LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN - Pdf 72

LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN

Đối với không ít người Việt Nam, nghệ thuật trình diễn vẫn còn
là một loại hình thực hành nghệ thuật vô cùng xa lạ. Nó mới chỉ “rụt
rè” đan cài trong những hoạt động văn hóa khác hoặc “ẩn khuất”
trong không gian tư gia của một vài nghệ sĩ. Vậy mà ở phương Tây,
hình thức thực hành nghệ thuật này đã có trên nửa thế kỷ tồn tại và
phát triển. Lịch sử của nó không chỉ phản ánh sự vận động của nghệ
thuật đương đại Tây phương mà còn là một bản ghi trung thực của
tâm thế con người Tây phương hiện đại. Bài viết sau đây của nghệ sĩ
Như Huy sẽ cho chúng ta một cái nhìn khái quát về lịch sử loại hình
nghệ thuật này.
Bởi các mô hình vô cùng đa dạng và tính chất phù du, cũng như bởi
bản chất liên sản của nó, cái bản chất làm cho nó hiện diện ở khắp mọi
thời kỳ của lịch sử nghệ thuật phương Tây, cho tới giờ, người ta vẫn rất
khó minh định chính xác về điểm khởi đầu của nghệ thuật trình diễn. Một
số người (như Attanasio Di Fellice chẳng hạn), thậm chí còn tìm ra dấu vết
của các hình thái nghệ thuật trình diễn theo kiểu hiện đại trong các thực
hành nghệ thuật từ thời Phục Hưng, ví dụ như (đặc biệt trong) một số trò
đùa nghịch của Leonardo de Vinci, hoặc trong kỷ nguyên nghệ thuật
Baroque, thông qua những hiệu ứng gây kịch tính sân khấu của một số
họa sĩ như Bernini.
Tuy nhiên, dường như những lý lẽ thuyết phục hơn cả là những lý lẽ
định vị thời điểm ra đời của nghệ thuật trình diễn trong phạm vi thế kỷ 20.
Cho tới nay, về việc này, có hai quan điểm chính.
Quan điểm thứ nhất (ví dụ của Roselee Goldberg), mang đậm tính
lịch sử, cho rằng nghệ thuật trình diễn ra đời thông qua các thực hành
nghệ thuật của trào lưu vị lai (1909) và Dada (1916) hồi đầu thế kỷ XX, mà
“Tuyên ngôn vị lai” (Futurist Manifesto) của nhà văn Ý Filippo
Tomasso Marinetti đăng trên tờ Le Figaro vào 20 tháng Hai năm
1909 tại Paris chính là phát biểu tường minh đầu tiên về nghệ thuật trình

đã trở thành hình mẫu cho vô số các cuộc trình diễn khác trong hai thập
niên 1950, 1960, diễn ra vào năm 1952. Trong cuộc trình diễn đó, công
chúng được đề nghị ngồi thành 4 tam giác trong một khu vực hình vuông,
để tạo thành hai lối đi cắt nhau. Mỗi người được phát một chiếc cốc trắng.
Những bức bạch họa (White Painting) của Robert Rauschenberg, lúc này
vẫn đang chỉ là một sinh viên dự thính của trường, được treo trên cao.
Đứng trên một chiếc thang xây dựng, mặc một bộ comple đen, John Cage
đọc to bài viết “Mối quan hệ của âm nhạc và Thiền” và những trích đoạn từ
tác phẩm của Meister Eckhart. Sau đó, ông trình diễn một sáng tác âm
nhạc bằng một radio. Cùng lúc ấy, David Tudor chơi nhạc trên một chiếc
piano “biến thái” (prepared piano – tức piano với các dây đàn được gắn
bởi các vật liệu khác, như kẹp quần áo, dây điện, v.v., với mục đích thay
đổi âm thanh gốc của đàn)… Cứ thế, với sự xuất hiện đồng thời ngày
càng nhiều các hành vi kỳ lạ khác của Rauschenberg, Jay Watt, Charles
Olsen và Mary Caroline, Richard và Merce Cunningham, cuộc trình diễn
đã dần đạt tới cao trào của nó là một bầu không khí vô cùng hỗn loạn, vô
mục đích và làm cho những người tham dự hoàn toàn “không biết trước
được điều gì sẽ diễn ra sau mỗi hành vi” – như chính lời Jonh Cage xác
nhận sau này.
Tại trường Bauhaus, lần đầu tiên một lý thuyết về nghệ thuật trình
diễn đã được giới thiệu chính thức bởi Oskar Schlemmer, một họa sĩ và
điêu khắc gia gốc Stuttgart. Trong lý thuyết ấy, Schlemmer cho rằng hội
họa và điêu khắc thuộc hệ thống Appollo (vị thần Hy Lạp thiên về trí tuệ),
còn các dạng nghệ thuật trình diễn, biểu diễn thuộc hệ thống Dionysus, (vị
thần Hy Lạp thiên về bản năng, cảm xúc). Schlemmer cho rằng hội họa -
công cụ để mô tả không gian hai chiều - thuộc khu vực lý thuyết về không
gian, trong khi màn trình diễn trong không gian thực, không gian “trải
nghiệm”, lại cung cấp những “thực hành” để bổ sung cho chính khu vực lý
thuyết về không gian của hội họa.
Trường Hắc Sơn, một ngôi trường nhỏ nẳm giữa những ngọn núi và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status