VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ LAN
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ LAN
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ HÀ
NỘI
Ngành : Luật kinh tế
Mã số : 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Lê Mai Thanh
Hà Nội, năm 2020
Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội........................................................... 49
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ
TUỆ CỦA CỤC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỚ HÀ NỘI.........66
3.1. Phương hướng hồn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt
động hệ thống cơ quan Quản lý thị trường trong việc bảo vệ quyền
sở hữu trí tuệ........................................................................................................................ 66
3.2. Các giải pháp hồn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ của Cục quản lý thị trường thành phố Hà
Nội............................................................................................................................................. 70
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 82
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
QLTT:
Quản lý thị trường
SHTT:
Sở hữu trí tuệ
SHCN
Sở hữu cơng nghiệp
TRIPS:
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại
Nội. Qua thực tiễn, hoạt động này của Cục QLTT thành phố Hà Nội đã đạt
được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, thực
tiễn áp dụng pháp luật còn nhiều vướng mắc chưa đáp ứng được yêu cầu đặt
ra. Do vậy, cần phải nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể thực trạng bảo vệ
quyền SHTT thơng qua hoạt động mang tính chức năng của Cục Quản lý thị
trường thành phố Hà Nội để có giải pháp hồn thiện pháp luật cũng như nâng
cao hiệu quả công tác này trên thực tế.
1
Xuất phát từ những vướng mắc, bất cập này, tác giả đã chọn đề tài “Bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Cục Quản lý thi
trường thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, SHTT
ngày càng trở thành một trong những công cụ được sử dụng để nâng cao sức
cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế các quốc gia, trong đó có
Việt Nam. Do vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở
nước ta hiện nay để giải quyết được những thách thức trong quá trình phát
triển và hội nhập quốc tế có ý nghiaxm vai trò quan trọng hơn bao giờ hết.
Liên quan đến việc nghiên cứu pháp luật, đánh giá thực tiễn hoạt động bảo vệ
quyền SHTT thực tế đã có khá nhiều các cơng trình nghiên cứu, các bài viết
trên báo và các tạp chí chun ngành,… nổi bật là các cơng trình đã được
cơng bố sau: Bùi Thị Dung Huyền (2006), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng
biện pháp dân sự tại tồ án nhân dân”, Tạp chí Tồ án nhân dân, Số16/2006;
Tào Thị Huệ (2014), “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp kiểm soát
biên giới”, Tạp chí Luật học, Số 3/2014; Nguyễn Thanh Tú (2010), “Bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ: chế độ tài sản và chế độ trách nhiệm dưới góc độ pháp
trong cả nước, chưa được nghiên cứu tổng thể. Trên cơ sở tham khảo và kế
thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài
đã cơng bố, luận văn đi sâu nghiên cứu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp
luật Việt Nam từ thực tiễn Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích cứu luận văn:
Luận văn đánh giá pháp luật bảo vệ quyền SHTT và các biện pháp bảo
vệ trong đó đặc biệt bảo vệ thông qua thiết chế bảo vệ là cơ quan quản lý thị
trường tại đại bàn cụ thể - Hà Nội để có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện
pháp luật bảo vệ quyền SHTT và tăng cường hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền
SHTT tại Cục QLTT thành phố Hà Nội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn:
+ Luận văn sẽ phân tích lý luận chung về bảo vệ quyền SHTT; chỉ ra
những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền SHTT như: Căn cứ, các
biện pháp bảo vệ, thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; vai trị của cơ quan
QLTT và chức năng nhiệm vụ trong bảo vệ quyền SHTT..
+ Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền
SHTT qua thực tiễn tại Cục QLTT thành phố Hà Nội.
3
+ Trên cơ sở đánh giá đó, luận văn đưa ra những giải pháp hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền SHTT tại Cục QLTT
thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khn khổ có hạn của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả
giới hạn nghiên cứu đề tài vào một số nội dung cụ thể sau đây:
- Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực tiễn bảo vệ quyền
SHTT qua thực tiễn Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội;
Quản lý thị trường thành phố Hà Nội;
Phương pháp lập luận logic được sử dụng khi nghiên cứu đề xuất các
phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ theo pháp luật Việt Nam tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn có một số đóng góp nhất định khu trú vào một số vấn đề cụ
thể sau:
- Luận văn hệ thống hóa và góp phần bổ sung cơ sở lý luận về bảo vệ
quyền SHTT.
- Luận văn phân tích, bình luận, đánh giá tổng thể hoạt động bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ tại Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội trong những
năm qua.
- Luận văn đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật Việt Nam tại Cục Quản lý thị
trường thành phố Hà Nội.
- Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho những ai quan tâm tìm hiểu
về lĩnh vực pháp luật này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng từ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ qua hoạt động Cục Quản lý thị trường thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao
hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trí tuệ tại Cục Quản lý thị trường thành
phố Hà Nội
5
Quyển 15, chương 22 về nhãn hiệu; toàn bộ Quyển 17 về quyền tác giả;
Quyển 35 về văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp [27].
Hiệp định TRIPS dành toàn bộ phần II để nêu ra các đối tượng của
quyền SHTT, gồm quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn
địa lý, kiểu dáng công nghiệp, patent (văn bằng bảo hộ sáng chế), giống cây
7
trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bị mất và giúp chống các
hoạt động cạnh tranh không lành mạnh [20].
Sở dĩ các quốc gia không đưa ra định nghĩa quyền SHTT vì các đối
tượng của SHTT ln thay đổi. Trong mơi trường kinh doanh tồn cầu hóa,
thị trường ngày càng đơng đúc, khoa học cơng nghệ phát triển nhanh chóng
con người đã tạo ra nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện đại
nên đưa ra định nghĩa về SHTT thì định nghĩa sẽ nhanh chóng lỡi thời. Do đó,
pháp luật về quyền SHTT của nhiều nước quy định định nghĩa bằng cách liệt
kê các đối tượng của tài sản trí tuệ.
Theo pháp luật Việt Nam, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi
bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2019 Luật SHTT quy định: “Quyền
sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm
quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”. Như vậy, quyền SHTT bao gồm
các quyền sở hữu đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác phẩm khoa học,
sáng chế, kiểu dáng cơng nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn
hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và giống cây trồng.
1.1.1.2. Đặc điểm quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định cuả pháp luật, quyền SHTT là một loại quyền tài sản.
Quyền SHTT có những đặc điểm sau:
- Quyền sở hữu trí tuệ mang tính chất vơ hình
chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh sẽ được pháp luật SHTT bảo hộ vô thời hạn
khi những đối tượng này thỏa mãn các điều kiện theo như quy định của Luật
SHTT; các đối tượng sở hữu công nghiệp khác chỉ được pháp luật bảo hộ
trong một khoảng thời gian nhất định. Một trong những lý do quyền SHTT bị
khống chế như vậy là để đảm bảo nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu
tài sản SHTT và lợi ích xã hội bởi tài sản SHTT được con người sáng tạo ra
nhằm phục vụ cho cuộc sống của nhân loại được tốt hơn, do đó chủ sở hữu,
sau một khoảng thời gian được độc quyền sử dụng như khai thác giá trị
thương mại của tài sản trí tuệ do mình tạo ra, thì sản phẩm trí tuệ ấy phải được
nhân loại sử dụng thì mới có ý nghĩa [19].
- Quyền SHTT có tính lãnh thổ triệt để và bị giới hạn về không gian bảo
hộ Sự giới hạn bảo hộ và thực thi quyền trong phạm vi lãnh thổ mỗi quốc
gia cũng là một đặc điểm của loại tài sản này. Xuất phát từ điểm đặc thù này
nên tất cả các đối tượng SHTT ở lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan và
các đối tượng SHTT ở lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp sau khi được pháp
9
luật của một số quốc gia nhất định ghi nhận hoặc cơng nhận bảo hộ, thì các
quyền SHTT chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó [27].
1.1.1.3. Nội dung quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT là một loại quyền dân sự, các tác giả đồng thời là chủ sở
hữu của các loại tài sản này được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân và quyền
tài sản. Trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu hai quyền này
sẽ tách bạch giữa tác giả và chủ sở hữu. Quyền nhân thân được pháp luật trao
cho các tác giả sáng tạo ra những đối tượng SHTT được bảo hộ trong các lĩnh
vực văn học, nghệ thuật hay kỹ thuật. Quyền nhân thân được pháp luật bảo hộ
vô thời hạn (trừ quyền công bố tác phẩm) như quyền đặt tên cho tác phẩm,
quyền chuyển giao, chuyển nhượng quyền của mình. Nếu thiếu từ độc quyền
thì toàn bộ chế định về SHTT sẽ mất hết ý nghĩa bởi bất cứ ai cũng có thể ăn
cắp một sản phẩm sáng tạo, sáng kiến của các chủ thể quyền và làm giàu trên
công sức của những người lao động sáng tạo. Tuy nhiên, mặc dù quyền SHTT
là một dạng độc quyền song đây không phải là sự độc quyền mang tính tuyết
đối, trong một số trường hợp chủ sở hữu quyền SHTT sẽ khơng có quyền
ngăn cấm người khác sử dụng sản phẩm trí tuệ của mình nếu nó thuộc vào
những trường hợp pháp luật cho phép chủ thể khác sử dụng mà không cần xin
phép chủ sở hữu, những trường hợp này được gọi là giới hạn quyền SHTT.
1.1.1.4. Phân loại quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT bao gồm các lĩnh vực truyền thống đó là quyền tác giả,
quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Pháp luật về SHTT của Việt Nam quy định, quyền SHTT là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên
quan; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
- Quyền tác giả và quyền liên quan
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình
sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là
quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản
ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình
được mã hóa. Các tài sản quyền SHTT ở lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên
quan luôn được pháp luật bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản. Chủ sở
hữu quyền tác giả và quyền liên quan được độc quyền sử dụng và khai thác
tác phẩm của mình. Ngoại trừ những trường hợp được pháp luật cho phép sử
dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận
bút, thù lao thì mọi hành vi sao chép, dịch, cơng bố, phổ biến…nhằm mục
11
12
ghi âm, ghi hình, phân phối đến cơng chúng (Điều 29, 30, 31 Luật Sở hữu trí
tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2019).
- Quyền sở hữu công nghiệp
Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được hầu hết các nước trên thế
giới thừa nhận, bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch
tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa
lý. Có nhiều tiêu chí để phân nhóm các đối tượng của quyền sở hữu cơng
nghiệp, căn cứ vào tính sáng tạo của sản phẩm thì quyền sở hữu cơng nghiệp
có thể phân chia thành hai nhóm: quyền sở hữu cơng nghiệp đối với thành tựu
sáng tạo trí tuệ (sáng chế, kiểu sáng cơng nghiệp, bí mật kinh doanh và thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn) và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
thương mại (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và tên gọi
xuất xứ hàng hóa).
Nhóm quyền sở hữu trí tuệ là các thành tựu sáng tạo công nghệ là các
sản phẩm mang hàm lượng trí tuệ cao, có tính ứng dụng trong đời sống khoa
học, sản xuất để tạo ra các sản phẩm mới có giá trị sử dụng và kinh tế. Sáng
chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết
một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên. Kiểu dáng
cơng nghiệp là giải pháp mang tính mỹ thuật, dùng làm mẫu để chế tạo sản
phẩm công nghiệp, thủ cơng nghiệp. Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là
cấu trúc không gian của các phần tử mạch và các mối liên kết các phần tử đó
trong mạch tích hợp bán dẫn, được bảo hộ nếu có tính nguyên gốc và tính mới
về thương mại. Bí mật kinh doanh là những thông tin thu được từ hoạt động
đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh
doanh. Nhóm thứ hai là các đối tượng liên quan đến chỉ dẫn thương mại được
sử dụng phổ biến trong các hoạt động kinh doanh thương mại, là dấu hiệu để
Thứ nhất, SHTT là nhân tố đem lại sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục
cho chủ thể sở hữu và xã hội
Nhìn vào lịch sử phát triển của các quốc gia, nhất là các nước công
nghiệp phát triển, SHTT được đánh giá là loại tài sản chiếm vị trí quan trọng
nhất đối với sự tăng trưởng của đất nước. Với mỗi phát minh, sáng chế ra đời
và được bảo hộ, chủ thể sở hữu sản phẩm trí tuệ đó khơng những có được tỷ
lệ tiền bản quyền cao hơn và có giá trị thị trường cao hơn nhiều lần so với các
tài sản vơ hình khác, mà chính người mua quyền SHTT đó và người xin cấp
giấy phép sử dụng cũng vui lòng trả nhiều tiền hơn do có sự bảo hộ. Việc bảo
hộ này nhằm giảm rủi ro trong các giao dịch thương mại về quyền SHTT,
14
nhưng đồng thời cũng tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua việc cung cấp
các hiệp định bảo hộ và nhân lên nhiều lần giá trị sử dụng của các tài sản trí
tuệ đã được bảo hộ đó bằng việc thương mại hố chúng, chính việc thương
mại hố các tài sản trí tuệ đã đem lại cho chủ thể sở hữu cũng như những
người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó những lợi ích kinh tế.
Thứ hai, SHTT là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng
như nền kinh tế quốc gia trong hội nhập
Hiện nay, năng lực SHTT là một trong những năng lực nội sinh quan
trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Quốc gia, doanh nghiệp nào có được
càng nhiều quyền SHTT thì năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp
đó càng cao. Với các nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh thường thấp,
khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, cho nên để có thể phát triển bền vững và
hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của SHTT.
Cách hiệu quả nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về SHTT nhằm
xây dựng hệ thống SHTT có hiệu quả. Điều đó làm cho hoạt động SHTT xét
trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn tới chuẩn
câu hỏi đặt ra cho các nước đang phát triển khơng phải là có thiết lập hệ thống
bảo hộ SHTT hay không, mà phải là thiết lập như thế nào và vào lúc nào trong
quá trình phát triển kinh tế, kỹ thuật của đất nước sẽ là phù hợp cho việc áp
dụng một hệ thống bảo hộ toàn diện và hiệu quả [24].
1.1.2.2. Nhu cầu của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Quyền SHTT là một tài sản có tính đặc thù, được hình thành từ hoạt động
sáng tạo của con người và có tác dụng đem lại cuộc sống văn minh hơn cho con
người về cả mặt tinh thần và vật chất. Quyền SHTT khơng chỉ khuyến khích
người sáng tạo, nhà sáng chế mà những người khác có thể đưa ra những sáng chế
kế tiếp dựa vào những thông tin này. Tại thị trường sản phẩm và dịch vụ với các
chỉ dẫn thương mại của nhà kinh doanh cần được bảo hộ để thúc đẩy sản xuất.
Do đó, xã hội cần những biện pháp cụ thể để khuyến khích sáng tạo cũng như
bảo đảm thành quả đầu tư của doanh nghiệp, mặt khác nếu bảo hộ q chặt chẽ
thì sản phẩm trí tuệ sẽ không được xã hội khai thác triệt để.
Lợi ích xã hội sẽ tăng lên khi càng có nhiều người tiếp cận và sử dụng
tài sản trí tuệ ấy. Việc cung cấp miễn phí là đi ngược với các nguyên tắc thị
trường. Việc cung cấp miễn phí sẽ làm nảy sinh tình trạng hạn chế đầu tư hoặc
sáng tạo. Tình trạng này làm nản lịng các nhà đầu tư đồng thời nếu sử dụng
miễn phí sẽ làm mất đi động lực phát triển, cạnh tranh. Do đó, cần một cơ chế
quản lý nhà nước đứng ra bảo hộ quyền SHTT là một giải pháp tránh
16
hiện tượng kẻ ăn khơng sử dụng tài sản trí tuệ. Đề đảm bảo cân bằng lợi ích
giữa người chủ sở hữu và xã hội, Nhà nước phải duy trì việc bảo hộ quyền
SHTT trong một thời gian thích hợp.
Vấn đề bảo vệ quyền SHTT có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
quốc gia mà trước hết là quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền SHTT, chủ
các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Do đó, bảo vệ quan hệ pháp luật sẽ căn cứ
vào pháp luật; cụ thể là các văn bản pháp luật đảm bảo điều kiện cho việc
thực thi quyền và quy định các hình thức chế tài khi quyền đó bị xâm hại.
Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, những tranh chấp liên
quan đến việc xác lập quvền, sử dụng và chuyển giao các đối tượng thuộc
quyền SHTT thường phát sinh trong xã hội. Việc bảo vệ quyền SHTT là bảo
vệ quyền tài sản của các chủ thể và được hiểu dưới hai phương diện sau đây:
- Theo phương diện khách quan: Bảo vệ quyền SHTT là tổng hợp các
quy định của pháp luật được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp các chủ thể quyền
SHTT và các biện pháp xử lí hành vi xâm phạm quyền SHTT.
- Theo phương diện chủ quan: Bảo vệ quyền SHTT là những biện pháp
cụ thể được áp dụng để xử lí hành vi xâm phạm quyển sở hữu trí tuê tuỳ theo
tính chất, mức độ xâm phạm [19].
Theo từ điển Tiếng Việt, “Bảo vệ có nghĩa là giữ gìn cho khỏi hư
hỏng”, hay “Bảo vệ là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được
nguyên vẹn…”. Tựu chung lại, đa phần các từ điển, tài liệu đều thừa nhận bảo
vệ là chống lại sự xâm phạm, hủy hoại tài sản hay các lợi ích hợp pháp khác
nhằm giữ gìn, bảo đảm sự nguyên vẹn của các giá trị.
Bảo vệ quyền sở hữu hiểu theo cách thức thông thường là sự chống lại
mọi sự xâm phạm đến tài sản, qua đó, bảo vệ chủ sở hữu được thực hiện đầy
đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của
mình. Dưới góc độ pháp lý, bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là những biện
pháp trong khuôn khổ pháp luật tác động đến hành vi xử sự của con người,
nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu,
khắc phục thiệt hại vật chất cho chủ sở hữu.
Tóm lại, bảo vệ quyền SHTT là tổng thể các nguyên tắc, quy định pháp
luật và các biện pháp tương ứng được ghi nhận trong pháp luật nhằm xử lý
hành vi xâm phạm quyền SHTT và khắc phục hậu quả của hành vi đó.
Cho dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, bảo vệ quyền SHTT
bảo vệ, theo quy định của pháp luật nước ta, thẩm quyền xử lý hành vi xâm
phạm quyền SHTT thuộc về: Tồ án, thanh tra, quản lí thị trường, hải quan,
công an, uỷ ban nhân dân các cấp (Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005,
sửa đổi bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2019).
19
- Mục đích của bảo vệ quyền SHTT là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các chủ thể quyền SHTT; ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm
quyền SHTT.
Quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể được bảo vệ, tạo ra những điều
kiện để chủ sở hữu quyền SHTT có cơ hội khai thác có hiệu quả những thành
quả sáng tạo trí tuệ của con người trong sản xuất, kinh doanh. Pháp luật bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam tạo ra sự cân bằng lợi ích của các chủ thể
sáng tạo, các chủ thể khai thác, sử dụng sản phẩm sáng tạo nhằm đảo bảo các
lợi ích của các chủ thể có liên quan đến việc tạo ra và sử dụng các đối tượng
của quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện hữu hiệu, đồng thời ngăn chặn, chấm
dứt hành vi xâm phạm quyền SHTT. Đối với mỗi phương thức bảo vệ quyền
sở hữu khác nhau thì mục tiêu hướng tới cũng khơng giống nhau. Tùy từng
trường hợp trên thực tế và theo quy định của pháp luật, mỗi một trường hợp
bảo vệ quyền sở hữu có thể áp dụng các trường hợp khác nhau sao cho phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh.
1.2.2. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền
SHTT
Một trong những nội dung hết sức quan trọng mà chủ thể quyền SHTT
và các cơ quan có trách nhiệm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cần quan tâm, đó là
xác định hành vi xâm phạm quyền SHTT và nhận biết rõ ai là người xâm
phạm quyền SHTT. Việc xác định đúng hành vi xâm phạm quyền SHTT sẽ
giúp cho chủ thể quyền chủ động trong việc bảo vệ quyền cũng như yêu cầu