PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi bò là một nghề lâu đời của ngành nông nghiệp thế giới, và
là ngành mang lại thu nhập cao cho người nông dân. Thịt bò là loại thịt có
nhiều dinh dưỡng, là loại thực phẩm được ưa chuộng và được sử dụng ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới. Bò dễ chăm sóc và nuôi dưỡng, thích nghi
trong các điều kiện môi trường chăn nuôi khác nhau, thức ăn cho bò là các
loại cỏ, các sản phẩm phụ từ trồng trọt, nguồn thức ăn cho bò có ở mọi nơi
trên trái đất.
Ở Việt Nam, chăn nuôi bò có vai trò quan trọng với người nông dân,
việc phát triển chăn nuôi bò không những làm tăng sản phẩm cho xã hội mà
còn góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (lao động, đất
đai, vốn…), tăng thu nhập cho nông hộ, tham gia vào chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo. Chăn nuôi bò là cơ sở
để phát huy triệt để các tiềm năng sẵn có cùng các lợi thế so sánh của vùng,
đặc biệt là vùng trung du miền núi, làm đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp,
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, bền vững. Chăn nuôi bò
còn cung cấp sức kéo, sức cày và một lượng lớn phân bón cho ngành trồng
trọt. Chính vì lẽ đó mà chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi bò đang là định
hướng xóa đói giảm nghèo và thích ứng với khu vực trung du và miền núi
nước ta.
Thực tế nước ta trong khuôn khổ của chương trình phát triển chăn
nuôi quốc gia KN.02.06 và dự án phát triển chăn nuôi bò thịt VIE86/008,
nhiều thí nghiệm theo dõi về khả năng phát triển của bê lai hướng thịt đã
được triển khai. Bê lai hướng thịt có khả năng tăng 568g/ngày vào lúc 15
tháng tuổi trên cơ sở khẩu phần ăn có bổ sung. Sử dụng nguồn thức ăn là phế
phụ phẩm nông nghiệp để vỗ béo bò lai hướng thịt đã đạt tăng trọng
800g/ngày ở tháng vỗ béo thứ nhất [5]. Tuy nhiên cho đến nay tỷ trọng về số
lượng bê lai hướng thịt so với tổng đàn bò trong toàn quốc vẫn còn chiếm
một tỷ lệ thấp.
theo hình thức nuôi vỗ béo.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Các khái niệm về hiệu quả
2.1.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả của hoạt động sản xuất,
nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh, phản ánh tương
quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính. Là chỉ
tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh
doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa với chi phí tối thiểu. Tuỳ theo
mục đích đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác
nhau như năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của
sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn, … Chỉ tiêu tổng hợp
thường dùng nhất là doanh lợi thu được so với tổng số vốn bỏ ra. Trong
phạm vi nền kinh tế quốc dân, chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là tỉ trọng thu nhập
quốc dân trong tổng sản phẩm xã hội. Trong nhiều trường hợp, để phân tích
các vấn đề kinh tế có quan hệ chặt chẽ với các vấn đề xã hội, khi tính hiệu
quả kinh tế, phải coi trọng hiệu quả về mặt xã hội (như tạo thêm việc làm và
giảm thất nghiệp, tăng cường an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố
sự đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, và sự công bằng xã hội),
từ đó có khái niệm hiệu quả kinh tế - xã hội [4].
2.1.2. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
sản xuất xã hội nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định [4].
Hiệu quả xã hội đem lại như: Việc làm, mức tăng về GDP do tác động
của dự án, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ
hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái[1]. Hiệu quả xã hội được
phân tích trên lợi ích của toàn xã hội để xem xét sự phát triển chung của xã
hội như mức tăng trưởng, sự công bằng xã hội và sự phát triển cộng đồng và
hộ làm việc một cách tự chủ, tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân và gia
đình mình. Mặt khác, kinh tế nông hộ nhìn chung là nền sản xuất nhỏ mang
tính tự cấp tự túc hoặc sản xuất hàng hoá với năng suất lao động thấp nhưng
lại có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp ở các
nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng [1].
Tài sản của hộ hay kinh tế hộ ảnh hưởng lớn tới việc đầu tư của hộ
vào một lĩnh vực nào đó, trong sản xuất nông nghiệp thì vốn, đất đai và nhân
lực là những yếu tố không thể thiếu để đầu tư phát triển. Sự phát triển của xã
4
hội đang đòi hỏi nông thôn cần phải chuyển mình và thật khó để chuyển giao
kỹ thuật hay tiến bộ khoa học nếu chúng ta không nắm vững về hộ và kinh tế
hộ, các tài sản của hộ để đầu tư hợp lý và phát triển bền vững.
2.3. Các hình thức chăn nuôi bò hiện nay
Căn cứ vào mức độ đầu tư cho chăn nuôi hiện nay có thể chia thành 5
phương thức chăn nuôi chính: phương thức thả rông, chăn thả, bán chăn thả,
bán thâm canh, thâm canh [2].
2.3.1. Phương thức thả rông
Đây là phương thức chăn thả truyền thống, lâu đời của người dân phản
ứng trình độ lạc hậu trong sản xuất. Với phương thức này, người chăn nuôi
hạn chế đến mức thấp nhất việc đầu tư chi phí, chủ yếu tận dụng diện tích
đồng cỏ và thảm thực vật tự nhiên. Gia súc được khoanh vùng cô lập, ăn cỏ
và trú ẩn dưới cây che bóng. Mức độ đầu tư chỉ dừng lại ở chi phí giống và
công thăm nuôi định kỳ, công vận chuyển đàn. Phương thức này khá phổ
biến trong một thời gian dài tại đồng cỏ lớn, đặc biệt là ở khu trung du, miền
núi, và vùng sâu, nơi sản xuất chưa thực sự phát triển. Đây là phương thức
chăn nuôi kém bền vững nhất xét cả mặt kinh tế, xã hội lẫn môi trường môi
sinh, rủi ro cao và tác động kìm hãm đến các ngành kinh tế khác như: bò phá
rẫy, nương trồng trọt của người dân. Hiện nay cùng với sự phát triển của mặt
bằng dân trí, phương thức này đã bị thu hẹp đáng kể, đặc biệt là sau khi quy
định cấm chăn nuôi thả rông gia súc của nhà nước ban hành [2].
hàng trăm con. Có thể nói, đây là phương thức chăn nuôi bò tiến bộ nhất tính
thời điểm hiện nay. Nguồn thức ăn tự nhiên được chuyển từ thức ăn chủ yếu
sang nguồn thức ăn bổ sung. Thay vào đó các hộ chăn nuôi đã đầu tư các loại
thức ăn tinh như: cám gạo, bột sắn và các chế phẩm công nghiệp như: rỉ mật,
urê, thức ăn khoáng… Mức đầu tư còn thể hiện ở khâu kiến thiết chuồng trại
kiên cố, đúng quy trình kỹ thuật, lai tạo giống mới, chăm sóc theo đối
tượng… Với chủ trương lai hoá đàn bò nuôi, phương thức này đang khuyến
khích mở rộng các tỉnh thành của cả nước. Mặc dù chi phí chăn nuôi cao hơn
phương thức cũ nhưng chất lượng bò nuôi đã đáp ứng nhu cầu càng cao của
thị trường. Hình thức này thể hiện năng lực sản xuất của các hộ dân đã và
đang cải thiện đáng kể [9].
2.3.5. Phương thức nuôi thâm canh
Là phương thức nuôi nhốt hoàn toàn, nguồn thức ăn chủ yếu được
cung cấp ngay tại chuồng. Phương thức này áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
mới, và hiện nay được áp dụng phổ biến tại các trang trại với quy mô nuôi
lớn và các hộ gia đình với quy mô từ 1 - 2 con. Phương thức này thường áp
6
dụng ở những nơi dân cư đông, không có nơi chăn thả, hoặc tận dụng phân
chuồng làm BIOGA [9].
2.4. Kỹ thuật vỗ béo đàn bò
Theo Trung tâm khuyến nông tỉnh Quảng Bình, các bước cần thực hiện để
tiến hành vỗ béo là:
2.4.1. Phân loại bò để vỗ béo
Những con bò không sử dụng để cày kéo, vắt sữa, sinh sản, bò gầy do
thiếu dinh dưỡng được phân nhóm theo tuổi, giống, giới tính, thể trạng, tầm
vóc.
Chọn bò để vỗ béo: bò lý tưởng để nuôi vỗ béo là bò có bộ khung cơ thể
càng lớn càng tốt. Loại bò này sẽ đạt được tốc độ tăng trọng khá nhanh. Thời
gian cần thiết vỗ béo bò chỉ cần khoảng 2 tháng. Bò cái loại càng gầy, càng
xấu có thể mang lại nhiều lợi nhuận ở giai đoạn đầu vỗ béo vì tiêu tốn thức
phải bổ sung tại chuồng nuôi, trong đó phải lưu ý đến thức ăn tinh.
Nhu cầu thức ăn và năng lượng vỗ béo bò: Để bò có tốc độ lớn nhanh
nhất thì lượng thức ăn đảm bảo năng lượng cao được ăn vào hàng ngày là
2,5% trọng lượng cơ thể. Ví dụ, bò nặng 200kg cần khoảng 5kg vật chất khô
trong một ngày, còn thức ăn thô xơ khoảng 15 - 20kg. Khẩu phần hoàn chỉnh
là đủ tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho bò. Bò có thể tự do lựa chọn
sau khi đã trộn lẫn hoàn toàn cả hai loại thức ăn tinh và thô với nhau.
Phương pháp cho ăn và tập cho bò ăn thức ăn tinh vô cùng quan trọng. Lúc
đầu nên cho bò ăn nhiều thức ăn thô xanh, ít thức ăn tinh để bò làm quen với
khẩu phần năng lượng cao. Nếu ngay từ đầu bò ăn nhiều thức ăn tinh có thể
bị chết do ngộ độc axít (acidosis). Thức ăn thô xanh cần sử dựng kết hợp với
thức ăn tinh để tạo ra một khẩu phần ăn hoàn chỉnh. Bò bị bệnh thông
thường phải điều trị khỏi bệnh trước khi đưa vào vỗ béo.
Thức ăn dùng vỗ béo bò bao gồm: thức ăn thô xanh, phụ phẩm, thức
ăn tinh, thức ăn bổ sung khoáng và vitamin. Căn cứ vào nguồn thức ăn sẵn
có để lựa chọn các nguyên liệu chính như sau:
* Thức ăn thô xanh: Các loại cỏ, thức ăn ủ chua, phụ phẩm nông
nghiệp, phụ phẩm công nghiệp (bã bia, rượu, rỉ mật, bã đậu, bã dứa, vỏ hoa
quả) chiếm 55-60% vật chất khô trong khẩu phần.
* Thức ăn tinh: Các loại hạt ngũ cốc, họ Đậu, cám (cám gạo, cám
mỳ ), các loại khô dầu, thức ăn hỗn hợp chiếm 40-45% vật chất khô trong
8
khẩu phần. Trên cơ sở các loại nguyên liệu thức ăn trên, bổ sung khoáng và
vitamin phối hợp thành khẩu phần hoàn chỉnh để vỗ béo bò theo 4 công thức.
Bảng1: Công thức phối trộn thức ăn vỗ béo đàn bò
Nguyên liệu
Công thức
1 2 3 4
Sắn lát (%) 40 40 50 50
Bột ngô (%) 10 10 10 10
Chuồng trại: Mục tiêu là để thuận lợi cho công tác nuôi dưỡng, quản
lý đàn bò. Xây dựng chuồng nuôi bò thịt phụ thuộc vào qui mô chăn nuôi hộ
gia đình hay trang trại, phương thức chăn nuôi là nuôi thả hay nuôi nhốt,
nhưng chú ý phải được xây dựng ở những nơi cao ráo, sạch sẽ, thoáng mát
về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hướng chuồng xây theo hướng Nam hoặc
Đông Nam, diện tích chuồng nuôi bình quân 3-5 m2/ con. Tuỳ theo qui mô
mà chuồng có thể xây dựng 1 dãy hoặc 2 dãy. Nền chuồng phải làm chắc,
không láng trơn, có độ dốc 2-3% về phía rãnh thoát. Cần trang bị máng ăn,
máng uống dọc theo hành lang, kích thước máng ăn 60 cm x 120 cm, cao
phía sau 80 cm, cao phía trước 50 cm, trong lòng máng hình lòng mo. Kích
thước máng uống dài x rộng x sâu là 60 cm x 60 cm x 40 cm. Rãnh thoát
nước thải thiết kế phía sau rộng 30 cm, sâu 30 cm, độ dốc 5-8%. Ngoài ra
cần bố trí thêm hố ủ phân hoặc hầm biogas, hệ thống rèm che cách tầm bò
với 1-1,5m, hệ thống cây xanh chống nóng cho bò trong mùa hè, vv.
2.4.5. Vệ sinh thú y
Vệ sinh phòng bệnh: Thực hiện phương châm “Phòng bệnh hơn chữa
bệnh”. Chuồng trại, máng ăn, máng uống, môi trường xung quanh và cơ thể
bò phải luôn được sạch sẽ. Định kỳ tẩy uế chuồng trại, khu vực xung quanh
chuồng nuôi, phát quang bờ bụi, khơi thông cống rãnh, thu gom xử lý chất
thải. Tích cực diệt chuột, dán, ve, ruồi muỗi, hạn chế tối đa các động vật
trung gian truyền bệnh vào khu vực chăn nuôi bò. Thức ăn nước uống phải
đảm bảo sạch sẽ, an toàn vệ sinh. Thường xuyên kiểm tra theo dõi đàn bò khi
có dấu hiệu biểu hiện không bình thường cần can thiệp ngay, định kỳ tẩy nội,
ngoại ký sinh trùng cho bò, nhất là bò trước khi vỗ béo. Đồng thời tiêm
vacxin phòng bệnh đầy đủ các loại bệnh bắt buộc cho bò 2 lần / năm như:
bệnh tụ huyết trùng trâu bò, lở mồm long móng,
Chuồng nuôi phải được làm vệ sinh hàng ngày và phải được khử trùng
định kỳ theo chế độ phòng bệnh của thú y.
10
Sau khi xuất toàn bộ vật nuôi phải tiến hành khử trùng toàn bộ chuồng
và tận dụng tối ưu các phế phụ phẩm nông, công nghiệp để phát triển chăn
11
nuôi bò. Các nghiên cứu về khả năng thích nghi của các bê lai hướng thịt và
các nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp kinh tế để phát triển chăn nuôi bò.
- Nghiên cứu nhằm cải tạo chất lượng đàn bò.
Theo TS. Hoàng Mạnh Quân : Đàn bò vàng Việt Nam có khả năng
chống chịu bệnh và chịu đựng kham khổ tốt, có sức vóc dẻo dai nhưng lại có
nhược điểm là tầm vóc quá nhỏ, tăng trọng kém, chất lượng thịt không cao.
Do vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến sức kéo, khối lượng và chất lượng thịt, đó
là các yếu tố rất cần thiết cho trồng trọt, đời sống và xuất khẩu [7].
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều đến việc cải tạo đàn
bò và có nhiều giống bò dùng để lai với bò vàng tạo ra con lai có sức khỏe
và chất lượng tốt, trong đó giống bò Sind được lựa chọn nhiều nhất vì giống
bò này có nhiều ưu điểm như tầm vóc lớn, tốc độ tăng trọng nhanh, chất
lượng thịt tốt Công tác nâng cao tầm vóc đàn bò thông qua chương trình
“Sind hóa” có thể coi là bước tạo nền tảng cho việc thực hiện các công thức
lai tiếp theo nhằm nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò nội. Các nghiên
cứu thăm dò cho lai giữa bò cái lai Sind với các giống bò thịt như Charolais,
Santa Gertrudis và Limousine được thực hiện từ những năm 1975-1978, do
Viện chăn nuôi chủ trì [7], tiến hành tại nông trường Đồng Giao, Ninh Bình.
Sau đó( từ năm 1982), các nghiên cứu về lai tạo lại tiếp tục được mở rộng ở
nông trường Hà Tam (Gia Lai), Bình Định và các vùng xung quanh Hà Nội.
Các kết quả nghiên cứu đều chỉ ra rằng khối lượng bò lai tăng khoảng 30-
35%, khả năng cho thịt tăng 5-8% và sức kéo tăng 1,2 lần so với bò nội [7].
Ở Trung Quốc việc sử dụng các loại phụ phế phẩm nông nghiệp để
nuôi bò thịt đã được phổ biến từ những năm 1980. Trong năm 1992 có tới 6
triệu tấn rơm ủ urê được dùng làm thức ăn cho bò lấy thịt. Lượng rơm ủ urê
được sử dụng từ 2-4kg cho mỗi đầu gia súc/ngày đêm. Ngoài ra khô dầu
bông cũng được sử dụng để vỗ béo bò. Việc sử dụng các phế phụ phẩm nông
nghiệp để nuôi bò thịt ở Trung Quốc đã mang lại lợi nhuận từ 300-524 nhân
hoạt động tham gia vào quá trình tích lũy cơ thể. Bên cạnh đó nguồn ni tơ
phi protein là urê cũng đã góp phần làm tăng giá trị của khẩu phần, giúp cho
bò tăng trọng nhanh.
Tăng trọng bình quân đạt ở tháng thứ nhất là khá cao, hay cao hơn cả
thí nghiệm trên bò lai hướng thịt. Có thể giả thiết rằng sự tăng trọng cao này
gây ra bởi một quá trình phát triển hoàn thiện về tầm vóc ở những bò quá
già.
13
Tăng trọng bình quân/ngày của bò thí nghiệm ở tháng thứ 2 là 883g, cao hơn
so với tháng thứ nhất (810g). Điều này có thể giải thích rằng: Tăng trọng ở
tháng thứ nhất là kết quả của “quá trình phát triển bù” sau một thời gian cơ
thể rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Tuy nhiên mức độ của quá trình phát
triển bù lệ thuộc vào nhiều yếu tố. Trước hết ta xét về mức độ thời gian, tuổi
bình quân của bò thí nghiệm là hơn 9 năm. Với một độ dài thời gian như vậy
trong hoàn cảnh thiếu dinh dưỡng, để lấy lại mức độ tăng trọng tối đa cần
phải có một khoảng thời gian hơn 1 tháng. Mặt khác xét về cường độ của sự
thiếu dinh dưỡng thì hầu hết các gia súc trên đều bị suy dinh dưỡng ở mức
độ trầm trọng. Điều này được chứng minh qua ngoại hình của gia súc trước
khi đưa vào thí nghiệm. Những khía cạnh về độ dài và cường độ của quá
trình suy dinh dưỡng đã ủng hộ cho kết quả tăng trọng ở tháng thứ hai cao
hơn tháng thứ nhất bình quân là 73g một ngày.
+ Hiệu quả về kinh tế
Hiệu quả kinh tế thu được từ khi bắt đầu đến khi kết thúc thí nghiệm
được trình bày ở trên bảng 3.
Từ bảng 3 chúng tôi thấy:
* Vỗ béo bò loại thải bằng nguồn thức ăn là phế phụ phẩm công nông
nghiệp sẵn có tại địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế cao: Bình quân mỗi
bò đưa vào vỗ béo trong 60 ngày đã thu được lãi thực tế là 234.880đ.
* Bò vỗ béo không những năng suất thịt tăng mà giá trị hàng hóa của
sản phẩm thịt cũng được nâng cao. Giá bán 1kg thịt bò tăng từ 8000-9000đ.
Bột sắn 85 65 44 70
Bột ngô 0 25 50 0
Cám gạo 0 0 0 20
Bột cá 10 5 0 5
Ure 3 3 3 3
Muối 1 1 1 1
Bột xương 1 1 2 1
Tổng 100 100 100 100
(Nguồn: Trần Sáng Tạo, 2010)
Tùy theo nguyên liệu sẳn có địa phương và giá thành các loại nguyên
liệu để chọn công thức dễ áp dụng và có giá rẻ nhất.
15
- Kỹ thuật chăm sóc nuôi bò vỗ béo[8].
+ Tẩy ký sinh trùng cho bò trước khi vỗ béo.
+ Trộn thức ăn tinh thật nhiều vào và đảo nhiều lần( đặc biệt là ure),
thức ăn trộn đến đâu dùng tới đó, thức ăn không bị ôi thiu. Nên trộn cho mỗi
lần ăn từ 7-10 ngày.
+ Phương pháp cho bò ăn thức ăn tinh: tập ăn thức ăn tinh cho bò
khoảng 1-5 ngày, cho ăn từ ít tới nhiều, tăng dần lượng thức ăn tinh khi bò
đã thích ăn.
+ Cho uống nước sạch với máng uống nước riêng, luôn luôn có nước
sạch trong máng.
+ Cung cấp thức ăn xanh mỗi ngày từ 8- 10 kg.
+ Không chăn thả ngoài đồng trong thời kỳ vỗ béo.
+ Phải có chuồng nhốt bò trong thời kỳ vỗ béo, nền chuồng láng bằng
xi măng để dễ dọn vệ sinh.
- Công thức tính trọng lượng bò: P = ( VN*VN*DTC) * 90
P: là trọng lượng hơi ( kg), VN là chiều đo vòng ngực (m), DTC là
chiều đo dài thân chéo (m), 90 là hệ số.
16
- 30 hộ có chăn nuôi bò trong đó 18 hộ nuôi bò vỗ béo và 12 hộ nuôi bằng
hình thức khác.
17
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Tiến hành xin danh sách của xã về các hộ có nuôi bò sau đó phân ra
các hộ nuôi bò vỗ béo và các hộ nuôi bằng phương pháp khác, sau đó chọn
ngẫu nhiên 18 hộ bằng hình thức bốc thăm trong loại hộ nuôi bằng hình thức
vỗ béo. Và chọn ngẩu nhiên 12 hộ nuôi bằng hình thức khác để tiến hành
phỏng vấn hộ. Sau khi phỏng vấn các hộ nuôi bò vỗ béo được phân thành 2
nhóm hộ nghèo và không nghèo theo chuẩn nghèo của nhà nước hiện hành,
dựa trên tỷ lệ hộ nghèo của xã.
3.2.3. Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp và thu thập thông tin sơ cấp .
Hai phương pháp này sẽ được lồng ghép, bổ sung cho nhau để làm rõ hơn về
vấn đề nghiên cứu, cụ thể:
a. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
- Nghiên cứu tài liệu: Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có về hoạt
động chăn nuôi bò vỗ béo mà các nhà nghiên cứu khác đã thực hiện đã được
in thành sách, báo, tạp chí hoặc đăng tải trên internet.
- Các báo cáo của địa phương: Các báo cáo về tình hình chăn nuôi, kinh tế xã
hội và môi trường của xã Đức Hóa trong 3 năm trở lại đây sẽ được sử dụng
cho nghiên cứu này.
b. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn người am hiểu: Gặp và trao đổi trực tiếp đối với cán bộ xã, cán
bộ thú y và các cán bộ ban ngành có liên quan.
- Phỏng vấn hộ: Bằng bảng hỏi bán cấu trúc.
3.2.4. Phương pháp phân tích dữ liệu.
Số liệu thu thập sẽ được xử lý trên phần mềm Excel 2007.
3.2.5. Phạm vi nghiên cứu
3.2.5.1. Phạm vi về nội dung
người dân gặp rất nhiều khó khăn .
- Khí hậu
Đức Hóa mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông
lạnh, khô hanh; mùa hè nóng ẩm kết hợp với gió Tây Nam thổi mạnh từ
tháng 4 tới tháng 7 làm cho độ ẩm không khí thấp. Lượng bức xạ mạt trời
hàng năm khoảng 123 Kcal/cm2 /năm. Tổng số giờ nắng khoảng 1790
giờ/năm, tập trung nhiều từ tháng 5 đến tháng 9.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24
o
C, mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10
năm trước tới tháng 3 năm sau với nhiệt trung bình dưới 22
0
C , mùa nóng
kéo dài từ tháng 4 tới tháng 10 nhiệt độ trung bình trên 25
o
C.
Lượng mưa: tổng lượng mưa khá lớn, trung bình hàng năm là
2000mm. gió mùa đã gây ra hiện tượng mưa phùn và phân hóa lượng mưa
không đều. Mùa khô nóng có gió Tây Nam thổi từ tháng 4 tới tháng 7 mưa ít
chiếm khoảng 20- 24 % lượng mưa cả năm, từ tháng 8 đến hết tháng 11 mưa
20
nhiều chiếm tới 65-70% cả năm, vì vậy lũ lụt thường xảy ra vào giai đoạn
này trong năm. Số ngày mưa trung bình của xã là 169 ngày, tương đương với
toàn huyện.
Độ ẩm không khí tương đôi cao, trung bình từ 83% song nhìn chung
không ổn định. Vào mùa mưa, độ ẩm không khí cao hơn so với mùa khô từ
10-15%. Thời kỳ có dộ ẩm cao nhất của xã là cuối mùa Đông.
Gió: chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính. Mùa Đông thì chịu ảnh
hưởng của gió Động Bắc, mùa hè chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió Tây Nam
khô nóng .
- Tình hình dân số lao động
Vấn đề dân số và lao động là tài sản quyết định đến việc phát triển
kinh tế của địa phương. Nó vừa tạo tiềm lực phát triển, vừa cản trở việc phát
triển khi việc làm và đời sống nhân dân không được đảm bảo. Với ý nghĩa
đó tôi tiến hành điều tra cơ cấu dân số và lao động của xã Đức Hóa. Tổng số
hộ dân biến động trong 3 năm. Năm 2008, tổng số hộ 1280 và đến năm 2009
tổng số hộ là 1310 hộ, đến năm 2010 thì có 1330 hộ. Như vậy chúng ta có
thể thấy tốc độ tăng dân số địa bàn là nhanh.
Bình quân lao động/ hộ năm 2008 là 2,16 tới năm 2010 là 2,33 cho ta
thấy sự thay đổi là không lớn chứng tỏ rằng tỷ lệ người ngoài độ tuổi lao
động đang chiếm tỷ lệ cao, xấp xỉ với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động. Vì
vậy, cần có những chính sách phát triển kinh tế phù hợp.
Bảng 4 : Tình hình dân số lao động của xã Đức Hóa năm 2010
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính 2008 2009 2010
1 Tổng số hộ Hộ 1280 1310 1330
2 Tổng số nhân khẩu
Người
5,665 5,715 5,760
3 Tổng số lao động
Người
2,768 2,898 3,059
4 Bình quân nhân khẩu/
hộ
Người
4,43 4,36 4,33
5 Bình quân lao động/ hộ
Lao động
2,16 2,21 2,33
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội xã Đức Hóa 2008 - 2010)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cũng tương đương so với các vùng miền
1676
0
17381 + 702 + 621
1. Gia súc 2158 2340 2501 + 182 + 161
- Đàn trâu 134 135 127 + 1 - 8
- Đàn bò 802 982 1032 + 180 + 50
- Đàn lợn 1144 1135 1250 - 9 + 115
- Đàn dê 78 82 92 + 4 + 10
2. Gia cầm
1390
0
1442
0
14880 + 520 + 460
( Nguồn: Báo cáo kinh tế của xã giai đoạn 2008 – 2010 )
23
Qua bảng 5 ta thấy: năm 2008, tổng đàn gia súc và gia cầm của toàn
xã có 16058 con đến năm 2009 đã tăng thêm 702 con, tăng 4,372% so với
năm 2008. Trong tổng đàn, gia cầm chiếm tỷ lệ cao với 86,56%. Số lượng
gia cầm tăng nhanh qua các năm. Cụ thể năm 2008 tổng số gia cầm là 13900
con, đến 2009 số gia cầm tăng lên 14420 con, tăng 3,741% so với năm 2008.
Nhưng đến năm 2010 số lượng gia cầm tăng lên 460 con, tăng 3,19%
so với năm 2009 nên so với từ năm 2008-2009 thì tốc độ tăng đàn gia cầm bị
giảm. Nguyên nhân chính là cuối 2010 địa phương bị lũ lụt và rét hại kéo
dài. Nên làm cho các loại gia cầm giảm nhanh về số lượng.
Đối với đàn gia súc, số lượng gia súc năm 2009 tăng hơn so với 2008
từ 2158 con năm 2008 182 con, nhưng đến năm 2010 số lượng gia súc cũng
tăng tới 621 con tương đương 6,86% so với 2009 nhưng tốc độ tăng cũng bị
giảm nhẹ do thiên tai và bão lũ.
Dê là vật nuôi mới đưa vào nuôi tại địa bàn trong một vài năm lại đây
hình thiên tai diễn biến bất ngờ nên số lượng đàn bò tăng chậm, số hộ nuôi
không tăng.
Bảng 6: Tình hình phát triển chăn nuôi bò xã trong giai đoạn 2008-2010
Đvt: con
Chỉ tiêu 2008 2009 2010
2009/2008
(+/-)
2010/2009
(+/-)
Tổng đàn bò 802 982 1032 + 180 + 50
- Bò đực giống 85 103 115 + 18 + 12
- Bò cái sinh sản 423 445 458 + 22 + 13
- Bò thịt 294 434 459 + 140 + 25
Tổng số hộ nuôi 640 655 655 + 5 0
Số bò bình quân/
hộ
1,25 1,50 1,58
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tình hình chăn nuôi của xã Đức Hóa 2008-
2010 )
Số liệu bảng 6 cho thấy tổng đàn bò năm 2008 là 802 con tới năm
2009 là 982 con tăng 22,4% năm 2010 tăng lên 5% so với 2009 chứng tỏ tốc
độ tăng đàn bò đã giảm đi rất nhiều, cùng với sự biến động của số lượng bò
qua 3 năm thì số hộ nuôi cũng tương tự, tăng lên giai đoạn 2008-2009 còn
2009-2010 thì không tăng. Trong tổng số đàn bò thì bò cái sinh sản là chiếm
tỷ lệ cao nhất 52,74% tiếp theo là bò thịt 36,66% và bò đực giống chiếm
10,6%. Nhưng tốc độ của bò thịt là tăng nhanh trong giai đoạn 2008-2009.
Còn bò cái sinh sản thì tốc độ tăng không cao chỉ tăng thêm 22 con. Có thể
25