay, trong tổng số thu từ thuế, 70% số thu là thuế Trung ương,
30% là thuế Địa phương. Các dữ liệu về thuế do trung ương quản lý hay do
địa phương quản lý đều được tập trung về trung tâm dữ liệu tài chính. Tại Đài
loan có 3 loại thuế chiếm 50% tổng số thu của cả nước là: Thuế TNDN, thuế
TNCN, thuế VAT.
1.3.2.2. Thuế NTNN tại Đài Loan
Thuế NTNN được quy định tại Luật thuế TNDN, theo đó doanh nghiệp
thành lập theo luật pháp nước ngoài (doanh nghiệp nước ngoài) có hay khơng
có tồn tại cơ sở thường trú tại Đài Loan sẽ phải nộp thuế NTNN tại Đài Loan.
Thuật ngữ “cơ sở kinh doanh cố định” trong Luật thuế thu nhập của Đài Loan
nhằm chỉ một địa điểm cố định thực hiện hoạt động kinh doanh, bao gồm các
văn phịng điều hành, chi nhánh, xí nghiệp, cửa hàng, nhà kho, mỏ, công
trường xây dựng; không bao gồm nhà kho với chỉ sử dụng với mục đích mua
hàng và các cửa hàng không sử dụng cho việc chế biến hoặc sản xuất sản
phẩm.
Doanh nghiệp Đài Loan ký hợp đồng với doanh nghiệp nước ngoài sẽ
khấu trừ số thuế doanh nghiệp nước ngoài phải nộp trước khi trả tiền cho
doanh nghiệp nước ngồi. Số tiền thuế NTNN được tính trên tồn bộ số tiền

vòng một tháng kể từ thời điểm chi trả. Tất cả khác khoản thuế NTNN phải
được thực hiện theo mẫu quy định, đúng hạn, cùng với bản photo chứng từ do
bên nhận tiền phát hành và chứng từ thanh toán. Tổng thu thuế NTNN năm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status