PT hiệu quả SX của việc ứng dụng KHKT vào SX lúa của nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng - Pdf 72

PHẦN MỞ ĐẦU
I. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
“Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rong
Nhất nông nhì sĩ”
Câu châm ngôn xưa đã phần nào nói lên mối quan hệ tác động qua lại giữa
người nông dân và người trí thức. Ngày nay, mối quan hệ đó ngày càng chặt chẽ
hơn, thể hiện ở việc nông dân và cán bộ nghiên cứu, cán bộ nông nghiệp đã dần rút
ngắn khoảng cách. Nhà nghiên cứu thì tìm ra các nguyên lý, các biện pháp khoa
học để phục vụ cho nông dân, còn nông dân là người thực nghiệm, là người kiểm
chứng các kết quả đó.
Trước xu thế phát triển của các hoạt động kinh tế đã và đang dẫn đến việc đô
thị hóa các vùng nông thôn chuyên sản xuất nông nghiệp làm giảm diện tích canh
tác ở một số vùng trong cả nước. Do đó, để duy trì mức sản lượng nông sản đặc
biệt là lúa gạo thì các nước sản xuất nông nghiệp trong đó có Việt Nam đều xem
việc áp dụng kỹ thuật mới theo hướng sản xuất bền vững là một trong những giải
pháp ưu tiên được chọn trong quá trình sản xuất nông nghiệp.
Ngày nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đang được rất nhiều
nông dân quan tâm và thực hiện, bởi lẻ nó mang lại lợi ích cho chính người sản
xuất. Tuy nhiên, cùng áp dụng một mô hình khoa học kỹ thuật nhưng hiệu quả sản
xuất của mỗi nông hộ được nhìn nhận là khác nhau. Điều đó cho thấy mức độ áp
dụng của các hộ là khác nhau. Bên cạnh đó, nguồn lực của mỗi nông hộ khác nhau
cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến những khác biệt này. Nếu nông hộ biết tận
dụng tốt các nguồn lực sẵn có của mình kết hợp với việc ứng dụng các mô hình
khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất sẽ mang lại hiệu quả cao đồng thời cũng
nâng cao trình độ sản xuất cho bản thân. Xuất phát từ thực tế đó, em thực hiện đề
tài “Phân tích hiệu quả sản xuất của việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất lúa của nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng” để thấy tính
hiệu quả khi nông hộ ứng dụng các mô hình khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng
như các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, thu nhập ròng của nông hộ trên địa bàn
nghiên cứu.

– Các nhận định, đánh giá của các nhà chuyên môn, quản lí trong lĩnh vực
nông nghiệp và kinh tế cấp xã, huyện.
2
– Thu thập thông tin trực tiếp thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn nông hộ
trong vùng nghiên cứu (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng).
Đề tài nghiên cứu hiệu quả sản xuất của việc ứng dụng các mô hình khoa học
kỹ thuật. Sau khi tiếp xúc với cán bộ xã để nắm tình hình ứng dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất lúa của nông dân tại xã Phú Tâm, sau đó phân các hộ điều tra
thành 3 nhóm: nhóm hộ chỉ ứng dụng mô hình giống mới; ứng dụng mô hình
giống mới kết hợp IPM; ứng dụng cả 3 mô hình giống mới – IPM – 3 giảm 3 tăng;
còn các mô hình như sạ hàng, lúa – màu, lúa - thủy sản… ít được nông hộ ứng
dụng.
Toàn xã có 10 ấp, trong đó có 4 ấp có diện tích sản xuất lúa lớn nhất. Do giới
hạn của đề tài nên chỉ chọn 3 ấp làm đại diện là ấp Phú Thành A, Phú Thành B và
Phú Bình với cỡ mẫu là 60.
Do yêu cầu đặt ra là điều tra 3 nhóm hộ như trên nên ở đây dùng phương
pháp chọn mẫu phán đoán. Vì áp dụng phương pháp này nên phải dựa trên sự nhận
định của cán bộ xã để chọn ra thành phần nông hộ có triển vọng tốt, có khả năng
cung cấp dữ liệu chính xác. Tóm lại, khi dùng phương pháp này là dựa vào mục
đích nghiên cứu để chọn ra thành phần, đối tượng trả lời đúng và phù hợp. Phương
pháp này giúp ta chọn mẫu nhanh nhưng sai số lớn.
2. Phương pháp phân tích số liệu
– Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tần số để mô tả nguồn
lực của nông hộ, phân tích yếu tố giúp nông hộ quyết định áp dụng kỹ thuật mới...
– Phân tích hồi qui tương quan để xem xét mức độ ảnh hưởng của việc áp
dụng các mô hình khoa học kỹ thuật đến thu nhập ròng.
– Dùng phương pháp kiểm định giả thuyết để kiểm định có hay không có sự
liên hệ giữa diện tích và năng suất (kiểm định Chi-Square, kiểm định Mann –
Whitney); giữa việc ứng dụng các mô hình khoa học kỹ thuật khác nhau với năng
suất (kiểm định Kruskal Wallis), kiểm định trung bình giữa hai mẫu phụ thuộc

lúa.
Ngoài ra, đề tài chỉ nghiên cứu hiệu quả sản xuất lúa, không nghiên cứu các
thu nhập từ hoạt động nông nghiệp khác như: hoa màu, chăn nuôi, thủy sản… mà
các nguồn thu nhập này có thể có được từ áp dụng khoa học kỹ thuật thông qua
việc sản xuất theo mô hình kết hợp.
4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. CÁC KHÁI NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG BÀI VIẾT
1. Khoa học
Khoa học là sự tìm kiếm các quy luật khách quan chi phối các hiện tượng
tự nhiên, không phụ thuộc vào bất cứ sự quan tâm nào về các áp dụng kinh tế khả
dĩ, khoa học chỉ đơn giản là sự theo đuổi chân lý.
Như vậy, khoa học tập trung vào kiến thức, lý giải nguyên nhân sản sinh ra
kiến thức.
Kiến thức khoa học dễ dàng được truyền bá rộng rãi, không bị cản trở bởi
biên giới quốc gia. Kiến thức khoa học là sở hữu chung, không dễ bị chiếm hữu.
Phát triển khoa học tạo ra những tri thức mang tính chất tiềm năng. Mục đích của
khoa học là phát triển tối ưu các nguồn lực phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội.
Hoạt động khoa học được đánh giá theo giá trị khám phá, theo giá trị nhận thức,
quy luật tự nhiên (Viện kinh tế nông nghiệp, 1995).
2. Kỹ thuật
Trong nông nghiệp những kỹ thuật tiến bộ thể hiện rõ nhất là giống cây trồng
năng suất cao, giống gia súc đã được cải tạo… nhưng công nghệ thể hiện ở khâu
vốn đầu tư nghĩa là máy móc, hệ thống tưới tiêu. Tiến bộ công nghệ đã trở thành
hiển nhiên trong trồng trọt, chăn nuôi và trình độ quản lý của người nông dân.
Các nhà kinh tế cho rằng công nghệ là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có
hoặc trình độ kiến thức về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu
ra bằng vật chất nhất định. Đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức sao

cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả mang lại và chi phí
đầu tư. Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát
triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của
mọi thành viên trong xã hội.
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp nó gắn liền với những đặc điểm
của sản xuất nông nghiệp. Trước hết là ruộng đất là tư liệu sản xuất không thể thay
thế được, nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động. Đối
tượng của sản xuất nông nghiệp là các cơ thể sống, chúng sinh trưởng, phát triển
theo các quy luật sinh vật nhất định và cũng chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện
6
ngoại cảnh (ruộng đất, thời tiết, khí hậu). Con người chỉ tác động tạo ra những
điều kiện thuận lợi để chúng phát triển tốt hơn theo quy luật sinh vật chứ không
thể thay đổi theo ý muốn chủ quan.
– Hiệu quả xã hội: là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và tổng chi
phí bỏ ra.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau,
chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất

(Viện kinh tế nông nghiệp,
1995).
3.2. Hiệu quả sản xuất
Hiệu quả sản xuất được đo lường bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh
doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp được tính như sau:
Hiệu quả sản xuất = Thu nhập trên một đơn vị diện tích – Tổng chi phí sản
xuất trên một đơn vị diện tích
Trong đó:
Thu nhập trên một đơn vị diện tích = Giá bán * Sản lượng trên một đơn vị
diện tích
Tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị diện tích là tổng các chi phí phát sinh

trên một khu đất nhằm thu càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Sản xuất độc canh
thường gây ra những rủi ro sau:
– Dịch bệnh dễ phá hoại và kháng thuốc đối với sâu bệnh
– Giảm sút năng suất cây trồng
– Rủi ro về kinh tế lớn
– Giảm độ màu mỡ, phì nhiêu của đất đai, gây tác động xấu đến môi trường
5. Sản xuất theo kiểu luân canh
Luân canh là hình thức trồng luân phiên các loại cây trồng khác nhau trên
cùng một diện tích canh tác. Lợi ích của việc luân canh là:
– Duy trì độ phì nhiêu của đất đai
– Khắc phục được tình trạng kháng thuốc của sâu bệnh
– Đa dạng hóa sản phẩm của nông hộ góp phần tăng thu nhập
8
Tuy nhiên, khi lựa chọn luân canh phải nghiên cứu kỹ cây trồng về:
Mức độ tiêu thụ dinh dưỡng: có nghĩa là sau một loại cây trồng cần dinh
dưỡng cao thì trồng một loại cây trồng cần ít dinh dưỡng xếp theo mức độ dinh
dưỡng từ thấp đến cao theo thứ tự cây họ đậu, cây lấy củ, cây rau, cây ăn quả, cây
ngũ cốc… cây có mức độ tiêu thụ dinh dưỡng thấp nhất được đưa vào trồng, đưa
cây họ đậu vào luân canh cho đất là biện pháp thích hợp nhất.
Tính chất chịu được bệnh hại: xếp theo tính chất chịu được bệnh hại của cây
từ thấp đến cao là cây lấy củ, cây ngũ cốc, cây họ đậu, cây rau, cây ăn trái.
Hiệu quả kinh tế: hiệu quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh kết quả
kinh doanh với chi phí để đạt được kết quả đó.
6. Số liệu
6.1. Số liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu gốc được nhà nghiên cứu thu thập cho một mục
đích cụ thể về một vấn đề nghiên cứu nào đó. Dữ liệu sơ cấp của đề tài được thu
thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp nông hộ ở xã Phú Tâm (60 hộ) thông qua bảng
câu hỏi và phỏng vấn cán bộ nông nghiệp xã Phú Tâm và cán bộ nông nghiệp
huyện Mỹ Tú một số vấn đề liên quan đến đề tài.

rãi như giống: OM2517, OM2693, OM3242, OM2507, OM2717, OM2718,
MTL341, MTL325, đặc biệt là giống lúa cao sản, đặc sản ST3, ST5. Các giống lúa
này đã đạt năng suất từ 7 – 9 tấn/ha, hạt dài, gạo đẹp, thời gian sinh trưởng của
một số giống như OM2517, OM4495 chỉ còn khoảng 95 ngày.
2. Mô hình IPM
Những đối tượng dịch hại gây ra không chỉ riêng đối với cây lúa. Để giải
quyết một đối tượng gây hại giải pháp trước mắt thường là xịt lại nhiều lần các
loại thuốc nông dược.
Quan điểm kiểm soát dịch hại đã được thay đổi cùng với việc phát minh ra
những loại nông dược tổng hợp tiên tiến. Những loại thuốc này không mắc tiền và
dễ sử dụng, cho kết quả ngay. Suốt kỷ nguyên nông dược này quan điểm về việc
xử lý dịch hại có nghĩa là trừ tận gốc, phát hiện để diệt hết các dịch hại.
Quan điểm loại trừ triệt để nay đã được thay thế bằng quan điểm kiểm soát
hợp lý, mục đích là làm giảm mật số dịch hại đến mức độ nếu xử lý tiếp tục sẽ
không đem lại hiệu quả kinh tế. Mật số dịch hại thấp có thể chấp nhận được. Từ
quan điểm này đã được nghiên cứu, hình thành kỹ thuật IPM (Integrated Pest
Management) hay còn gọi là biện pháp tổng hợp phòng trừ dịch hại.
10
Biện pháp tổng hợp phòng trừ dịch hại là một chiến lược kế hoạch sử dụng
nhiều dạng chiến thuật hoặc biện pháp kiểm soát – kỹ thuật canh tác, sức đề kháng
của cây, biện pháp hóa học hoặc sinh học – một cách hài hòa. Những công tác xử
lý được căn cứ trên công tác kiểm tra dịch bệnh thường xuyên.
Biện pháp tổng hợp phòng trừ dịch hại dựa vào những chiến lược sinh thái có
tính kỷ luật cao để cân nhắc hiệu quả của từng chiến thuật, như là một phần của hệ
canh tác nông nghiệp, trong việc làm giảm ít nhất thiệt hại năng suất và sự xáo
trộn trong sản xuất.
Không có chiến lược phòng trừ dịch hại nào làm gia tăng tiềm năng năng
suất. Những chiến lược như thế chỉ có thể khẳng định rằng năng suất sinh học tối
đa có thể đạt được trong một mùa và ở trên một cánh đồng đặc biệt sẽ không bị
giảm năng suất đáng kể do dịch hại.

* Giảm phân:
Theo đánh giá của các nhà khoa học có sự biến động rất lớn về nguồn đạm
được bổ sung trong đất ruộng nông dân, mức bón đạm theo qui trình nông dân
cũng thay đổi rất lớn tùy từng ruộng. Sự thay đổi mức đạm bón vào và N được
cung cấp cũng thay đổi rất lớn từ vụ này sang vụ khác, rõ ràng là nông dân chỉ chú
trọng vào phân đạm (bón đạm rất cao 100 – 135 kg/ha) vì nó là yếu tố dễ thấy
trong khi đó thường xem nhẹ vai trò của lân và kali cùng các nguyên tố vi lượng
khác mà quên rằng hàng năm cây lúa lấy đi từ đất một lượng rất lớn các chất dinh
dưỡng trong đất. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy thoái đất trầm
trọng hiện nay và ngày càng nghiêm trọng hơn khi đất trồng lúa sản xuất 3 vụ/năm
rất phổ biến.
Một thực tế nữa là khả năng hấp thu đạm vào ruộng nông dân chỉ đạt
30 – 40% so với tổng số đạm bón vào đất. Điều này đồng nghĩa với việc hàng năm
lượng phân đạm bị mất đi do bốc hơi, thẩm thấu… nên lãng phí rất lớn.
Cũng như các cây trồng khác, cây lúa cần 16 chất trong không khí, nước, đất,
nhưng bắt buộc phải trả lại cho đất: Đạm (N), lân (P), kali (K). Nông dân thấy bón
Ure là lúa xanh nên không chịu bón NPK, dẫn đến ba tác hại:
- Đất bị huy động hết P và K nên mùa này bón 120 kg/ha thì mùa sau phải
bón bù 140 kg/ha lúa mới xanh
12
- Bón nhiều Ure thì tán lá xanh tốt nhưng thân mảnh khảnh, chống bệnh yếu,
còn dễ bị đổ ngã, ngã thì dưỡng chất đi lên bị trở ngại, hạt gạo dễ bị bạc bụng
- Tán lá to thì có những chồi ăn hại không trổ bông nhưng cũng tham gia ăn
phân
Thêm vào đó, nếu bón N với liều lượng cao trong điều kiện nhiệt độ và ẩm
độ cao là yếu tố góp phần đáng kể tới sự xuất hiện bệnh vàng lá lúa.
Vấn đề mấu chốt ở đây chính là điều chỉnh lượng phân cho phù hợp theo khả
năng cung cấp dinh dưỡng từ đất là yếu tố then chốt để đạt năng suất cao và ổn
định. Trên quan điểm đó 3 giảm 3 tăng khuyến cáo rằng:
– Bón cân đối phân lân và phân kali theo từng mùa vụ và loại đất

III. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KHI ỨNG DỤNG KHOA
HỌC KỸ THUẬT VÀO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1. Hiệu quả xã hội
Xem xét việc ứng dụng khoa học kỹ thuật có mang lại một số kết quả sau:
– Nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân
– Tạo việc làm, giảm bớt lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp, hạn chế tệ
nạn xã hội trong nhân dân
2. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được xem xét thông qua:
– Tính lâu dài và bền vững của môi trường
– Môi trường sinh thái có được cân bằng trong mô hình khoa học kỹ thuật
mới không
– Chất lượng nguồn nước trong vùng
– Lượng thuốc hóa học được người dân sử dụng trong vùng
3. Các tỷ số tài chính
– Thu nhập: là số tiền mà người sản xuất thu được sau khi bán sản phẩm.
Thu nhập = Sản lượng * Đơn giá
– Tổng chi phí: là tất cả các khoản đầu tư mà nông hộ bỏ ra trong quá trình
sản xuất và thu hoạch. Bao gồm: chi phí giống, phân bón, thuốc hóa học, chi phí
thuê lao động, chi phí vận chuyển, chi phí nhiên liệu, năng lượng dùng trong sản
xuất, chi phí thu hoạch…
– Thu nhập ròng: là khoảng chênh lệch giữa thu nhập và tổng chi phí.
Thu nhập ròng = Thu nhập – Tổng chi phí
14
– Lao động gia đình: là số ngày công lao động mà người trực tiếp sản xuất
bỏ ra để chăm sóc cây trồng hay vật nuôi. Lao động gia đình được tính bằng đơn
vị ngày công (mỗi ngày công được tính là 8 giờ lao động).
Để tính toán hiệu quả kinh tế, ta so sánh các tỷ số tài chính sau:
– Thu nhập trên chi phí (TN/CP): Tỷ số này phản ánh một đồng chi phí đầu
tư thì chủ thể đầu tư sẽ thu được bao nhiêu đồng thu nhập. Nếu chỉ số TN/CP nhỏ

III. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Các phương pháp phân tích được sử dụng trong bày viết được thao tác trên
các phần mềm Excel và SPSS. Các phương pháp phân tích được sử dụng trong bài
viết bao gồm:
1. Phân tích thống kê mô tả
Thống kê là một hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập
làm cơ sở để phân tích và kết luận. Các đại lượng thống kê mô tả chỉ được tính với
các biến định lượng.
2. Phân tích tần số
Kết quả phân tích tần số được thể hiện dưới dạng bảng tần số, bảng này
trình bày với tất cả các biến kiểu số (định tính và định lượng). Việc xác định tần số
của mỗi giá trị được thực hiện bằng cách đếm số quan sát rơi vào giá trị đó. Phân
tích tần số cho ta thấy mức độ tập trung của các giá trị giúp ta có cái nhìn tổng
quan về các quan sát.
3. Phân tích hồi qui tương quan
Mục đích của phương pháp hồi qui tương quan là ước lượng mức độ liên hệ
(tương quan) giữa các biến độc lập (các biến giải thích) đến biến phụ thuộc (biến
được giải thích), hoặc ảnh hưởng của các biến độc lập với nhau (các yếu tố nguyên
nhân). Phương pháp này được ứng dụng trong kinh doanh và kinh tế để phân tích
mối liên hệ giữa hai hay nhiều biến ngẫu nhiên.
Mục tiêu phân tích mô hình: nhằm giải thích biến phụ thuộc (Y: biến được
giải thích) bị ảnh hưởng bởi nhiều biến độc lập X
i
(X
i
: còn được gọi là biến giải
thích).
Phương trình hồi qui tương quan có dạng:
Y = a + b
1

Ngày
b
1
, b
2
,.. b
i
: gọi là hệ số hồi qui riêng. Hệ số hồi qui riêng cho biết ảnh hưởng
từng biến độc lập lên giá trị trung bình của biến phụ thuộc khi các biến còn lại
được giữ cố định.
b
1
, b
2
,… b
i
cho biết khi biến x
1
, x
2
… x
i
tăng (hay giảm) 1 đơn vị thì trung
bình của Y sẽ thay đổi (tức là tăng hay giảm) bao nhiêu đơn vị, với điều kiện các
biến khác không đổi.
Hệ số tương quan bội R: (Multiple Correlation Coefficient) nói lên tính chặt
chẽ của mối quan hệ giữa biến phụ thuộc (Y) và biến độc lập (x
i
).
Hệ số xác định R

từng nhân tố đến phương trình.
4. Phân tích bảng chéo (Crosstab)
Định nghĩa: Phân tích bảng chéo là một kỹ thuật thống kê mô tả hai hay ba
biến cùng lúc và bảng kết quả phản ánh sự kết hợp hai hay nhiều biến có số lượng
hạn chế trong phân loại hoặc trong giá trị phân biệt.
Phân tích bảng chéo 2 biến: còn gọi là bảng tiếp liên, mỗi ô trong bảng chứa
đựng sự kết hợp phân loại của 2 biến.
17
Kiểm định Chi–Square (Chi–Square Test of Independence) trong phân tích
bảng chéo: Kiểm định này được sử dụng để kiểm tra xem có mối quan hệ giữa 2
yếu tố nghiên cứu trong tổng thể. Kiểm định này còn gọi là kiểm định độc lập.
Kiểm định này phù hợp khi 2 yếu tố nghiên cứu là biến định tính hay định
lượng rời rạc.
Cơ sở lý thuyết:
Giả thuyết H
0
: hai biến độc lập nhau
Giả thuyết H
1
: hai biến có liên hệ nhau
Mức ý nghĩa quan sát thường được gọi là P–value hay Sig.F, với độ tin cậy
95%, nguyên tắc quyết định là:
Bác bỏ giả thuyết H
0
nếu: Sig.F < 0,05
Chấp nhận giả thuyết H
0
nếu: Sig.F ≥ 0,05
5. Kiểm định phi tham số
Kiểm định phi tham số là kiểm định ít đòi hỏi các giả thuyết về phân phối

số liệu với nhau và có thể ước lượng được trung bình của sự khác biệt đó giữa 2
tổng thể.
Đặt giả thuyết:
H
0
: không có sự khác biệt giữa 2 tổng thể
H
1
: có sự khác biệt giữa 2 tổng thể
Với mức ý nghĩa 5%, nguyên tắc quyết định là:
Bác bỏ giả thuyết H
0
nếu: Sig.F < 0,05
Chấp nhận giả thuyết H
0
nếu: Sig.F ≥ 0,05
7. Phân tích so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hoạt
động kinh tế, phương pháp này đỏi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện có tính
so sánh được để xem xét, đánh giá, rút ra kết luận về hiện tượng, quá trình kinh tế.
Có 3 phương pháp so sánh:
– So sánh số tuyệt đối: Số tuyệt đối là biểu hiện quy mô, khối lượng, giá trị
của một chỉ tiêu kinh tế nào đó trong thời gian, địa điểm cụ thể.
– So sánh số tương đối: Mục đích của phương pháp này là so sánh hai chỉ
tiêu cùng loại hay khác nhau nhưng có liên hệ nhau để đánh giá sự tăng lên hay
giảm xuống của một chỉ tiêu nào đó qua thời gian.
– So sánh bằng số bình quân: Số bình quân là biểu hiện mức độ chung nhất
về mặt lượng của các đơn vị bằng cách sang bằng mọi chênh lệch trị số giữa các
đơn vị đó, nhằm khái quát đặc điểm điển hình của một tổ, một bộ phận hay một
tổng thể các hiện tượng có cùng tính chất.

2006) gồm có 15 xã và một thị trấn. Huyện Mỹ Tú nằm ở phía Tây sông Hậu, tiếp
giáp giữa vùng mặm và vùng ngọt. Toàn huyện nằm trên tọa độ địa lý 9
0
52 – 9
0
78
vĩ độ Bắc và 105
0
74 – 106
0
kinh Đông, giáp ranh với 7 huyện, thị khác nhau trong
khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long.
20
- Phía Đông tiếp giáp với thị xã Sóc Trăng và huyện Kế Sách
- Phía Tây tiếp giáp với huyện Thạnh Trị và huyện Long Mỹ (thuộc tỉnh Hậu
Giang)
- Phía Nam tiếp giáp với huyện Mỹ Xuyên và huyện Thạnh Trị
- Phía Bắc tiếp giáp với huyện Kế Sách và huyện Phụng Hiệp (thuộc tỉnh
Hậu Giang)
Dân số toàn huyện là 208.351 người (Niên giám thống kê huyện Mỹ Tú, tỉnh
Sóc Trăng, 2004), trong đó thành thị chiếm 3,25%, dân tộc Kinh chiếm 64,58%,
Hoa chiếm 2,70%, Khmer chiếm 37,27%. Dân số phân bố không đồng đều, tập
trung nhiều trong khu vực nông thôn chiếm 96,75%. Thu nhập bình quân đầu
người đạt 299USD/người/năm, thu nhập trung bình khoảng 7,44 triệu đồng/lao
động/năm.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế tập trung nhiều ở khu vực I (khu vực nông, lâm,
ngư nghiệp) chiếm 72,23%. Đất sử dụng cho nông nghệp của huyện Mỹ Tú là
49.163,81 ha (trong đó đất trồng lúa chiếm 39.733,08 ha), đất lâm nghiệp chiếm
5.472,20 ha, đất chuyên dùng chiếm 3.219,81 ha, đất chưa sử dụng chiếm 269,87
ha (Phòng Tài nguyên và môi trường, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, 2005). Tài

Nhiệt độ trung bình: 26,7
0
C
Nhiệt độ cao tối đa trung bình: 31,1
0
C
Nhiệt độ thấp tối đa trung bình: 23,8
0
C
Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 16,2
0
C
Tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm là tháng 4, khoảng 31,7
0
, tháng có
nhiệt độ thấp nhất trong năm là tháng 1, khoảng 26,4
0
.
Tổng tích ôn 9,320
0
C, nhiệt độ này là điều kiện rất thuận lợi cho việc sinh
trưởng và phát triển của các loại cây trồng.
* Độ ẩm: xã Phú Tâm có ẩm độ khá cao với ẩm độ trung bình là 83,4%. Mùa
khô có ẩm độ thấp, khoảng 51% vào tháng 4, mùa mưa có gió mùa Đông Bắc làm
ẩm độ tăng lên khoảng 88%. Lượng nước bốc hơi hàng năm là 1.215 mm, tháng có
lượng nước bốc hơi cao nhất là tháng 3 đạt 165 mm, tháng có lượng nước bốc hơi
thấp nhất là tháng 10 khoảng 55 mm. Lượng bốc hơi nước phân bố không đồng
đều giữa các tháng trong năm.
* Lượng mưa: mưa là điều kiện lớn cần thiết cho cây trồng nhưng lượng mưa
phân bổ không đồng đều, tập trung chủ yếu vào các tháng 8 đến tháng 10 hàng

Phụng Hiệp, sông Sóc Trăng và sông Nhu Gia và các công trình thủy lợi điều tiết
tưới nước của Huyện được xây dựng trong những năm gần đây nên nhìn chung
nguồn nước tại xa Phú Tâm khá dồi dào, lưu lượng lớn rất thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp và trồng các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao.
– Đặc điểm thủy văn:
Do tác động của chế độ bán thủy triều nên tình hình thủy văn của xã Phú
Tâm diễn ra khá phức tạp. Trong năm ngập 2 lần, thường diễn ra vào tháng 10, 11
với diện tích bị ngập khoảng 750 ha, chiếm 21% diện tích đấ phù sa không bị
nhiễm mặn, phèn, tập trung vào 6 ấp trong 10 ấp của xã.
2. Điều kiện kinh tế xã hội của xã Phú Tâm
24
2.1. Phát triển kinh tế
Nền kinh tế của xã phát triển với tốc độ cao và tương đối ổn định. Tuy nhiên,
cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo chiều hướng tăng dần tỷ trọng khu vực I nhiều hơn
(từ 67,78% năm 1996 lên 72,25% năm 2002), khu vực II và khu vực III mặc dù có
phát triển nhưng với tốc độ không cao và không ổn định và có xu hướng giảm dần
từ 16,8% năm 1996 xuống còn 13,33% năm 2002 (khu vực II).
Có thực trạng này là do nhiều nguyên nhân, nhưng nhìn chung là do ngân
sách của xã còn hạn chế, sự quan tâm đầu tư chưa đúng mức đến cơ sở hạ tầng
nông thôn của huyện, tỉnh cũng như Trung ương đối với xã còn yếu và không liên
tục.
Việc xây dựng cơ bản của xã chủ yếu là do nguồn vốn của người dân nên
đây là điều khó khăn cho phát triển cơ sở hạ tầng của xã. Đối với người dân, đặc
biệt là người dân sống ở nông thôn luôn gặp nhiều khó khăn về vốn để sản xuất.
Vì trách nhiệm và đôi lúc bị thúc ép nên người dân phải góp vốn vào việc xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn làm cho cuộc sống của người dân càng khó khăn
hơn. Tuy nhiên, với cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển sẽ thúc đẩy nền kinh tế địa
phương phát triển, cuộc sống người dân thoải mái hơn và tạo điều kiện thuận lợi
cho việc vận chuyển cũng như đi lại của người dân.
2.2. Dân số và lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status